Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ngưu Thành Chương (Ngưu Thành Chương)

Ngưu Thành Chương (Ngưu Thành Chương)

Tải bản đầy đủ - 0trang

127. Thanh Nga (Thanh Nga)

Hoắc Hồn tự Khng Cửu là người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây). Cha làm quan Huyện úy, mất sớm lúc

sinh còn rất nhỏ. Sinh thơng minh hơn người, mười một tuổi đã nổi tiếng thần đồng, được vào học

trường huyện, Nhưng mẹ thương con quá mức, cấm ra khỏi sân nhà nên mười ba tuổi vẫn khơng phân

biệt được chú bác cơ cậu. Trong làng có Bình sự họ Vũ mộ đạo thần tiên, vào núi tu luyện khơng về,

có con gái tên Thanh Nga mười bốn tuổi nhan sắc tuyệt đẹp, thuở nhỏ đọc trộm sách vở của cha, vốn

[158]



thích Hà tiên cơ

. Lúc cha vào núi ở ẩn rồi nàng lập chí khơng lấy chồng, mẹ cũng không biết làm

sao. Một hôm sinh gặp nàng ngồi cổng, trẻ con chưa biết gì chỉ thấy rất u mến khơng nói nên lời về

nói thật với mẹ, xin nhờ người dạm hỏi.

Mẹ biết là không xong nên ngần ngại, sinh buồn bực không vui, mẹ sợ con buồn bèn nhờ người tới

ngỏ ý, quả nhiên họ Vũ từ chối, sinh đứng ngồi lo nghĩ không biết tính sao. Gặp lúc có vị đạo sĩ tới

cổng, cầm cái xẻng nhỏ dài khoảng một thước, sinh mượn xem qua một lượt, hỏi dùng vào việc gì.

Đạo sĩ nói "Để đào lấy thuốc, tuy nhỏ nhưng có thể đào thủng đá cứng". Sinh chưa tin lắm, đạo sĩ lập

tức chém vào viên đá trên tường, viên đá theo tay rơi xuống mà nát ra như đậu phụ, sinh rất lạ lùng,

cầm ngắm không nỡ rời tay. Đạo sĩ cười nói "Cơng tử đã thích thì ta xin tặng", sinh cả mừng lấy tiền

trả ơn nhưng đạo sĩ không nhận, chào đi. Sinh cầm về chém thử vào gạch đá khơng gì khơng vỡ, bèn

nghĩ dùng kht tường thì có thể thấy được mặt mỹ nhân mà không hề biết đó là chuyện phạm pháp.

Đến khuya yên ắng bèn trèo tường ra đi, thẳng tới nhà họ Vũ, khoét qua hai lớp tường mới vào tới

sân giữa. Thấy trong gian phòng nhỏ còn đèn, núp nhìn vào thấy Thanh Nga đã mặc đồ ngủ. Giây lát

đèn tắt, bốn bề không một tiếng động, sinh kht tường vào thì cơ gái ngủ say. Bèn khẽ cởi giày leo lên

giường, lại sợ cơ gái giật mình tỉnh dậy sẽ qt mắng đuổi đi nên nằm phục xuống cạnh chiếc chăn

thêu, lắng nghe hơi thở thơm ngát, tự thấy được an ủi rất nhiều. Nhưng vì suốt nửa đêm đào khoét, đã

quá mệt mỏi nên vừa nhắm mắt lại bất giác đã ngủ ln. Cơ gái tỉnh dậy nghe tiếng ngáy khò khò, mở

mắt ra nhìn thấy ánh sáng lọt vào chỗ vách bị khoét thủng, cả sợ choàng dậy khẽ lay đứa tỳ nữ mở cửa

rón rén bước ra, gõ cửa sổ gọi bọn đàn bà trong nhà cùng thắp đuốc cầm gậy kéo tới. Thấy một cậu

học trò tóc còn để chỏm ngủ say trên giường, nhìn kỹ biết là Hoắc sinh, lay gọi mới tỉnh. Sinh vùng

dậy, mắt long lanh như sao băng, như cũng khơng sợ sệt gì lắm, chỉ thẹn thùng khơng nói câu nào.

