Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tế Liễu (Tế Liễu)

Tế Liễu (Tế Liễu)

Tải bản đầy đủ - 0trang

thì nàng sai đầy tớ nối nhau đi mời gọi về, bạn bè sinh vì vậy có người lấy đó để đùa cợt chế diễu.

Một hôm sinh tới nhà bạn uống rượu, thấy trong người mỏi mệt nên ra về, giữa đường ngã ngựa chết.

Lúc ấy mới đầu mùa hè, may mà quan tài vải liệm đã chuẩn bị đầy đủ cả, người làng mới bắt đầu

khâm phục Tế Liễu. Phúc lên mười tuổi thì bắt đầu đi học, nhưng sau khi cha chết lại đâm ra biếng

nhác không chịu đọc sách cứ trốn học đi chơi với đám trẻ chăn trâu. Nàng trách mắng cũng khơng

chừa, kế đánh đòn mà vẫn bướng bỉnh chứng nào tật ấy như cũ. Nàng khơng biết làm sao, bèn gọi vào

răn dạy, nói “Nếu ngươi khơng muốn học chữ thì làm sao ép được. Nhưng nhà ta nghèo, không ai

được ngồi ăn không. Ngươi phải thay quần áo, theo bọn đầy tớ làm lụng, nếu khơng thì ta đánh đòn

đừng trách". Rồi bắt mặc áo rách, sai đi chăn heo, về tới nhà thì phải xách nước nấu cơm, ăn uống như

đám tơi tớ.

Được vài hôm Phúc thấy khổ quá, tới quỳ trước sân khóc lóc, xin lại đi học. Nàng quay mặt vào

vách im lặng như không nghe thấy, Phúc bất đắc dĩ cầm roi khóc lóc đi ra. Đến cuối thu Phúc hết

đường xoay xở, mình khơng áo, thân khơng giày, mưa lạnh thấu xương, đầu bù tóc rối như ăn mày.

Người làng ai thấy cũng thương hại, những kẻ lấy vợ kế đều lấy việc Tế Liễu làm răn, chê bai dè bỉu

đủ điều, nàng cũng nghe biết song vẫn thản nhiên không hề để ý. Phúc khổ quá chịu không nổi, bỏ heo

trốn đi, nàng cũng mặc kệ không hỏi gì tới. Được vài tháng Phúc khơng có chỗ nào cho ăn, tiều tụy tự

tìm về nhưng khơng dám vào nhà, năn nỉ người đàn bà láng giềng qua nói giúp với mẹ. Nàng nói “Nếu

chịu nổi một trăm gậy thì vào đây gặp ta, còn nếu khơng thì cứ đi đi cho sớm”, Phúc nghe thế chạy

mau vào nhà, khóc rống lên xin chịu đòn. Nàng hỏi "Nay ngươi đã hối lỗi rồi sao?”, Phúc thưa "Con

hối lỗi rồi". Nàng nói “Đã biết hối lỗi rồi thì khơng cần đánh nữa, cứ về yên phận chăn heo, nếu tái

phạm sẽ khơng tha". Phúc khóc lớn thưa "Xin mẹ cứ đánh một trăm gậy nhưng cho con được đi học

lại". Nàng không nghe, người đàn bà láng giềng khuyên giải mãi mới ưng thuận. Bèn sai Phúc tắm rửa,

cho mặc áo mớì, bắt đi học chung với em là Hỗ, từ đó ra sức học hành, khác hẳn ngày trước.

Được vài năm Phúc vào học ở trường tỉnh, có quan Tuần phủ là Dương công đọc thấy văn bài cho

là có tài, hàng tháng cấp thêm tiền gạo giúp đỡ việc học. Hỗ thì rất ngu độn, đi học mấy năm vẫn

không viết được tên họ. Mẹ bắt bỏ học về làm ruộng, nhưng Hỗ quen sung sướng ngại cực khổ. Mẹ

giận nói “Bốn dân ai cũng phải làm việc, ngươi đã không thể học lại không muốn cày, há chẳng chết

đói nơi ngòi rãnh à?”. Lập tức đánh cho một trận, từ đó bắt theo đám tơi tớ làm ruộng, sáng nào dậy

muộn thì bị chửi mắng. Đồ mặc thức ăn có thứ đẹp cái ngon thì mẹ chọn dành cho anh, Hỗ khơng dám

nói ra nhưng lòng vẫn tức tối. Hết mùa làm ruộng, mẹ xuất tiền đưa cho sai theo học buôn bán, Hỗ lại

say mê cờ bạc, có bao nhiêu tiền nướng sạch cả, rồi về đặt điều là gặp phải trộm cướp, đổ cho số

phận để đánh lừa mẹ. Mẹ biết, đánh cho một trận gần chết, Phúc bò rạp xuống năn nỉ xin chịu đòn thay

em, Tế Liễu mới ngi giận.

