Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nàng Hoa Cô (Hoa Cô Tử)

Nàng Hoa Cô (Hoa Cô Tử)

Tải bản đầy đủ - 0trang

đã gọi ông già dậy chào về.

Về tới nhà, sinh lập tức nhờ bạn thân tới cầu hôn, nhưng họ đi trọn ngày trở về mà khơng tìm được

nhà cơ gái. An bèn sai đầy tớ thắng ngựa tìm đường lần tới. Tới nơi chỉ thấy vách núi cao ngất khơng

có xóm làng nào, hoi thăm thơn xóm gần đó thì có rất ít người họ Chương. An thất vọng ra về, bỏ cả

ăn ngủ, từ đó mắc bệnh chống váng, gượng húp chút nước cháo thì nơn nao muốn mửa, lúc mê sảng

cứ gọi nàng Hoa Cô. Người nhà không hiểu ra sao, chỉ suốt đêm vây quanh chăm sóc nhưng bệnh tình

ngày càng nguy ngập. Một đêm những người chăm sóc mệt mỏi ngủ cả, sinh mơ màng thấy có người

lay, hé mắt nhìn thì thấy Hoa Cơ Tử đứng ngay bên giường, bất giác tỉnh táo hẳn, nhìn nàng chằm chằm

ứa nước mắt.

Cơ gái nghiêng đầu cười nói "Chú nhỏ ngây sao lại tới nơng nỗi này?”, rồi lên giường ngồi trên

đùi An, lấy hai tay day huyệt thái dương. An thấy có mùi xạ hương thơm ngát xộc vào mũi thấm tận

xương. Nàng day một lúc An chợt thấy trán đổ mồ hôi, dần dần thân thể chân tay cũng thế. Nàng nói

nhỏ "Trong phòng có nhiều người, thiếp ở lại không tiện, ba ngày nữa sẽ tới thăm chàng". Lại lấy trong

tay áo thêu ra mấy cái bánh bao đặt lên đầu giường rồi lặng lẽ ra đi. Đến nửa đêm An ra hết mồ hơi

thấy đói bèn lấy bánh ăn, khơng biết nhân gì mà thơm ngon lạ thường, ăn liền ba cái rồi lấy áo đậy lên

chỗ còn lại thiếp đi. Trời sáng hẳn mới tỉnh giấc, thấy như trút được gánh nặng. Ba ngày ăn hết bánh,

tinh thần càng sảng khoái bèn cho người nhà ra hết. Lại sợ cô gái tới không vào được bèn lén ra chỗ

sân thông vào thư phòng mở hết then cửa.

Khơng bao lâu quả nhiên cơ gái tới, cười nói "Chàng ngây khơng tạ ơn bà lang à?". An mừng quá

ôm lấy nàng cùng giao hoan, ân ái hết mực. Kế cơ gái nói "Thiếp mạo hiểm chịu tiếng xấu chỉ vì báo

đáp ơn lớn chứ thật không thể chung sống với nhau mãi mãi, xin chàng sớm liệu chia tay". An im lặng

hồi lâu rồi hỏi "Vốn bình sinh đã quen biết gia đình nàng ở đâu, quả thật không nhớ". Cô gái không

đáp, chỉ nói "Chàng tự nghĩ thì biết". Sinh nài nĩ xin được gàn bó dài lâu, nàng nói “Đêm nào cũng lén

tới thì khơng xong, mà lấy nhau như vợ chồng cũng khơng được ". An nghe nói vơ cùng buồn bã, cơ

gái bèn nói "Nếu muốn cưới nhau, đêm mai xin mời chàng tới nhà thiếp". An bèn đổi buồn làm vui,

hỏi "Đường sá xa xôi, chân nàng nhỏ bé làm sao tới đây được?", cô gái đáp "Thiếp vốn chưa về nhà,

bà điếc bên láng giềng là hàng dì của thiếp, vì việc chàng mà nấn ná đến nay, sợ ở nhà lo lắng”. An

cùng nàng ngủ chung, chỉ thấy hơi thở da thít đều thơm ngát bèn hỏi "Nàng xơng loại hương gì mà thấm

cả vào da thịt thế?”, cô gái đáp “Thiếp sinh ra đã thế, không phải do xông hương đâu”, An càng lấy

làm lạ.

