Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đảo Tiên (Tiên Nhân Đảo)

Đảo Tiên (Tiên Nhân Đảo)

Tải bản đầy đủ - 0trang

lưới tục. Ta vẫn không coi ông là người lạ, thật tình muốn đưa ơng ra khỏi vũng nước đục. Không ngờ

ông mê muội đã sâu, mờ mịt không gọi tỉnh được. Nay sẽ đưa ông về, chưa hẳn không có ngày gặp lại,

nhưng muốn làm tiên trên trời thì phải đến kiếp sau”. Rồi chỉ phiến đá dài dưới thềm bảo Vương nhắm

mắt ngồi lên, dặn kỹ không được nhìn. Kế lấy roi quất đá bay lên, Vương nghe tiếng gió rít ù ù bên tai,

khơng biết đã đi được bao xa, chợt nghĩ chưa nhìn rõ cảnh vật phía dưới xem ra sao bèn lén hé mắt thì

thấy biển lớn mênh mơng khơng có bờ bến, cả sợ lập tức nhẳm mắt lại nhưng người đã theo đá cùng

rơi xuống bùm một tiếng mất tăm như chim âu lặn. May là vốn ở gần biển nên hơi biết bơi, nghe có

người vỗ tay reo “Hụt chân đẹp lắm!". Đang lúc nguy cấp thì có một cơ gái kéo lên thuyền, nói “May

mắn may mắn, Tú tài trúng nước rồi!", Vương nhìn thì thấy nàng khoảng mười sáu mười bảy tuổi, dung

mạo xinh đẹp.

Vương ra khỏi nước rét run xin đốt lửa hơ áo, cơ gái nói "Theo ta về nhà sẽ có cách, nếu được

vừa ý xin đừng quên nhau”. Vương nói “Sao lại nói thế? Ta là tài tử ở Trung nguyên, ngẫu nhiên gặp

chuyện không may, nếu qua được con quẫn bách này xin lấy thân đền đáp, đâu chỉ không quên mà

thôi". Cô gái chống sào đẩy thuyền đi nhanh như bay, chốc lát đã tới bờ, lấy bó hoa sen mới hái trong

thuyền lên rồi dẫn Vương cùng đi. Đi được nửa dặm thì vào thôn, tới một ngôi nhà cánh cổng sơn son

quay về hướng Nam, qua mấy lần cổng, cô gái vào trước. Lát sau một người đàn ông bước ra, khoảng

hơn bốn mươi tuổi, vái chào mời lên thềm, sai người hầu lấy mũ áo giày tất cho Vương thay, kế hỏi

nhà cửa quê quán. Vương đáp “Không dám dối nhau, chắc ơng có nghe qua tài danh của ta. Thơi chân

nhân rất yêu mến gọi lên trời, nhưng ta tự nghĩ công danh dễ như trở bàn tay nên không muốn ẩn dật”.

Người đàn ơng đứng lên kính cẩn nói “Nơi đây gọi là Đảo tiên, xa hẳn cõi người. Ta tên Văn Nhược

họ Hoàn, mấy đời sống nơi hẻo lánh, may sao lại được gặp bậc tài danh”' rồi đặt tiệc ân cần mời mọc.

Kế thong thả nói "Ta có hai con gái, đứa lớn là Phương Vân được mười sáu tuổi, đến nay chưa

gặp người xứng đôi, muốn cho hầu hạ bậc cao nhân, ông thấy sao?”, Vương nghĩ là cô gái hái sen bèn

đứng dậy cảm tạ. Hoàn mời vài người tuổi cao đức cả trong làng đến, nhìn quanh một lượt rồi lập tức

sai gọi con gái. Khơng bao lâu nghe có mùi hương lạ sực núc, hơn mười tỳ nữ xinh đẹp đỡ Phương

Vân ra, xinh xắn lộng lẫy như hoa sen chiếu nắng sớm. Nàng vái chào rồi ngồi xuống, các tỳ nữ đứug

hầu, cơ gái hái sen cũng trong số đó. Rượu được vài tuần thì một cơ gái để tóc bím từ trong ra, mới

hơn mười tuổi mà dáng vẻ đã xinh đẹp, tươi cười dựa vào khuỷu tay Phương Vân, ánh mắt long lanh.