Từ đó mỗi khi Hỗ ra khỏi nhà là mẹ sai người theo dõi gắt gao, nên dần dần cũng tiêu pha dè sẻn

hơn, có điều chỉ là bất đắc dĩ chừ khơng phải thật lòng muốn như vậy. Một hơm xin mẹ cho theo bạn

buôn tới huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam) buôn bán, thật ra là mượn cớ đi xa để mặc sức chơi bời,

nhưng trong lòng lo lắng chỉ sợ mẹ khơng chịu. Mẹ nghe nói thản nhiên chẳng nghĩ ngợi gì, đưa ngay



cho ba mươi lượng vàng vụn để làm vốn, rồi đưa thêm một đĩnh vàng lớn, nói "Đây là của ông nội

ngươi dành dụm lúc làm quan để lại, không được tiêu mất, đưa ngươi dằn túi để phòng lúc cần kíp

thơi. Vả lại ngươi mới học đi buôn, ta cũng chẳng dám mong lãi nhiều, chỉ cần không bị hụt vào ba

mươi lượng vàng này là được rồi". Lúc Hỗ lên đường còn dặn đi dặn lại, Hỗ dạ dạ ra đi, vui vẻ đắc ý

lắm.

Tới đất Lạc, Hỗ từ biệt hết các bạn buôn, tới ở nhà ca kỹ họ Lý, chỉ qua hơn mười đêm đã gần hết

ba mươi lượng vàng. Nhưng nghĩ trong túi còn đỉnh vàng lớn nên đầu tiên chưa lo lắng gì, đến lúc

chặt ra trả tiền mới biết chỉ là vàng giả, hoảng sợ tái cả mặt. Mụ chủ thấy thế buông lời châm chọc mai

mỉa, Hỗ vô cùng lo lắng nhưng túi rỗng không biết xoay xở vào đâu, song nàng ca kỹ còn nghĩ tới tình

nghĩa chưa trở mặt ngay. Giây lát có hai người mang dây sấn vào trói nghiến Hỗ, Hỗ hoảng sợ khơng

biết vì sao, van vỉ hỏi thăm mới rõ rằng nàng ca kỹ đã ngầm lấy đĩnh vàng giả sai người đem báo

quan. Tới công đường, quan không buồn nghe thưa bẩm gì cả, cứ sai cùm kẹp Hỗ chết đi sống lại mấy

lần rồi hạ ngục. Hỗ khơng có tiền bạc gì nên bị bọn ngục tốt đối xử tàn tệ, phải xin cơm của các bạn tù

ăn mới không chết đói.

Hơm Hỗ lên đường, mẹ nói với Phúc rằng “Nhớ là hai mươi ngày nữa ta sẽ sai ngươi tới đất Lạc,

ta nhiều việc chỉ sợ quên mất!”. Phúc hỏi đi để làm gì thì nàng im lặng buồn rầu nên không dám hỏi

nữa, lặng lẽ lui ra. Sau hai mươi ngày, Phúc tới hỏi, mẹ than "Em ngươi bê tha ngày nay cũng như

ngươi bỏ học ngày trước vậy, ta mà khơng chịu tiếng xấu thì làm sao ngươi được như ngày nay? Mọi

người đều nói rằng ta nhẫn tâm, nhưng việc nước mắt đẫm gối thì họ khơng biết đó thơi”. Rồi bật

khóc, Phúc chĩ kính cẩn đứng im lặng, khơng dám hỏi han gì. Mẹ khóc xong mới nói "Em ngươi chưa

bỏ thói xấu nên ta đưa vàng giả để nó phải chịu khốn khổ, nay chắc đã bị bắt rồi. Quan Tuần phủ đối

xử với ngươi rất tốt, ngươi tới cầu khẩn thì nó có thể được thoát chết để sống mà hối lỗi”.