Sáng ra nàng dậy từ biệt, An sợ lạc đường, nàng hẹn sẽ chờ trên dường. Chiều tối An phóng ngựa

đi, quả thấy cô gái đứng chờ, đưa tới chỗ cũ. Hai ông bà vui vẻ đón tiếp, cơm rượu không có món nào

ngon, có cả những thứ rau tạp. Kế mời khách đi nghỉ, cơ gái khơng nhìn ngó gì tới, An càng nghi ngại.

Mãi đến khuya nàng mới tới nói "Cha mẹ cứ rì rầm khơng ngủ khiến chàng phải chờ lâu," Hai người

quấn qt cả đêm, nàng nói với An "Gặp mặt đêm nay rồi xa nhau trăm năm đấy". An ngạc nhiên hỏi,

nàng đáp "Cha thấy xóm nhỏ này lẻ loi vắng vẻ nên sắp dời nhà đi xa, gặp gỡ chàng đêm nay nữa là

thôi". An không nỡ buông nàng ra, ngẩng lên cúi xuống than thở, đang còn lưu luyến thì trời sáng dần,



chợt ơng già sấn vào mắng "Con nhãi làm nhơ nhuốc gia phong khiến ta nhục nhã muốn chết!". Cô gái

tái mặt vội vàng chạy mất, ông già cũng bước ra, vừa đi vừa mắng. An sợ hãi quýnh quáng, không biết

làm sao đành lẻn ra trốn về.

Mấy ngày bồi hồi, trong lòng bứt rứt không yên, nhân nghĩ đến đêm lần tới trèo tường vào xem

sao, ơng già đã nói ta có ơn với họ thì dù việc lộ ra chắc cũng khơng trách móc nặng lời. Bèn nhân

đêm tối lẻn tới, lần mò trong núi, lạc lối khơng biết đi đường nào, sợ quá đang tìm lối về thì thấy

trong hốc núi thấp thống có nhà cửa. Mừng rỡ đi tới thấy tường cao cổng rộng như nhà thế gia, mấy

lớp cổng còn chưa đóng. Hỏi thăm nhà họ Chương thì có một người tỳ nữ ra hỏi là ai mà đang đêm hỏi

thăm nhà họ Chương, An đáp "Đó là người quen với ta, ngẫu nhiên quên mất nhà". Người tỳ nữ nói

"Chàng trai khơng phải hỏi họ Chương nữa, đây là nhà mợ nàng, Hoa Cô hiện đang ở đây, để ta vào

báo". Trở vào khơng bao lâu thì quay ra mời An vào, vừa vào tới hành lang thì Hoa Cơ đã rảo bước

ra đón, nói với người tỳ nữ "Chàng An lặn lội đến nửa đêm chắc đã mệt lắm, mau sửa soạn chỗ ngủ

đi!".

Lát sau dắt tay An vào màn, An hỏi sao trong nhà không có ai khác, cơ gái đáp "Mợ đi vắng, để

thiếp ở lại trông nhà, may được gặp chàng, há không phải là duyên số ư?", nhưng trong lúc dựa kề An

lại thấy rất hơi tanh, trong lòng ngờ có điều lạ. Cô gái ôm cổ An, thè lưỡi liếm vào lỗ mũi, thấy như

mũi kim đâm đau thấu tận óc. An sợ quá vội vàng giãy giụa nhưng thân thể như bị thùng lớn trói chặt,

giây lát ngất đi khơng biết gì nữa. An khơng về, người nhà tìm kiếm khắp nơi, có người nói chiều tối

gặp An trên đường núi. Người nhà vào núi tìm thì thấy An trần truồng nằm chết dưới vách đá cao ngất,