Hồn nói "Con gái khơng ở trong phòng, ra đây làm gì?”, rồi quay ra nói “Đây là Lục Vân, con gái

nhỏ của ta, cũng khá thông minh, nhớ được nhiều sách vở". Nhân bảo ngâm thơ cho khách nghe, cô gái

bèn đọc ba bài Trúc chi từ, giọng ngâm êm ái dễ nghe. Hoàn cho nàng ngồi cạnh chị rồi nói “Vương

lang là bậc thiên tài, văn thơ ắt nhiều lắm, có thể cho ta được nghe chỉ dạy không?". Vương hiên ngang

đọc một bài thơ cận thể rồi tự đắc nhìn quanh, trong có hai câu "Một thân thừa chút râu mày đó, Nửa

hớp cho tan uất hận này", ông già láng giềng đọc đi đọc lại, Phương Vân cúi đầu nói "Câu trên là Tơn

[167]



Hành Giả rời động Hỏa Vân, câu dưới là Trư Bát Giới qua sơng Tử Mẫu”

cả tiệc vỗ tay cười ầm.

Hồn xin đọc bài khác, Vương bèn đọc bài thơ Chim nước "Đầu đầm kêu kíu kít...", chợt quên

mất câu kế, còn đang nhớ lại thì Phương Vân ghé tai em thầm thì rồi che miệng cười. Lục Vân thưa



với cha “Chị ấy nối câu tiếp theo cho anh rể, là Mơng chó vãi bì bùm", cả tiệc lại cười ồ, Vương có

vẻ thẹn. Hồn trừng mắt nhìn Phương Vân, khi Vương đã có vẻ bình tĩnh rồi lại xin Vương đọc văn.

Vương cho rằng người ngồi cõi trần khơng biết văn bát cổ bèn khoe bài làm được chấm hạng nhất ở

trường, đầu đề là hai câu "Hiếu thay, Mẫn Tử Khiên...”, câu phá đề là "Thánh nhân khen lòng hiếu của

bậc đại hiền...”' Lục Vân nhìn cha nói “Thánh nhân khơng gọi học trò bằng tên tự, câu "Hiếu thay...” ắt

là lời của kẻ khác", Vương nghe thấy cụt hứng. Hồn cười nói "Trẻ con biết gì! Khơng cốt chuyện ấy,

chỉ cần bàn văn thôi".

Vương bèn đọc tiếp, cứ được vài câu hai chị em lại nói khẽ vào tai nhau như bình luận nhưng thì

thào nên khơng nghe rõ. Vương đọc đến đoạn hay, thuật lại cả lời bình của học quan rằng "Chữ chữ

đều thống thiết”, Lục Vân nói với cha “Chị nói nên bỏ chữ "thiết” đi”. Mọi người đều khơng hiểu,

Hồn sợ con ăn nói khó nghe nên khơng dám gạn hỏi. Vương đọc xong lại thuật lời tổng bình, trong có

câu "Trống yết đánh một tiếng thì mn hoa đều rụng”. Phương Vân lại che miệng nói vào tai em, hai

người cùng cười khơng ngẩng lên được. Lục Vân lại nói với cha "Chị nói trống yết phải đánh bốn

tiếng", mọi người vẫn khơng hiểu. Lục Vân máy miệng định nói, Phương Vân nín cười qt "Con nhãi

mà nói thì ta đánh chết!". Mọi người ngờ vực cứ đốn mò này nọ, Lục Vân khơng nhịn được bèn nói

[168]



“Bỏ chữ "thiết” đi, nói “thống” tức là “bất thông”

. Đánh bốn tiếng trống là “bất thơng lại bất

thơng" vậy”. Mọi người cười ầm, Hồn nổi giận quát con rồi đứng lên rót rượu xin lỗi mãi.