Phúc lập tức lên đường, tới đất Lạc thì em đã bị giam ba ngày rồi. Vội vào ngục tìm, thấy Hỗ mặt

mũi nhọ nhem như quỷ, gặp anh rơi nước mắt không dám ngước nhìn, Phúc cũng khóc. Lúc ấy Phúc

được quan Tuần phủ đối xử rất thân ái, xa gần đều biết tiếng, quan huyện Lạc Thành biết là anh Hỗ,

vội tha Hỗ ra. Hỗ về tới nhà sợ mẹ giận, đi bằng đầu gối vào gặp. Mẹ ngoảnh lại hỏi “Ngươi thỏa

nguyện rồi chứ?”. Hỗ rơi nước mắt không dám lên tiếng. Phúc cũng quỳ xuống, mẹ mới quát bảo đứng

dậy. Từ đó Hỗ dốc lòng tu tỉnh, chăm chỉ việc nhà, nếu có lúc nào bê trễ mẹ cũng khơng trách hỏi gì

tới. Suốt mấy tháng khơng nói tới chuyện đi buôn, cũng muốn xin với mẹ nhưng không dám, bèn nhờ

anh nói hộ. Mẹ nghe thế mừng rỡ, đem hết tiền bạc giao cho, Hỗ đi buôn nửa năm đã lãi gấp hai. Năm

ấy Phúc thi hương đỗ Cử nhân, ba năm sau lại đỗ Tiến sĩ, em thì bn bán trở nên giàu có ức vạn.

Trong huyện có người tới đất Lạc, gặp được Thái phu nhân, thấy tuổi đã tứ tuần mà dung mạo chỉ như

mới hơn ba mươi, ăn mặc giản dị như nhà thường dân mà thơi.

[188]



Dị Sử thị nói: Sách Hắc tâm phù ra đời thì áo hoa lau thay đổi

, xưa nay đều giống nhau,

thật đáng buồn vậy. Nhưng mẹ kế sợ bị chê bai thì lại nng chiều con chồng q mức, đến nỗi cứ mặc

kệ con cái phóng túng khơng hỏi tới một câu, nên đã có biết bao nhiêu người bị con chồng ngược đãi

rồi! Nếu chỉ đánh đập con ruột thì người ngồi khơng cho là ác độc, nhưng đánh con chồng thì lập tức



bị chê trách ngay. Như Tế Liễu không chỉ tàn nhẫn với con chồng mà còn khiến con ruột mình trở

thành người giỏi, nhưng làm sao mà đem tấm lòng ấy giải bày với người đời, nên không sợ điều tỵ

hiềm, không tránh tiếng ác, rốt lại dạy được hai con trở nên một đứa sang một đứa giàu, rỡ mặt với

đời, cứng rắn ngay thẳng như thế thì so ra chẳng kém gì đàn ơng, chứ đừng nói so với đàn bà.



155. Chung Sinh (Chung Sinh)

Chung Khánh Dư là danh sĩ ở huyện Liêu Đông (tỉnh Liêu Dương). Xuống nam thi hương, nghe nói

trong vương phủ có vị đạo sĩ biết được chuyện may rủi của người ta, định tìm tới hỏi. Thi nhị trường

xong, tới suối Báo Đột (thuộc huyện Lịch Thành tỉnh Sơn Đơng) thì gặp, thấy là một đạo nhân hơn sáu

mươi tuổi, râu dài tới bụng, tóc bạc phơ phơ. Những người tới hỏi chuyện số may vận rủi chen chúc

đông nghịt xung quanh, đạo sĩ đều miễn cuỡng trả lời. Chợt nhìn thấy sinh giữa đám đơng, ơng ta vui

mừng cầm tay nói "Ơng đúng là người tâm tính đức hạnh đáng kính". Rồi kéo sinh lên gác trò chuyện,

nhân hỏi "Có phải ơng muốn biết tương lai khơng?”, sinh vâng dạ. Đạo sĩ nói "Phúc mệnh của ông rất

mỏng, song khoa này thi hương cũng có thể hy vọng, có điều e rằng thi đỗ rồi lại khơng được thấy mặt

cha mẹ nữa”. Chung vốn có hiếu, nghe thế rơi nước mắt, muốn bỏ thi trở về. Đạo sĩ nói "Nếu bỏ thi

lần này thì khơng bao giờ đỗ nổi Cử nhân nữa”, sinh đáp "Mẹ mất không được thấy mặt, thật không

đáng làm người, dẫu làm tới khanh tướng cũng có gì q?". Đạo sĩ nói "Kiếp trước ta có túc dun

với ơng, ngày nay xin hết sức giúp đỡ".