Mọi người chỉ trỏ mắng là giặc cướp, quát tháo dọa dẫm, sinh mới rơi nước mắt nói “Ta khơng

phải là giặc cướp, thật lòng chỉ vì u mến nương tử, muốn được gần gũi hương thơm một lần thôi".

Mọi người lại ngờ việc khoét qua mấy lớp tường vách không phải sức đứa trẻ con làm được, sinh đưa

cái xẻng cho họ xem, nói rõ sự lạ lùng. Họ cùng thử cũng hoảng sợ, ngạc nhiên coi là của thần cho,

định cùng tới báo cho phu nhân. Cô gái cúi đầu suy nghĩ như có ý khơng muốn, mọi người đốn biết ý

nàng bèn nói “Anh chàng này cũng là con nhà có tiếng tăm, chẳng có gì là nhục nhã, chẳng bằng cứ thả

về cho để cậy mai mối lại tới vậy, còn sáng ra cứ thưa với phu nhân là có trộm vào nhà là được chứ

gì?". Cơ gái khơng đáp, mọi người bèn giục sinh đi, sinh đòi cái xẻng, họ cùng cười nói "Chú nhỏ khờ



vẫn khơng qn cái vật hung dữ này à?". Sinh liếc thấy cạnh gối có một chiếc thoa, lén nhét vào tay

áo, bị đứa tỳ nữ trông thấy mách ngay với cô gái nhưng nàng khơng nói gì cũng khơng tức giận, một bà

già vỗ vào gáy sinh nói “Đừng nói tới chuyện khờ khác, chỉ cái ý ấy thôi cũng đã sai trái lắm rồi" rồi

kéo ra, sinh lại qua lỗ tường thủng ra về.

Về nhà sinh khơng dám nói thật với mẹ, chỉ xin mẹ cậy mai mối lại tới hỏi. Mẹ không nỡ từ chối

ra mặt, chỉ nhờ khắp các bà mối tìm gấp đám khác cho sinh. Thanh Nga nghe chuyện hoảng hốt, lén sai

người thân tín bắn tin cho mẹ sinh, bà mừng rỡ liền nhờ người mai mối tới. Gặp lúc đứa tỳ nữ nhỏ nói

lộ chuyện hơm trước ra, Vũ phu nhân lấy làm nhục nhã, vô cùng căm tức, thấy bà mụ tới càng tức giận,

cầm gậy vạch đất chửi mắng sinh, nhiếc móc ln bà mẹ. Bà mối sợ quá lủi về kể rõ tình hình, mẹ sinh

cũng nổi giận nói "Thằng ranh con làm những gì thì ta đều mờ mịt, sao lại vơ lễ với ta? Lúc bắt được

sao không giết đôi đãng nhi dâm phụ ln đi?", từ đó gặp họ hàng thân thuộc đều nói vung lên. Cơ gái

nghe chuyện xấu hổ muốn chết đi, Vũ phu nhân hết sức ăn năn nhưng khơng sao cấm được mẹ sinh

đừng nói. Cơ gái lại sai người tới năn nỉ mẹ sinh, lại thề không bao giờ lấy người khác, lời lẽ bi thiết.

Mẹ sinh cảm động, thôi không rêu rao nữa nhưng cũng bỏ luôn ý định cầu hôn. Gặp lúc ông Âu ở

Tần Trung (tỉnh Thiểm Tây) tới làm Huyện lệnh ở đó, đọc văn của sinh rất quý trọng, thường gọi vào

dinh chơi, đối xử rất tử tế. Một hôm ông hỏi sinh có vợ chưa, sinh đáp chưa, ông hỏi kỹ hơn, sinh đáp