khiếp hãi lạ lùng khơng hiểu vì sao. Cáng về tới nhà, cả nhà đang xúm lại than khóc thì có một nữ lang

tới viếng, từ ngồi cổng gào khóc đi vào, vỗ thây day mũi An, nước mắt ròng ròng kêu lớn "Trời ơi,

trời ơi, sao mà ngu dại như thế”, gào khóc khản cả tiếng lát sau mới nín, nói với người nhà "Xin để đó

bảy ngày đừng liệm". Mọi người khơng biết là ai, toan hỏi thì cơ gái khơng buồn chào hỏi, nuốt nước

mắt đi thẳng ra, mời giữ cũng khơng ngoảnh lại. Đi theo thì trong chớp mắt đã biến mất, mọi người

ngờ là thần bèn kính cẩn vâng lời.

Đêm nàng lại tới khóc như hơm trước, qua bảy đêm chợt An tỉnh lại trở mình rên rỉ, người nhà

đều kinh hãi. Cơ gái bước vào nhìn nhau nghẹn ngào, An giơ tay xua mọi người lui ra. Cơ gái lấy ra

một bó cỏ, nấu với một đấu nước cho uống ngay trên giường. Giây lát An nói được, thở dài nói "Giết

ta lần nữa là nàng mà cứu ta lần nữa cũng là nàng", nhân kể lại những việc đã gặp. Cơ gái nói "Đó là

con tinh rắn giả làm thiếp, trước đây chàng lạc đường lần đầu nhìn thấy ánh đèn chính là nó đấy". An

hỏi "Nàng có thể làm cho người chết sống lại, xương khô mọc thịt như thế, không phải là tiên sao?”.

Cô gái đáp "Đã định nói ra từ lâu nhưng sợ chàng sợ hãi. Năm năm về trước chàng đi trong núi Hoa

Sơn có mua con chương người ta săn được rồi thả ra phải khơng?”. An đáp "Đúng là có việc ấy".

Nàng nói "Con chương ấy chính là cha thiếp, trước đây thiếp nói chàng có ơn lớn chính vì cớ đó.

Hơm trước chàng đã đầu thai vào nhà Chủ chính họ Vương ở thơn Tây, thiếp cùng cha kiện với Diêm

Vương nhưng Diêm Vương không nghe. Cha thiếp xin hủy đạo chết thay chàng, năn nỉ bảy ngày mới

xong. Nay được gặp nhau là may mắn lắm, nhưng chàng tuy sống vẫn bị bại liệt, phải lấy được máu



rắn ấy hòa với rượu mà uống thì mới khỏi”. Sinh căm hờn nghiến răng nhưng lo khơng có phép gì bắt

được. Cơ gái nói "Chuyện ấy khơng khó, nhưng giết nhiều sinh linh sẽ làm lụy cho thiếp trăm năm

không được lên tiên thơi. Hang của nó ở sườn núi cũ, cứ chờ lúc sắp trưa chất cỏ mà đốt, bên ngồi

chuẩn bị cung cứng thì sẽ bắt được u vật". Dứt lời cáo biệt, nói "Thiếp khơng thể thờ chàng trọn

đời, thật rất đau lòng, nhưng vì việc của chàng mà công phu tu hành đã mất bảy phần, xin chàng thương

xót cho. Một tháng nay máy động, sợ là nghiệt căn, còn là trai hay gái năm sau sẽ gởi lại thôi", rồi rơi

lệ ra đi.