Rồi lấy thuốc trao cho, nói "Cứ sai người ngày đêm đi gấp về dâng cho lệnh đường, thuốc này

uống vào có thể sống thêm bảy hơm, ông thi xong trở về mẹ con vẫn còn kịp nhìn thấy mặt nhau”. Sinh

nhận thuốc, vội vàng ra về, lòng dạ rối bời, nghĩ rằng sống chết có ngày giờ, mình về sớm được một

ngày thì phụng dưỡng mẹ nhiều thêm một ngày, liền gọi đầy tớ thuê ngựa tức khắc lên đường trở về

Liêu Đông. Đi được vài dặm bỗng con ngựa quay đầu chạy ngược lại, đánh thì nó đứng ỳ ra, thúc bàn

đạp thì nó khuỵu xuống, sinh tốt cả mồ hơi cũng khơng làm sao được. Người đầy tớ bèn khuyên sinh

ở lại, sinh không nghe, nhưng thuê con ngựa khác cưỡi thì cũng thế, đến tận chiều tối vẫn không đi

được. Người đầy tớ lại khun "Ngày mai là thi xong, có gấp gì một ngày một buổi? Ta xin đi ngay

mang thuốc về trước thay chủ nhân, thế thì đơi đàng đểu trọn vẹn", sinh bất đắc dĩ đành nghe theo.

Hôm sau vào thi, sinh làm bài qua loa cho xong rồi lập tức lên đường trở về ngày đêm không nghỉ. Về

tới nhà thì biết bệnh mẹ đang ngặt nghèo nhưng uống thuốc xong cũng hơi giảm. Sinh vào đứng trước

giường rơi nước mắt, mẹ ra hiệu bảo nín khóc, rồi cầm tay sinh vui vẻ nói ”Mẹ vừa nằm mộng thấy

xuống tới âm ty thấy Diêm Vương nét mặt ơn hòa nói rằng: Xét ngươi bình sinh khơng phạm tội gì lớn,

nghĩ tới con ngươi chí hiếu nên cho ngươi sống thêm một kỷ (mười hai năm) nữa".

Sinh cũng mừng, vài ngày sau quả nhiên thấy mẹ khỏe mạnh lại như cũ. Khơng bao lâu lại có tin

báo thi đỗ, sinh chào mẹ tới đất Tế (tức vùng Sơn Đông), đút tiền cho quan Nội giám trong vương phủ

xin gặp đạo sĩ. Đạo sĩ vui vẻ ra gặp, sinh bèn lạy tạ. Đạo sĩ nói "ơng vừa đậu cao, Thái phu nhân lại

được tăng thêm tuổi thọ, đó đều là nhờ ông có đức tốt, chứ bần đạo có tài cán gì đâu?". Sinh càng

phục tài tiên tri, lại xin hỏi việc chung thân. Đạo sĩ đáp “Ơng khơng q hiển lớn được, song được

sống lâu là đủ rồi. Kiếp trước ông là đạo hữu với ta, có lần lấy đá ném con chó, lỡ tay giết chết nó,

nay nó đã đầu thai làm ngựa rồi. Theo số mệnh mà bàn thì lẽ ra ơng phải chết sớm, nhung nhờ lòng chí

hiếu làm cảm động tới thần minh nên đã được giải tinh nhập hạn, chắc sẽ khơng hề gì. Nhưng phu nhân



kiếp trước là đàn bà không giữ trinh tiết, lẽ ra kiếp này phải góa chồng sớm, nay ơng nhờ có đức được

kéo dài tuổi thọ thì lại khơng xứng đôi nữa, e rằng sang năm đài gương phải đổ”. Sinh bùi ngùi hồi lâu

rồi hỏi vợ kế của mình ở đâu, đạo sĩ đáp "Ở Trung Châu (thuộc tỉnh Hà Nam), năm nay được mười

bốn tuổi". Khi chia tay lại dặn sinh “Nếu gặp tai họa thì cứ chạy mau về phía đơng nam".