"Trước đã có hẹn ước với con gái quan Bình sự họ Vũ, sau vì chuyện xích mích nhỏ nên nửa đường

gãy gánh”. Ơng hỏi bây giờ còn muốn cưới nàng khơng, sinh đỏ mặt khơng đáp ơng cười nói "Ta sẽ tác

thành cho anh", rồi lập tức sai quan Huyện úy và Giáo dụ tới nộp sính lễ cho nhà họ Vũ. Vũ phu nhân

mừng rỡ, hôn ước mới định. Qua năm sau cô gái về nhà chồng, vào tới phòng ném cái xẻng xuống đất

nói "Đồ dùng làm giặc cướp này phải vứt đi", sinh cười nói "Đừng quên bà mối chứ”, rồi trân trọng

đeo bên người không rời lúc nào. Cô gái là người nhu mì trầm mặc, mỗi ngày tới hầu mẹ chồng ba lần

xong thì đóng cửa ngồi im lặng, khơng lưu ý lắm tới việc nhà.

Nhưng khi mẹ chồng ăn cưới điếu tang đi vắng, thì nàng coi sóc việc nhà đâu vào đấy. Hơn hai

năm sau nàng sinh một trai đặt tên là Mạnh Tiên, chỉ giao cho bà vú chăm sóc như cũng khơng thương

u gì lắm. Lại bốn năm năm sau, chợt nói với sinh "Tình dun vợ chồng đã tám năm, nay thì chia ly

dài lâu, sum họp ngắn ngủi, biết làm thế nào?”. Sinh cả kinh gạn hỏi, nàng chỉ im lặng, kế mặc quần áo

đẹp đẽ vào lạy mẹ chồng rồi quay về phòng, sinh theo vào hỏi thì nàng đã lên giường nằm mà tắt hơi

rồi. Mẹ con sinh rất đau đớn, mua quan tài chôn cất. Mẹ sinh đã già yếu, cứ bế cháu lại nhớ con dâu,

ruột gan như xé, vì thế mang bệnh nằm liệt giường. Dần dần bà bỏ cả ăn uống, chỉ thèm canh cá, nhưng

gần đó khơng có cá, phải đi xa hơn trăm dặm mới mua được. Lúc ấy tôi tớ lừa ngựa đều sai đi cơng

việc, sinh tính chí hiếu, nóng ruột khơng chờ được liền mang tiền một mình ra đi, đêm ngày khơng nghỉ

chân. Khi trở về tới giữa núi thì mặt trời đã lặn, hai chân đau nhức không bước nổi nữa. Phía sau có

một ơng già đi tới, hỏi "Bị phồng chân phải khơng?”, sinh dạ dạ. Ơng già bèn kéo sinh vào vệ đường,

đánh đá lấy lửa, lấy giấy gói thuốc xông hai chân sinh rồi bảo đi thử xem, sinh thấy chẳng những hết

đau mà còn cứng cáp hơn, hết sức cảm tạ. Ơng già hỏi có việc gì mà gấp gáp như thế, sinh nói vì mẹ

bệnh, nhân kể lại ngun cớ. Ơng già hỏi sao khơng lấy vợ khác sinh đáp vì chưa tìm được đám nào



khá. Ông già chỉ xóm núi xa xa nói "Chỗ đó có một giai nhân, nếu chịu đi theo thì lão sẽ làm mai cho

ơng”. Sinh từ chối nói mẹ bệnh dang chờ có cá ăn nên khơng được rảnh, ơng già chắp tay chào, bảo

ngày khác tới thôn hỏi già Vương rồi từ biệt đi.

Sinh về nhà nấu cá dâng mẹ, mẹ ăn được chút ít, vài hơm sau thì khỏi bệnh. Sinh bèn sai đầy tớ

dẫn ngựa đi theo tìm ơng già, tới chỗ cũ thì khơng thấy xóm làng gì cả. Loanh quanh hồi lâu, bóng

chiều dần bng xuống mà hang núi dày đặc khơng thể nhìn rõ nơi xa, bèn cùng người đầy tớ chia nhau

lên đỉnh núi để tìm làng xóm. Nhưng đường núi gập ghềnh khơng đi ngựa được, đi bộ lên tới thì trời