Vương lúc đầu thị tài kiêu căng, trong mắt không coi ai ra gì, đến lúc ấy hùng khí tiêu tan, mồ hơi

đầm đìa. Hồn xin lỗi an ủi, nói "Vừa nghĩ được một câu xin mọi người cùng đối: Vương tử thân biên,

vô hữu nhất điểm bất tự ngọc” (Bên cạnh chàng Vương, chẳng có điểm nào khơng tựa ngọc). Mọi

người chưa kịp đối thì Lục Vân đọc ngay "Mẫn ông đầu thượng, tái trước bán tịch tức thành quy"

[169]



(Trên đầu ông Mẫn, thêm vào tịch nữa sẽ thành rùa)”

Phương Vân cười sặc sụa véo sườn em liền

mấy cái. Lục Vân giằng ra bỏ chạy, quay lại nói "Việc gì đến chị? Chỉ mắng anh ấy bao nhiêu thì

khơng thấy là sai, người ta nói một câu lại khơng cho à?”. Hoàn quát nạt mới cười rồi đi. Các ông già

láng giềng cáo từ xong, các tỳ nữ dẫn vợ chồng vào phòng, đèn nến giường màn đã sắp đặt tươm tất.

Vương thấy trong phòng tân hơn sách vở đầy giá không thiếu loại nào, hỏi qua những chỗ khó vợ đều

trả lời trơi chảy, lúc ấy mới thấy xấu hổ vì hiểu biết của mình còn nơng cạn.

Phương Vân gọi Minh Đang thì cơ gái hái sen chạy tới vâng dạ, nhờ vậy Vương mới biết tên nàng.

Vương mấy lần bị châm chọc, e rằng trong chốn khuê phòng khơng được coi trọng, may là Phương

Vân tuy ác khẩu nhưng trong chốn phòng the lại rất đằm thắm. Vương ở yên rảnh rỗi lại ngâm nga, vợ

nói "Thiếp có lời hay, khơng biết chàng có chịu nghe theo khơng?”. Hỏi lời gì thì nàng đáp “Từ nay

chàng đừng làm thơ nữa, cũng là một cách che giấu cái dở của mình đấy", Vương xấu hổ quá bèn gác

bút luôn. Lâu ngày dần thân mật với Minh Đang, bèn nói với Vân rằng "Minh Đang có cái ơn cứu

mạng cho tiểu sinh, xin ít nặng lời cau mặt với nàng". Phương Vân ưng thuận, cứ những lúc vợ chồng

vui chơi trong phòng cũng gọi nàng, đơi bên càng ưa nhau, thường ngầm tỏ tình ý.

Phương Vân hơi biết, nhiều lần trách móc nhưng Vương cứ mồm năm miệng mười ra sức thanh



minh. Một đêm cùng uống rượu, Vương cho là vắng vẻ, bảo vợ gọi Minh Đang. Phương Vân khơng

[170]



chịu, Vương nói “Sách gì nàng cũng đọc, sao chẳng nhớ mấy chữ Độc lạc nhạc?”

. phương Vân

nói "Thiếp nói chàng bất thơng, nay càng nghiệm. Cách chấm câu còn chưa biết à? Mình cần thì thích

[171]



người khác cũng cần, nhưng nói tới chuyện vui mà hỏi có cần khơng thì đáp khơng"

, Vương phì

cười bèn thơi. Gặp buổi chị em Phương Vân có hẹn với cơ gái láng giềng, Vương được dịp liền dẫn

Minh Đang vào, ân ái hết mực. Đến tối thấy bụng dưới hơi đau mà dương vật rụt hết vào, cả sợ nói

với Phương Vân. Vân cười nói "Chắc vì báo ơn Minh Đang rồi”. Vương khơng dám giấu bèn khai

thật, Phương Vân nói "Chàng tự chuốc họa, thật thiếp khơng còn cách nào. Nếu khơng đau ngứa thì để

mặc thế cũng được”.

Mấy ngày sau khơng khỏi, Vương lo lắng kém vui, Phương Vân biết ý nhưng khơng hỏi gì, chỉ

chăm chú nhìn chồng, ánh mắt như nước thu trong vắt, sáng như sao buổi sớm. Vương nói "Nàng có

thể nói trong lòng ngay thẳng nên mắt sáng”, Phương Vân cười nói "Còn chàng thì có thể nói trong

lòng khơng ngay thẳng nên mất sáng". Bởi người ta thường nói chữ mất gần như chữ mắt nên nàng lấy

đó để đùa. Vương cười ngất năn nỉ xin chữa cho, nàng nói "Chàng khơng chịu nghe lời nói phải, trước