Hơn năm sau, quả nhiên vợ sinh mắc bệnh chết. Sinh có người cậu làm Huyện lệnh Tây Giang

(tỉnh Quảng Đông), mẹ sai đi thăm. Lúc về tiện đường sinh ghé qua Trung Châu xem lời tiên đốn của

đạo sĩ về người vợ kế có nghiệm khơng. Ngẫu nhiên tới một thơn đang có đám diễn tuồng cạnh bờ

sông, trai gái chen chúc đứng xem đông nghẹt, sinh vừa thả cương cho ngựa chậm rãi đi vòng qua thì

bỗng có con ngựa đực đứt cương đuổi theo làm ngựa của sinh vọt chạy. Sinh ngoảnh lại lấy roi đánh

vào đầu con ngựa đực, nó hoảng sợ lồng lên. Lúc ấy thế tử trong vương phủ mới được sáu bảy tuổi,

người vú đang bế ngồi chơi trên đê, con ngựa đực xơng về phía đó, đám tùy tùng đều không kịp chặn

lại nên vương tủ bị xô ngã xuống sông. Đám tùy tùng quát tháo ầm ĩ tranh nhau đuổi bắt, sinh giục

ngựa chạy bán sống bán chết, chợt nhớ lời đạo sĩ dặn bèn ra sức chạy về phía đơng nam. Được hơn

hai mươi dặm thì vào tới một thơn, thấy có ơng già đúng trước cổng nhà nọ liền xuống ngựa vái chào.

Ông già mời vào, tự xưng là họ Phương rồi hỏi khách từ đâu tới. Sinh quỳ rạp xuấng đất kể lại sự tình,

ơng già nói "Khơng hề gì, xin cứ nghỉ lại đây" rồi sai người đi nghe ngóng.

Đến tối được tin mới biết là thế tử trong vương phủ, cả sợ nói "Nhà ai khác thì ta còn có thể giúp,

chứ cục cưng này thì khơng làm thế nào được”. Sinh năn nỉ mãi, ơng già ngẫm nghĩ rồi nói "Quả thật là

không giúp được, nhưng mời khách cứ nghỉ lại qua đêm nay ở đây, nghe ngóng xem tình thế ra sao mới

tính tiếp được". Sinh buổn rầu lo lắng, cả đêm không chợp mắt. Hôm sau nghe tin đã có trát nã bắt

sinh, ai chứa chấp cũng sẽ bị xử tử. Ơng già có vẻ lo lắng im lặng trở vào, sinh nửa sợ nửa ngờ không

sao trấn tĩnh được. Nửa đêm, ơng già qua gõ cửa phòng, vào ngồi một lúc rồi hỏi vợ sinh bao nhiêu

tuổi. Sinh nói là góa vợ, ơng già mừng rỡ nói "Kế ta ắt xong!!'. Sinh hỏi kế thế nào, ông đáp “Anh rể

ta mộ đạo Phật, vào núi Nam Sơn tu hành, chị ta nay đã qua đời, để lại một đứa con gái được người

lão bộc chăm sóc cũng khá thơng minh, xin gả cho ơng, có được khơng?”. Sinh mừng vì hợp với lời

đạo sĩ, lại thành có kẻ thân thích ở nơi xa, có thể thốt nạn, bèn nói "Tiểu sinh thật rất may mắn, nhưng

đang là kẻ có tội ở xa nhà, rất sợ làm lụy cả cha vợ”. Ơng già nói “Như thế là tính kế cho ông đấy.

Anh rể ta đạo thuật thông thần nhưng lâu lắm khơng hỏi tới việc đời rồi. Có điều đám cưới xong ông

cứ bàn với cháu ta, thế nào cũng có cách mà". Sinh càng mừng, liền qua nhà cô gái làm lễ cưới.