Qua đêm, An thấy từ thắt lung trở xuống như chết rồi, cấu véo khơng biết đau, bèn đem lời cơ gái

nói với người nhà. Người nhà tới nơi làm như lời nàng, chất lửa đốt hang thì có con rắn lớn màu trắng

xông qua lửa trườn ra, bao nhiêu cung nỏ cùng châu vào bắn chết. Khi lửa tắt vào hang thì thấy mấy

trăm con rắn lớn nhỏ chết thui khét lẹt. Người nhà đem về lấy máu rắn cho An uống, ba ngày thì hai

chân dần dần xoay trở được, nửa năm mới đứng dậy nổi. Sau đó một mình vào núi, gặp bà già ơm

mảnh chiếu cói làm tã bọc một đứa bé trao cho, nói "Con gái già gởi cho lang qn", toan hỏi thăm thì

chớp mắt đã khơng thấy đâu, giở ra xem thì là con trai, bèn bế về nhà rồi không lấy vợ nữa.

Dị Sử thị nói: Con người khơng khác cầm thú bao nhiêu, lời ấy chưa hẳn đã đúng đâu. Mang

ơn mà lo đền đáp, đến chết vẫn khơng thơi thì con người cũng có chỗ phải thẹn với cầm thú đấy.

Tới như Hoa Cơ lúc đầu thì gởi khơn ngoan ở chỗ ngây ngốc, sau rốt lại gởi tình cảm ở chỗ lơ là,

mới biết người ngây ngốc thì rất khơn ngoan, người lơ là thì rất tình cảm. Tiên thì như thế chăng,

tiên thì như thế chăng!



134. Cơng Chúa Tây Hồ (Tây Hồ Chủ)

Trần sinh tên Bật Giáo, tự Minh Doãn là người đất Yên (tỉnh Hà Bắc). Nhà nghèo, theo Phó tướng

quân Giả Quán làm chức Ký thất, đậu thuyền trên hồ Động Đình, có con thuồng luồng nổi lên mặt

nước bị Giả bắn trúng lưng. Có con cá ngậm đi thuồng luồng không nhả ra cũng bị bắt, kéo lên

thuyền chỉ còn thoi thóp, nhưng con thuồng luồng cứ há miệng ngáp như xin cứu. Sinh động lòng trắc

ẩn xin Giả tha ra, sẵn trong túi có thuốc trị thương bèn đùa lấy buộc vào vết thương rồi thả xuống

nước, nó lặn hụp giây lát rồi mất tăm. Hơn năm sau sinh về bắc lại qua hồ Động Đình, bị gió lớn lật

thuyền, may vớ được một cái ống tre, vật vờ cả đêm mới vướng gốc cây dừng lại, sinh bèn leo lên bờ.

Có xác chết trơi theo dạt vào, nhìn xem té ra là đứa tiểu đồng, cố sức kéo lên thì đã chết cứng. Sinh

đau xót buồn bã ngồi cạnh cái xác nghỉ mệt, chỉ thấy thấy núi con chồng biếc, liễu nhỏ vờn xanh,

chẳng có ai qua lại mà hỏi thăm đường sá.

Từ sáng sớm đến q giờ Thìn buồn rầu khơng biết đi đâu, chợt thấy xác đứa tiểu đồng khẽ động

đậy, mừng rỡ vỗ gọi, giây lát nó nơn ra mấy đấu nước rồi tỉnh lại. Liền cùng nhau phơi quần áo trên

tảng đá, gần trưa thì khơ mặc lại được, nhưng trong bụng cồn cào đói khơng chịu nổi. Bèn dắt nhau

vượt mau qua núi mong gặp xóm làng, vừa lên tới lưng núi thì nghe tiếng lục lạc đang lắng tai nghe thì

thấy hai thiếu nữ cưỡi ngựa phóng tới vó ngựa khua ran, đều đội khăn hồng bịt trán, búi tóc cắm lơng

trĩ, mặc áo tía chít tay, thắt lưng gấm xanh, vai mang cung tên. Qua khỏi đỉnh núi thấy mấy mươi kỵ mã

đang săn bắn trong đám gai góc, đều là mỹ nữ, ăn mặc như nhau. Sinh không dám đi nữa, chợt có một

người đàn ơng đi bộ tới, thấy như lính chăn ngựa bèn ra hỏi thăm. Người ấy đáp "Đó là cơng chúa Tây

Hồ lên Thủ Sơn săn bắn”. Sinh kể lại chuyện mình, nói cả việc đang đói, người lính mở túi lấy gói

cơm đưa cho rồi dặn "Nên tránh cho xa, phạm giá là chết đấy”.