đây chưa chắc đã khơng nghi là thiếp ghen chứ biết đâu là đứa tỳ nữ ấy vốn khơng thể gần gũi. Lúc

trước thật vì u thương mà nói, nhưng chàng cứ như đàn khảy tai trâu nên phát ghét bỏ mặc không hỏi

tới, nếu không đã chữa cho rồi. Nhưng thầy thuốc phải thăm chỗ đau trước". Rồi sờ vào dưới áo

Vương niệm chú rằng "Chim vàng, chim vàng, chớ đậu cành gai", vương bất giác cười lớn, cười xong

thì khỏi bệnh. Mấy tháng sau Vương vì còn cha già con nhỏ thường nhớ nhung, tỏ ý với vợ. Nàng nói

"Về thì khơng khó, nhưng khơng có ngày sum họp nữa mà thôi". Vương sa nước mắt xin cùng về, nàng

nghĩ đi nghĩ lại mới ưng thuận.

Ông Hồn bày tiệc tiễn, Lục Vân cầm giỏ vào nói "Chị sắp đi xa mà khơng có gì tặng, chỉ sợ khi

tới Hải Nam khơng có nhà mà ở nên đêm qua đã làm giúp chị lầu gác, xin đừng chê là sơ sài". Phương

Vân cảm ơn nhận lấy, Vương tới gần xem thì là cỏ nhỏ tết làm lầu gác, ngơi lớn thì bằng quả cam, ngơi

nhỏ thì bằng quả quít, khoảng hơn hai mươi gian, kèo cột rui mè đều rõ ràng, bên trong đủ cả giường

nằm rèm trướng to bằng hạt vừng. Vương coi như đồ chơi của trẻ con nhưng thầm khen cô nhỏ khéo

tay. Phương Vân nói “Nói thật với chàng bọn thiếp đều là địa tiên, vì có túc dun nên được theo

nhau, vốn khơng có ý bước tới cõi trần nhưng vì chàng còn có cha già nên khơng nỡ trái lời. Khi nào

cha đủ tuổi trời thì phải trở lại đây" Vương kính cẩn xin vâng. Hồn hỏi muốn đi thuyền hay đi xe,

Vương sợ sóng gió nguy hiểm nên xin đi đường bộ. Ra thì thấy ngựa xe đã chờ ngồi cổng bèn từ biệt

lên đường. Xe ngựa đi nhanh như bay, chốc lát tới bờ biển, Vương lo khơng có đường đi. Phương Vân

rút ra một tấm lụa trắng ném về phía nam, tấm lụa biến thành con đê dài bề rộng vài trượng, chớp mắt

xe ngựa phóng qua, đê cũng rút lại dần. Tới một chỗ nước triều tràn lên, bốn phía mênh mơng, Phương

Vân bảo dừng lại rồi xuống xe lấy những lầu gác bằng cỏ ra, cùng mấy người bọn Minh Đang bày biện

theo thứ lớp, chớp mắt đã hóa thành một phủ đệ lớn. Mọi người cùng vào cởi bỏ hành lý ra, thấy

khơng khác gì lúc còn trên đảo, những bàn ghế giường tủ trong phòng ngủ cũng giống hệt. Lúc ấy trời



đã tối bèn ngủ đêm ở đó.

Sáng hơm sau Phương Vân bảo Vương về đón cha mẹ. Vương sai thắng ngựa phóng về làng cũ, tới

nơi thì nhà cửa đã thuộc về người khác. Hỏi người làng mới biết mẹ và vợ đều đã chết, chỉ còn cha

già. Con trai Vương mê cờ bạc bán sạch nhà cửa ruộng vườn, ông cháu không có chỗ ở phải th nhà

tại thơn tây trú ngụ. Vương lúc mới trở về vẫn còn ý niệm cơng danh chưa dứt, khi nghe chuyện nhà

như thế trong lòng đau xót, thầm nghĩ nếu được giàu sang cũng chỉ như ảo ảnh. Bèn phóng ngựa qua

thơn tây thấy cha ăn mặc rách rưới, mặt mày già sọm rất thương xót, cha con gặp nhau khóc lạc cả

tiếng. Hỏi tới thằng con hư đốn thì đi đánh bạc chưa về, Vương bèn chở cha đi. Phương Vân lạy chào

xong, nấu nước mời cha chồng tắm rồi đưa áo gấm cho ông mặc, dọn phòng sạch cho ông nghỉ, kế lại

mời các bạn già cũ tới chơi với cha, phụng dưỡng còn hơn các nhà thế tộc.