Cô gái đã mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng, nhưng sinh cứ thấy mặt lại thở dài Cô gái hỏi

"Thiếp dù quê mùa xấu xí, nhung chẳng lẽ chàng lại ghét bỏ sao?". Sinh tạ lỗi đáp "Nương tử là người

tiên, ta được cưới làm vợ là may lắm, chỉ vì đang có tai họa nên sợ sẽ có chuyện ngang trái cho

nhau”, rồi kể thật hết sự tình. Cơ gái ốn cậu không phải là giống người, tai họa tày trời như vậy mà đã

khơng bàn trước cũng chẳng nói rõ, làm mình sa hầm sẩy hang. Sinh quỳ rạp xuống nói "Đây là vì tiểu

sinh cố chết lạy lục cầu khẩn, nên cậu nhân từ nhưng hết cách giúp, chỉ biết nàng có thể cứu sống

người đã chết, đắp thịt cho xương khô thôi. Ta thật không xứng đáng sánh duyên với nàng, nhưng may

mà nhà cửa cũng không đến nỗi nào, nếu được sống sót thì ngày sau xin lấy hương hoa thờ phụng". Cô



gái than "Chuyện đã tới nước này thì còn nói gì nữa! Nhưng cha đã lập chùa để tu, dứt hết lòng yêu

thương con cái của người đời, có điều khơng còn cách nào thì phải cùng tới đó cầu khẩn, sợ là phải

quỳ một phen cực khổ đây". Rồi đó nàng thức trắng đêm lấy nệm dày khâu làm đệm độn vào đầu gối

cho hai người, lấy áo dài mặc phủ ra bên ngoài, rồi sai gọi kiệu lên núi.

Vào Nam Sơn hơn mười dặm thì núi cao đường dốc, quanh co hiểm trở khơng sao đi kiệu nữa,

phải xuống đi bộ. Cô gái đi rất khó khăn, sinh kéo tay dìu đỡ, vất vả hồi lâu mới lên tới trên núi. Thấy

cổng chùa không còn xa, bèn cùng ngồi xuống nghỉ chân. Cơ gái thở hổn hển, mồ hơi ròng ròng, son

phấn trơi hết, sinh thấy thế thương xót nói "Vì ta mà nàng phải chịu khổ tới nỗi này". Cô gái vừa thở

vừa đáp “Chỉ sợ bấy nhiêu còn chưa phải là khốn khổ đâu”. Hai người nghỉ giây lát rồi đưa nhau vào

chùa, lạy Phật rồi vào trong, quanh co một lúc thì tới thiền đường. Thấy một nhà sư già ngồi xếp bằng,

mắt nhắm nghiền như người mù, có một tiểu đồng cầm phất trần đứng hầu. Trong phương trượng quét

dọn rất sạch sẽ, nhưng trước chỗ sư ngồi lại bày đầy đá sỏi, la liệt như sao trên trời. Cô gáỉ khơng

dám chọn lựa gì, bước tới quỳ ngay xuống, sinh cũng quỳ xuống phía sau. Sư hé mắt nhìn rồi nhắm

ngay lại cô gái làm lễ ra mắt rồi nói “Lâu rồi khơng tới thăm cha, nay con vừa lấy chồng, nên đưa

chồng con tới chào". Hồi lâu nhà sư mới mở mắt nói “Con vãi con này chỉ làm khổ ta", rồi lại im

lặng. Vợ chồng quỳ hồi lâu chồn cả chân, đá sỏi nghiến vào đầu gối, đau không chịu nổi. Lại một hồi

lâu sư mới hỏi “Đã dắt ngựa lại chưa?", cô gái thưa chưa. Sư nói "Vợ chồng về mau đi, dắt nó tới đây

ngay". Hai người lạy rồi đứng lên, khập khiễng dìu nhau đi, về tới nhà lập tức cho dắt con ngựa của

sinh vào núi, nhưng chỉ làm đúng theo lời sư dặn chứ khơng rõ ơng có ý tứ gì.

Vài hơm sau nghe đồn là đã bắt được tội nhân làm vương tử rơi xuống sông đem chém, vợ chồng

mừng lắm. Liền sau đó trong núi sai tiểu đồng tới, đưa sinh một đoạn gậy trúc bị chặt đứt, nói "Kẻ

chết thay là ông này đấy”, rồi bảo sinh cúng tế để giải oan cho cây trúc. Sinh nhìn thì thấy chỗ bị chặt

có vết máu, bèn khấn khứa rồi chơn cất: Nhưng vợ chồng cũng khơng dám ở đó lâu, nên ngay trong

đêm đưa nhau về Liêu Dương.