đã sẩm tối, nhìn ngó bốn phía chẳng thấy làng xóm nào, vừa định trở xuống thì lạc mất đường, lòng

như lửa đốt. Sinh đang dò dẫm thì hụt chân rơi xuống vực, may là bên dưới mấy thước có một ngơi

nhà bỏ hoang, sinh rơi lên nóc, rộng vừa đủ dung thân, nhìn xuống đen ngòm khơng trơng thấy đáy, sợ

quá không dám động đậy. Lại may là vách núi có những cây nhỏ to bằng song cửa, sinh định thần hồi

lâu thấy bên chân có một cửa động nhỏ, trong lòng mừng thầm bèn dựa lưng vào đá, giật lùi chui vào,

thấy hơi yên tâm, chờ trời sáng để kêu cứu.

Giây lát thấy xa xa trong động có đốm sáng như ngôi sao, đi lần vào khoảng hai ba dặm chợt thấy

nhà cửa, khơng có đèn đuốc gì mà sáng như ban ngày, có một mỹ nhân trong phòng đi ra, nhìn ra thì là

Thanh Nga. Nàng thấy sinh giật mình hỏi “Sao chàng tới được nơi đây?”' Sinh khơng kịp tỏ bày, nắm

tay nàng khóc lớn, nàng an ủi bảo nín. Hỏi thăm mẹ và con, sinh kể hết cảnh khổ, nàng cũng buồn bã.

Sinh hỏi "Nàng chết đã hơn một năm rồi, đây là âm ty phải không?”, cô gái đáp "Không phải, đây là

động tiên. Lúc trước thiếp chết không phải là thật đâu chàng chôn đó chỉ là một cây gậy trúc thơi. Nay

chàng tới là có duyên phận thành tiên”. Rồi dẫn sinh vào chào cha, thấy một người đàn ông râu rậm

ngồi trong sảnh đường, sinh rảo bước tới lạy, cô gái thưa là Hoắc lang tới, ơng giật mình đứng lên

cầm tay sinh trò chuyện rồi nói "Con rể tới rất hay, nên ở lại đây". Sinh chối từ là mẹ ở nhà mong đợi,

khơng ở lâu được. Ơng nói "Ta cũng biết thế, nhưng về muộn đơi ba ngày thì có hề gì", rồi bày cơm

rượu thết đãi, xong sai tỳ nữ dọn giường ở phòng khách, trải nệm gấm cho sinh nghỉ.

Sinh lui về phòng, kéo cơ gái ngủ chung, nàng chối từ nói "Đây là nơi nào mà đòi giở trò bậy

bạ?". Sinh nắm tay nàng khơng chịu bng, đứa tỳ nữ cười chế nhạo, nàng càng hổ thẹn. Đang còn

giằng co thì ơng nhạc vào, qt nói “Qn phàm tục làm nhơ động phủ của ta, bước ngay đi". Sinh vốn

nóng tính, xấu hổ khơng nhịn được, giận dữ đáp "Tình vợ chồng ai mà nhịn được, bậc trưởng thượng

sao lại rình nhìn? Ta đi thì khơng khó, nhưng lệnh nữ cũng phải đi theo”. Ơng khơng biết nói sao, đành

bảo con gái đi theo rồi mở cổng sau đưa ra, nhưng lừa sinh ra rồi thì cha con đóng sập cửa lại. Sinh

ngoảnh nhìn thì thấy vách đá cao ngất khơng có chỗ hở, bơ vơ một mình khơng biết về đâu, nhìn lên

trời thì trăng xế sao thưa, ngậm ngùi hồi lâu, hết đau tới hận, nhìn vào vách đá kêu gào, khơng nghe ai

lên tiếng đáp.