Một hơm đứa con tìm tới, Vương cấm cửa không cho vào, chỉ cho hai mươi lượng vàng, sai người

nhắn rằng "Cầm về cưới vợ rồi lo làm ăn, nếu còn tới nữa thì sẽ đánh cho chết tươi”, đứa con khóc

lóc mà đi. Vương từ khi trở về rất ít giao du, nhưng nếu bạn cũ tình cờ tới thăm thì tiếp dãi ân cần,

khiêm nhường khác xa ngày trước. Riêng có Hồng Tử Giới vốn là bạn học thuở trước cũng là bậc

danh sĩ mà lận đận thì Vương giữ lại chơi rất lâu, thường kể chuyện kín cho nghe, biếu tặng rất hậu.

Được ba bốn năm thì Vương ơng mất, Vương bỏ hàng vạn quan tiền chôn cất, tống táng đủ lễ. Bấy giờ

con trai Vương đã lấy vợ, vợ kiềm thúc rất chặt chẽ nên cũng bớt cờ bạc. Ngày chôn cất Vương ông

nàng mới được ra mắt cha mẹ chồng, Phương Vân vừa gặp đã biết là người giỏi việc nhà bèn cho vợ

chồng ba trăm lượng vàng để mua ruộng đất nhà cửa. Hơm sau Hồng và con Vương tới thăm hỏi thì

lầu gác đều biến mất khơng biết là ở đâu.

Dị Sử thị nói: Có người đẹp bên cạnh là điều mà người ta mong cầu cả khi ở giữa nơi địa

ngục, huống chi là ở cõi hưởng thọ vô cùng sao? Địa tiên gả con gái đẹp xuống trần, chỉ sợ nơi

cửa khuyết của Thượng đế sẽ vắng vẻ khơng còn ai nữa. Nhưng kẻ khinh bạc thì bị tước giảm lộc

số, lý vốn là thế, sao người tiên lại không e ngại nhỉ? Song lời lẽ của người vợ đè nén y sao mà tai

ác thế?



143. Hồ Tứ Nương (Hồ Tứ Nương)

Trình Hiếu Ân người đất Kiếm Nam (tỉnh Tứ Xuyên), lúc trẻ rất thông minh, giỏi văn chương.

Cha mẹ đều mất sớm, nhà nghèo không có chút của cải, khơng biết làm gì để sống, tới xin làm thuê giữ

việc sổ sách cho quan Thông chính ty họ Hồ. Ơng Hồ sai làm văn để thử tài, rất hài lòng, nói "Người

này khơng nghèo mãi được, có thể gả con gái cho”. Ơng Hồ có ba trai bốn gái, đều đã hứa cưới gả

cho các nhà đại gia ngay từ lúc mới sinh ra, chỉ có con gái út là Tứ Nương là con người thiếp, mẹ mất

sớm nên đến tuổi cập kê vẫn chưa hứa gả cho ai, bèn gả cho Trình. Có kẻ chê cười cho rằng ông Hồ

già nua lú lẫn, nhưng ông không hề đếm xỉa tới, cắt nhà cho sinh ở, chu cấp rất đầy đủ. Các công tử

khinh bỉ khơng thèm ngồi ăn chung với Trình, bọn tơi tớ cũng về hùa. Sinh im lặng không so hơn kém,

chỉ ra sức học hành. Bọn họ dè bỉu chê bai, Trình vẫn học hành khơng nghỉ, họ làm ầm ĩ cạnh chỗ học

thì Trình mang sách vào phòng vợ ngồi đọc. Lúc trước khi Tứ Nương chưa lấy chồng, có người thầy

bói giỏi biết số phận sang hèn xem tướng cho cả nhà đều không khen ngợi ai, chỉ khi Tứ Nương tới

mới nói "Cơ này đúng là bậc q nhân". Đến khi Tứ Nương lấy Trình, các chị em đều gọi là quý nhân

để chế nhạo. Nhưng Tứ Nương đoan chính cẩn trọng ít nói, cứ làm như khơng nghe thấy, dần dần tới

bọn tớ gái cũng gọi như vậy.