Sinh sợ hãi vội rảo bước xuống núi, thấy trong đám rừng rậm thấp thống có điện gác, cho là chùa

chiền, tới gần xem thì thấy tường qt vơi trắng ngồi có khe suối chảy qua, cổng son mở hờ trong có

cầu đá đi vào. Sinh vịn cánh cửa nhìn vào thấy đài tạ san sát như vườn Thượng uyển trong cung vua,

lại ngờ là vườn nhà quan. Dò dẫm lần vào, thấy dây mây bò ngang, đá lạ chắn lối, mùi hoa thơm ngát.

Qua mấy thỗ rẽ lại là một nơi viện gác khác, có vài mươi cây dương liễu cao chạm hiên nhà, chim núi

kêu một tiếng thì hoa liễu cùng bay, gió vườn thổi thống qua thì lá cây tự rụng, cành vật đẹp mắt thỏa

lòng khác hẳn cõi trần. Đi xuyên qua tiểu đình tới một giá đu cao tận mây xanh, nhưng dây buộc đong

đưa, vắng vẻ khơng có ai nên ngờ là gần nơi khuê các, e ngại không dám vào nữa. Chợt nghe tiếng

ngựa hí ran ngồi cổng rồi như có tiếng con gái cưỡi nói, sinh và tiểu đồng vội núp vào khóm hoa dày.

Khơng bao lâu tiếng cười nói tới gần, nghe một nàng nói "Hơm nay đi săn khơng may, chẳng săn

được bao nhiêu”, lại một nàng nói "Nếu khơng có cơng chúa bắn rơi một con nhạn thì hơm nay chỉ hao

tốn sức người sức ngựa vơ ích". Giây lát có mấy nàng áo đỏ đỡ một nữ lang lên ngồi trong tiểu đình,

mặc nhung phục chít tay, tuổi khoảng mười bốn mười lăm, tóc mượt lồng mây, lưng thon đảo gió, nhụy

ngọc hoa vàng cũng khơng ví được. Bọn tỳ nữ dâng trà đốt hương, khói cuốn như gấm chất. Giây lát cô



gái đứng lên bước xuống thềm, một tỳ nữ nói "Cơng chúa cưỡi ngựa mệt nhưng còn chơi du được

khơng?", cơng chúa cười gật đầu, liền có kẻ đỡ vai người xốc nách, kẻ xắn quần người cầm giày đỡ

nàng lên đu. Công chúa duỗi hai cánh tay trắng như ngọc nắm dây đu, nhún chân trần nhẹ nhàng như

chim én lên tới mây xanh. Kế bọn tỳ nữ lại đỡ nàng xuống, cùng nói "Cơng chúa thật là nàng tiên", rồi

cười nói râm ran đi về.

Sinh nhìn trộm hồi lâu, thần hồn điên đảo, chờ lúc tiếng cười nói đã tắt hẳn bèn bước tới dưới

chiếc đu bồi hồi tơ tưởng, chợt thấy cạnh rào có chiếc khăn đỏ, biết là của người đẹp làm rơi mừng rỡ

nhặt lấy cho vào tay áo. Bước lên tiểu đình thấy trên bàn có bút mục bèn đề một bài thơ vào khăn rằng

"Nhã hý hà nhân nghĩ bán tiên, Phân minh Quỳnh nữ tán kim liên. Quảng Hàn đơi lý ưng tương đố,

Mạc tín lăng ba tiện thượng thiên” (Trên đu mỹ lệ tựa tiên nga, Quỳnh nữ Dao đài giỡn rắc hoa,