Sinh phẫn uất quá, rút cái xẻng trong lưng ra đục phá vách đá, vừa đục vừa chửi, trong chớp mắt

đã khoét thủng ba bốn thước, nghe văng vẳng có tiếng người nói “Nghiệt chướng thay". Sinh càng ra

sức đục mau, hai cánh cửa động chợt hé ra, ông nhạc đẩy Thanh Nga ra nói "Bước ngay, bước ngay!”,

vách đá lại liền lại như cũ. Cơ gái ốn trách nói “Đã thương yêu lấy thiếp làm vợ, sao lại đối xử với



ông nhạc như thế? Đạo sĩ già ở đâu cho chàng cái vật hung dữ đó, quấy nhiễu người ta muốn chết".

Sinh có được cơ gái rồi cũng đã mãn nguyện, không buồn tranh cãi, chỉ lo đường đi hiểm trở khó về.

Cơ gái liền bẻ hai nhánh cây, mỗi người cưỡi lên một nhánh, lập tức biến thành ngựa chạy rất mau,

giây lát đã về tới nhà, lúc ấy sinh mất tích đã bảy ngày. Lúc đầu khi chủ tớ sinh lạc nhau, người đầy tớ

tìm khơng được bèn về thưa lại với mẹ sinh. Bà sai gia nhân tìm khắp trong núi khơng thấy dấu vết gì,

đang lo sợ thì nghe tin con về, mừng rỡ ra đón, ngẩng đầu nhìn thấy Thanh Nga kinh hãi st ngất.

Sinh thuật qua mọi chuyện, bà càng thêm vui mừng. Cơ gái vì hành trạng có chỗ lạ lùng, ngại

người ta lo sợ nên xin mẹ dọn nhà đi nơi khác. Mẹ sinh theo lời, vì vốn có nhà ở làng khác liền dời

tới ở đó, người ta đều khơngbiết về nàng. Ăn ở với nhau mười tám năm, nàng sinh một gái, gả cho họ

Lý cùng huyện. Sau bà mẹ qua đời, nàng nói với sinh “Trong ruộng nhà ta có ngơi đất Chim trĩ ấp tám

quả trứng có thể chôn mẹ, cha con chàng nên đưa linh cữu mẹ về đó an táng. Con chúng ta đã lớn, cứ

để nó ở lại giữ mộ, khơng cần trở về”. Sinh theo lời, chôn cất mẹ xong trở về một mình, hơn tháng sau

Mạnh Tiên về thăm thì cha mẹ đã đi mất. Hỏi lão bộc thì thưa là đi đám tang chưa về trong lòng biết

là có chuyện lạ nhưng chỉ còn cách than thở mà thơi.

Mạnh Tiên nổi tiếng văn hay nhưng lao đao chốn trường ốc đến bốn mươi tuổi vẫn chưa thi đỗ.

Sau nhờ chân Cống cử vào kinh thi hội gặp một người cùng tên, thấy khoảng mười bảy mười tám tuổi,

phong thái tuấn dật thích lắm. Nhìn tới quyển thi đề "Lẫm sinh Hoắc Trọng Tiên ở Thuận Thiên", giật

mình kinh hãi bèn nói tên mình. Trọng Tiên cũng ngạc nhiên hỏi kỹ quê quán, Mạnh nói rõ ràng, Trọng

Tiên mừng nói “Lúc đệ lên đường vào kinh, gia phụ có dặn vào trường nếu gặp người nào họ Hoắc ở

Sơn Tây thì đó là họ hàng, nên cùng giao thiệp, nay quả đúng. Nhưng sao tên tự chúng ta giống nhau

như thế?". Mạnh Tiên hỏi tới danh tính ơng bà cha mẹ xong giật mình nói “Đó là cha mẹ ta đấy".

Trọng Tiên nghĩ tuổi tác khơng hợp, Mạnh Tiên nói “Cha mẹ đều là người tiên, làm sao lấy dung mạo

mà bàn số tuổi được”, nhân kể lại chuyện xưa, Trọng Tiên mới tin.