Tứ Nương có đứa tỳ nữ tên Quế Nhi nghe thế rất bực tức, nói lớn "Biết đâu lang quân nhà ta làm

nên bậc quý quan thì sao?". Người chị thứ hai của Tứ Nương nghe thấy khinh bỉ nói "Trình lang mà

làm được q quan thì kht tròng mắt ta đi". Quế Nhi tức giận nói “Chỉ sợ lúc ấy khơng móc tròng

mắt ra được thơi". Người chị thứ hai của Tứ Nương có đứa tỳ nữ tên Xuân Hương thấy thế nói “Nhị

Nương mà nuốt lời ta sẽ móc mắt thay cho". Quế Nhi càng tức tối đập tay Xn Hương lập lời thề, nói

"Đánh cuộc hai tròng mắt đấy". Nhị Nương giận là hỗn láo tát Quế Nhi, Quế Nhi kêu gào rầm rĩ, phu

nhân nghe biết chuyện nhưng không biết bênh vực ai, chỉ nhếch mép cười. Quế Nhi về kêu khóc với

Tứ Nương, Tứ Nương đang kéo sợi khơng tức giận cũng khơng nói gì, chỉ bình thản kéo sợi như khơng

nghe thấy.

Gặp ngày sinh nhật của ông Hồ, các con rể đều tới mang quà mừng thọ chất đầy sân. Đại Nương

đùa hỏi Tứ Nương “Nhà ngươi mừng thọ vật gì?", Nhị Nương nói “Hai con mắt mang một cái mồm",

Tứ Nương thản nhiên khơng hề tỏ vẻ xấu hổ, mọi người thấy nói gì nàng cũng như khơng hiểu, càng

xúm vào chế nhạo. Chỉ có người thiếp u của ơng Hồ là Lý thị, mẹ ruột của Tam Nương là coi trọng

Tứ Nương, thường quan tâm thương xót nàng, vẫn nói với Tam Nương rằng "Tứ Nương bên trong

thơng minh mà bề ngồi chất phác, giữ kín khơn ngoan khơng để lộ ra, bọn ranh con kia đều khơng tự

biết mình đang trong cõi bao la, huống hồ Trình lang ngày đêm ra sức học hành, há lại ở dưới người

măi sao? Con đừng có học thói xấu của họ, cứ đối xử với nàng cho tốt, ngày khác còn dễ nhìn mặt

nhau”, nên Tam Nương mỗi khi về thăm nhà vẫn trò chuyện vui vẻ với Tứ Nương. Năm ấy Trình nhờ

ơng Hồ được vào học trường huyện, năm sau quan Học sứ về khảo thí sĩ tử thì ơng vừa chết, Trình cư

tang như con ruột, chưa được dự thi. Kế mãn tang, Tứ Nương đưa tiền cho bảo lên đường dự thi khoa



Di tài, dặn rằng "Trước nay ở đây lâu mà khơng bị đuổi đi là nhờ có cha già còn sống, nay thì mn

phần khơng được nữa, nếu chàng thi đỗ thì may ra lúc trở về mới có nhà ở thơi". Lúc Trình lên đường,

Lý thị và Tam Nương tặng tiễn rất hậu. Trình vào trường ra sức nghiền ngẫm làm bài, quyết tâm thi đỗ

bằng được. Nhưng khơng bao lâu ra bảng thì bị đánh rớt, rầu rĩ uất ức khó nỗi trở về. May là trong túi

còn tiền, bèn lên đường vào kinh. Lúc ấy bên nhà vợ có nhiều người làm quan trong kinh, Trình sợ họ

biết được chế nhạo mĩa mai bèn thay tên đổi họ, khai dối quê quán xin náu thân ở nhà bậc quan lớn.

Quan Ngự sử họ Lý người Đơng Hải (huyện Diệm Thành tỉnh Sơn Đơng) gặp Trình rất quý trọng,

nhận làm môn khách, giúp cho tiền bạc học hành, nộp tiền mua cho chức Cống sinh bảo ứng thí ở phủ

Thuận Thiên. Trình thi mấy kỳ đều đỗ, được trao chức Thứ Cát sĩ, lúc ấy bèn nói thật mọi chuyện.