156. Mơ Thấy Chó Sói (Mộng Lang)

Ơng họ Bạch là người tỉnh Trực Lệ. Con trai lớn là Giáp đi làm quan ở phương nam, hai năm

đường xa bặt tin. Có người họ Đinh là họ hàng xa tới thăm, ông lâu không gặp nên bày tiệc khoản đãi.

Đinh vốn là phù thủy, lúc chuyện trò ơng hỏi việc dưới âm phủ, Đinh trả lời có nhiều điều huyễn hoặc,

ơng khơng tin lắm nhưng cũng chỉ mỉm cười. Kế chia tay, vài hôm sau ông vừa đi nằm thấy Đinh lại

tới, mời cùng đi chơi. Ơng đi theo, vào tới một tòa thành, lát sau Đinh chỉ một cái cổng nói "Cháu ơng

ở trong ấy đấy". Lúc ấy ơng có đứa cháu con người chị đang làm Tri huyện ở đất Tấn (vùng Sơn Tây),

ngạc nhiên hỏi "Sao nó lại ở đây?". Đinh đáp "Nếu ơng khơng tin, cứ vào sẽ biết". Ơng vào, quả thấy

cháu mặc áo đội mũ Ngự sử ngồi trên cơng đường, qn hầu vác cờ cầm kích dàn hàng, khơng ai vào

lọt. Đinh kéo ra, nói “Còn nha môn của công tử cách đây cũng không xa, ông có muốn tới xem

khơng?", ơng bằng lòng. Giây lát tới một tòa nhà, Đinh bảo "Ơng vào đây!". Nhìn vào cổng thấy một

con sói lớn chắn đường, sợ q khơng dám bước tới, Đinh lại nói "Ơng cứ vào đây!". Qua một lần

cổng nữa thấy trên thềm dưới sân toàn là sói, con nằm con ngồi. Nhìn tới thềm thì thấy xương trắng

chất cao như núi, ông càng sợ hãi, Đinh bèn lấy mình che cho ơng đi vào.

Cơng tử Giáp vừa từ nhà trong ra, thấy cha và Đinh mừng lắm, mời ngồi rồi gọi người hầu sửa

soạn cơm rượu. Chợt có con sói lớn ngoạm một xác người chết vào. Ơng run bần bật đứng lên hỏi

"Cái đó dùng làm gì?", Giáp đáp “Để làm cơm". Ơng vội ngăn cản, lòng hoảng hốt khơng n, cáo từ

định đi ra nhưng bị đàn sói cản lại. Đang còn chưa quyết lui tới ra sao chợt thấy lũ sói kêu gào chạy

tứ tán, con chui vào gầm giường, con rúc xuống dưới ghế, ngạc nhiên khơng rõ vì sao. Giây lát có hai

lục sĩ mặc giáp vàng trợn mắt bước vào, rút dây sắt ra trói Giáp, Giáp ngã lăn xuống đất hóa thành

con cọp, răng nhe lởm chởm. Một người tuốt kiếm sắc toan chặt đầu, người kia ngăn lại nói “Khoan

đã, khoan đã! Đó là việc tháng tư năm sau, cứ tạm bẻ răng nó trước”. Rồi rút ngọn chùy lớn ra đập,

răng cọp gảy rơi xuống đất, cọp đau quá rống vang. Ông khiếp sợ, chợt tỉnh dậy mới biết là mình nằm

mơ, lấy làm lạ cho người mời Đinh nhưng Đinh từ chối khơng tới.

Ơng bèn ghi lại giấc mơ, sai con thứ đưa thư tới cho Giáp, răn bảo thống thiết. Người em tới nơi,

thấy răng cửa của anh gảy hết, sợ hãi hỏi thăm, thì ra vì say rượu ngã ngựa. Hỏi lại thời gian thì đúng

ngày cha nằm mơ, càng sợ hãi, đưa thư của cha ra. Giáp đọc thư tái mặt, một lúc mới nói "Đó là ảo

mộng ngẫu nhiên phù hợp, có gì lạ". Lúc ấy Giáp đang hối lộ quan trên để được tiến cử nên không để

bụng về giấc mộng gở của cha. Người em ở lại vài hôm thấy lũ nha lại sâu mọt đầy công đường, kẻ

hối lộ người chạy chọt nườm nượp ra vào đến khuya vẫn khơng ngớt, rơi nước mắt can anh. Giáp nói

"Em ở nhà quê nên không biết điều cốt yếu của việc làm quan. Quyền thăng hay truất mình là ở quan

trên chứ không phải trăm họ, nên cứ quan trên vui lòng tức là quan tốt chứ thương yêu trăm họ thì làm

sao cho quan trên vui lòng được?". Người em biết không thể can ngăn được bèn trở về kể hết cho cha.