Nguyệt điện Hằng Nga ghen sắc đẹp, Đừng tin gót ngọc tới trời xa). Đề xong ngâm nga rồi đi ra, quay

lại lối cũ thì mấy lớp cửa đã đóng chặt. Sinh ngần ngừ khơng biết tính sao bèn trở vào dạo xem gần

hết các nơi lầu gác. Chợt một cô gái tới, ngạc nhiên hỏi sao vào được đây, sinh vái chào nói "Ta là kẻ

lạc đường, xin ra ơn cứu cho”. Nàng hỏi có nhặt được chiếc khăn đỏ khơng, sinh đáp "Thưa có, nhưng

đã bơi bẩn vào rồi, làm sao bây giờ?", rồi đưa chiếc khăn ra. Cô gái cả kinh nói "Ngươi chết khơng

có đất chơn rồi. Khăn này là đồ ngự dụng của công chúa, bôi lem luốc vào thế này thì làm sao!". Sinh

tái mặt năn nỉ cứu giúp cho, cơ gái nói “Cái tội lén vào cung cấm dòm dỏ đã khơng tha được rồi, ta

thấy ngươi là học trò nho nhã cũng có ý chu tồn cho, giờ lại tự gây tai vạ thì ta làm sao giúp nổi", rồi

cuống quýt cầm chiếc khăn chạy đi.

Sinh lo sợ nơm nớp, hận là khơng có cánh mà bay đi, chỉ còn cách vươn cổ chờ chết. Hồi lâu cơ

gái trở lại khẽ chúc mừng nói "Chàng có cơ được sống rồi. Công chúa xem đi xem lại chiếc khăn mấy

lần, khơng hề tỏ vẻ tức giận, có khi sẽ tha cho chàng đi. Cứ chịu khó chờ ở đây, đừng có vịn cây leo

tường nhìn ngó gì, nếu bị bắt gặp sẽ không được tha đâu”. Trời đã xế chiều, lành dữ ra sao sinh khơng

đốn chắc được, mà lửa đói thiêu đốt trong bụng thấy như sắp chết. Không bao lâu cô gái cầm đèn đi

tới, có một tỳ nữ bưng hộp thức ăn và bầu rượu dọn ra cho sinh ăn. Sinh vội hỏi tin tức, nàng hỏi "Vừa

rồi ta thừa dịp thưa chàng Tú tài trong vườn thả được thì thả, nếu khơng người ta sẽ chết đói. Cơng

chúa ngẫm nghĩ rồi nói "Đêm hôm khuya khoắt bảo người ta đi đâu”, rồi sai đem cơm ra cho chàng

ăn, thế thì khơng phải là điềm dữ". Sinh suốt đêm nơm nớp không sao yên tâm, đến hết giờ Thìn cơ gái

lại đem cơm ra cho ăn. Sinh năn nỉ nhờ xin giùm, nàng nói "Cơng chúa khơng nói giết cũng khơng nói

tha, ta là kẻ hầu hạ đâu dám thưa gởi lằng nhằng”.

Kế mặt trời ngã về tây, sinh vẫn chờ đợi không thôi, chợt cơ gái thở hổn hển chạy tới nói "Chết

rồi, có người lắm lời đã nói cho vương phi biết, vương phi mở chiếc khăn xem rồi ném xuống đất,

mắng ầm lên là ngơng cuồng, tai họa khơng còn xa đâu”. Sinh cả kinh, mặt khơng còn sắc máu, quỳ rạp

xuống đất van xin. Chợt nghe tiếng người nhao nhao kéo tới, cơ gái phẩy tay tránh đi, liền có mấy

người cầm dây ào ào kéo vào. Trong bọn có một tỳ nữ nhìn kỹ sinh rồi nói “Tưởng ai, té ra là Trần

lang!", rồi ngăn những người cầm dây lại, nói “Hãy khoan, hãy khoan, đợi ta bẩm với vương phi đã!!.

Rồi quay người chạy mau đi, giây lát trở lại nói "Vương phi mời Trần lang vào" sinh run rẩy đi theo.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nàng Hoa Cô (Hoa Cô Tử)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×