Ơng Lý cho mượn ngàn lượng vàng, sai người tới Kiếm Nam mua nhà cho Trình trước. Lúc ấy Hồ Đại

Lang vì cha chết nên bán những nhà đẹp ruộng tốt nhân mua lấy, sau đó sai xe ngựa tới đón Tứ Nương.

Trước là khi Trình thi đỗ Tiến sĩ có người tới báo tin mừng, cả nhà nghe thấy phát ghét, lại nhìn thấy

tên họ khơng phải là Trình bèn qt đuổi đi. Gặp hơm Tam Lang cưới vợ, khách khứa thân thích tới ăn

mừng, các anh chị em đều có mặt, chỉ Tứ Nương là khơng được anh trai chị dâu gọi tới. Chợt có một

người chạy vào dâng thư của Trình gởi Tứ Nương, các anh em mở ra xem, nhìn nhau tái mặt. Khách

khứa thân thích trong tiệc đều xin gặp Tứ Nương, các chị em đều lo lắng chỉ sợ Tứ Nương căm hòn

khơng chịu tới.

Khơng bao lâu thấy nàng thong thả bước vào, kẻ thì chúc mừng, kẻ thì mời ngồi, kẻ thì hỏi thăm

ầm ĩ cả phòng. Ai nghe cũng nghe Tứ Nương, ai nhìn cũng nhìn Tứ Nương, ai nói cũng nhắc Tứ

Nương, nhưng Tứ Nương vẫn bình thản như cũ. Mọi người thấy nàng vẫn thế cũng hơi yên tâm, rồi đó

tranh nhau rót rượu mời Tứ Nương. Đang lúc ăn uống vui vẻ, chợt ngồi cửa có tiếng kêu khóc rất

gấp, cả tiệc lạ lùng hỏi nhau, chợt thấy Xuân Hương chạy xộc vào, mặt mũi đầy máu. Mọi người cùng

hỏi, cơ ta chỉ khóc khơng đáp, Nhị Nương quát hỏi mới mếu máo thưa “Quế Nhi đòi móc tròng mát

con, nếu khơng giảng ra được thì đã bị nó khoét mắt rồi". Nhị Nương sượng ngắt, mồ hơi tốt ra chảy

trơi hết cả son phấn, Tứ Nương vẫn im lặng. Cả tiệc im lặng không ai nói một câu, khách khứa thấy thế

lục tục chào về. Tứ Nương ăn mặc đẹp đẽ, chỉ lạy chào Lý phu nhân và Tam Nương rồi lên xe đi, mọi

người mới biết người mua nhà ruộng là Trình. Tứ Nương vừa về tới nhà mới, đồ dùng còn thiếu thốn,

phu nhân và các công tử đều tặng đầy tớ vật dùng nhưng Tứ Nương khơng nhận gì cả, chỉ nhận một tỳ

nữ của Lý phu nhân tặng.

Khơng bao lâu Trình về dự đám giỗ, xe ngựa tùy tùng đông đặc như mây, tới nhà nhạc gia vào lạy

linh cữu ông Hồ, kế lạy chào Lý phu nhân, các công tử vừa đội mũ mặc áo xong ra chào thì Trình đã

lên kiệu đi rồi. Ơng Hồ chết, các cơng tử hàng ngày cứ lo tranh giành gia tài khơng ngó ngàng gì tới

linh cữu, qua mấy năm chỗ quàn quan tài hư dột, chỉ tạm lấy nhà rộng làm lăng mộ mà thơi. Trình thấy

thế đau xót, cũng khơng bàn bạc với các công tử, chọn ngày chôn cất, mọi nghi lễ đều lo liệu đầy đủ.

Ngày tống táng mũ lọng chen chúc tới thăm viếng, xóm giềng đều ca ngợi. Hơn mười năm sau Trình

làm quan lớn, phàm gặp những người làng có chuyện nguy cấp đều hết sức giúp đỡ. Kế Nhị Lang giết

người bị bắt, việc đưa tới quan Tuần phương là bạn đồng khoa với Trình, tin tức rất gấp. Đại Lang



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đảo Tiên (Tiên Nhân Đảo)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×