ơng Bạch nghe thế khóc lớn, khơng biết làm sao, chỉ còn cách bỏ tiền bạc ra giúp người nghèo, hàng

ngày cầu khấn thần linh, chỉ xin nếu thằng con ngỗ nghịch bị báo ốn thì đừng làm lụy cả vợ con.



Năm sau, có tin báo Giáp được tiến cử về bộ Lại, người chúc mừng tới chật cổng. Ơng chỉ than

thở nằm bẹp, thác bệnh khơng ra tiếp một ai. Không bao lâu nghe tin con trai về kinh gặp cướp, thầy tớ

đều bị giết. Ông trở dậy nói với mọi người “Cơn giận của quỷ thần chỉ dành cho riêng nó, ơn che chở

cho nhà ta như vậy không phải không sâu nặng đâu”, rồi thắp hương lạy tạ. Người tới an ủi đều cho

rằng đó chỉ là tin đồn thất thiệt trên đường, riêng ông tin chắc không hề nghi ngờ, cứ định ngày xây mộ.

Nhưng Giáp vốn chưa chết. Trước là tháng tư Giáp thôi chức lên đường, vừa ra khỏi huyện liền gặp

cướp, dốc hết rương hòm ra nộp nhưng chúng nói "Bọn ta tới đây để rửa nỗi căm tức của dân cả một

huyện, đâu phải chỉ vì bấy nhiêu!", rồi chém đầu Giáp. Lại hỏi đám gia nhân rằng Tư Đại Thành là ai?

Tư vốn là tay chân tâm phúc của Giáp, giúp kẻ dữ làm điều ác. Đám gia nhân đều chỉ vào y, bọn cướp

cũng chém luôn. Lại có bốn tên nha lại sâu mọt là tay sai vơ vét tiền bạc cho Giáp, được Giáp đưa

theo về kinh cũng bị lôi ra chém chết. Bấy giờ bọn cướp mới chia của cải, chất lên ngựa phóng đi.

Hồn Giáp nằm bên đường, thấy một vị quan lớn đi ngang hỏi người bị giết là ai, toán quân mở

đường bẩm “Là Tri huyện họ Bạch ở huyện mỗ". Vị quan nói "Đó là con họ Bạch, khơng nên để y cuối

đời phải nhìn thấy cảnh thảm khốc này, cứ chắp đầu lại cho hắn”. Lập tức có một người nhặt đầu Giáp

đặt lên cổ, nói "Kẻ gian tà khơng cần chắp cho ngay ngắn, cứ cho vai đỡ cằm là được", rồi bỏ đi. Lát

sau Giáp sống lại, vợ con tới nhặt xác thấy còn thoi thóp bèn chở về, từ từ đổ nước cháo cho, cũng

uống được nhưng phải sống nhờ ở qn trọ vì nghèo q khơng về được. Khoảng nửa năm, ơng Bạch

được tin đích xác, sai con thứ tới đón về. Giáp tuy sống lại nhưng mắt nhìn thấy lưng, khơng giống con

người nữa. Con trai người chị ơng Bạch thì làm quan có tiếng tốt, năm ấy được tiến cử làm Ngự sử,

đều đúng như ơng mơ thấy.

Dị Sử thị nói: Trộm than rằng trong thiên hạ quan là cọp mà lại là sói, ở đâu cũng vậy. Cho dù

quan không phải là cọp thì nha lại cũng sẽ là sói, huống hồ kẻ làm quan còn dữ hơn cả cọp sao?

Phàm điều người ta lo là khơng thể nhìn thấy phía sau mà thơi, đây cho sống lại mà lại còn làm

cho nhìn thấy được phía sau, bài học của quỷ thần mới sâu xa làm sao!



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tế Liễu (Tế Liễu)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×