Thi xong hai người không màng nghỉ ngơi, sai thắng ngựa cùng về, vừa tới cổng thì gia nhân ra

đón nói đêm trước Thái ơng và phu nhân đi đâu mất, hai người cả kinh. Trọng Tiên chạy vào hỏi vợ,

vợ đáp “Chiều hơm qua còn cùng ngồi uống rượu, mẹ nói "Vợ chồng con còn nhỏ chưa trải việc đời,

ngày mai anh cả con tới thì ta khơng lo gì nữa”. Sáng ra vào phòng thì khơng thấy cha mẹ đâu cả". Anh

em nghe nói dậm chân kêu khóc, Trọng Tiên muốn đi tìm nhưng Mạnh Tiên cho là vơ ích mới thơi.

Khoa ấy Trọng Tiên đỗ Cử nhân, vì phần mộ tổ tiên ở cả Sơn Tây nên theo anh về đó. Cũng hy vọng

cha mẹ còn ở cõi trần, tìm kiếm thăm hỏi khắp nơi nhưng rốt cuộc vẫn khơng thấy tung tích.

Dị Sử thị nói: Khoét vách tường lên giường ngủ, tình ý quả là ngây, đào vách núi chửi cha vợ,

hành vi quả là cuồng, người tiên tác hợp cho chỉ là muốn lấy việc trường sinh báo đáp lòng hiếu

thảo vậy. Nhưng đã lưu vết ở nhân gian, lấy vợ sinh con, thì cứ an nhiên sống đến lúc chết cũng có

gì là khơng được? Đây thì trong ba mươi năm mấy lần bỏ mặc con cái, sao lại cô độc như thế nhỉ?

Lạ thật.



128. Nha Đầu (Nha Đầu)

Chư sinh Vương Văn người huyện Đơng Xương (tỉnh Sơn Đơng), lúc trẻ tính thành thật. Đi chơi

tới đất Sở (tỉnh Hồ Nam), qua sông Hoàng Hà, nghỉ lại ở nhà trọ, nhân rảnh rỗi dạo bước ngồi cửa.

Có người đồng hương là Triệu Đơng Lâu buôn bán lớn, thường mấy năm không về, gặp Vương cầm tay

mừng rỡ, mời tới chỗ mình chơi. Tới nơi sinh thấy có mỹ nhân ngồi trong phòng, ngạc nhiên dừng

bước. Triệu kéo vào, lại đứng ngoài cửa sổ gọi Nật Tử bảo đi chỗ khác, Vương bèn vào. Triệu dọn

cơm rượu thết đãi, cùng nhau trò chuyện. Vương hỏi đây là nơi nào, Triệu đáp "Đây là một nhà chứa

nhỏ, ta xa nhà lâu ngày nên tạm lấy làm nơi ngủ”' Trong lúc hai người trò chuyện, Nật Tử cứ lui tới ra

vào, Vương áy náy không yên, đứng dậy từ biệt, Triệu cố giữ ngồi lại. Chợt một thiếu nữ đi ngang qua

cửa, nhìn thấy Vưong liếc mắt đưa tình, thấy phong tư xinh đẹp như thần tiên. Vương vốn đứng đắn,

nhưng đến lúc ấy thấy say mê điên đảo, bèn hỏi người đẹp ấy là ai. Triệu đáp "Đó là con gái thứ hai

của bà chủ nhà chứa này, tiểu tự là Nha Đầu, vừa mười bốn tuổi. Bọn khách chơi giàu có nhiều lần

đưa tiền bạc ngỏ ý với bà mẹ nhưng nàng nhất định không chịu, đến nỗi bị bà đánh đập, nàng lấy cớ

còn nhỏ tuổi xin tha, nay còn đang chờ người nộp sính lễ".

Vương nghe thế cúi đầu yên lặng tơ tưởng, trò chuyện lơ đãng cứ hỏi gà lại đáp vịt. Triệu đùa nói

"Nếu anh ưng ý thì ta xin làm mai cho”. Vương bùi ngùi nói "Thật khơng dám có ý ấy", nhưng trời đã

xế chiều vẫn khơng nói tới chuyện ra về. Triệu lại đùa hỏi, Vương nói "Thật rất cảm tạ lòng tốt của

ơng, nhưng cạn túi biết làm sao được?". Triệu biết tính nàng cứng cỏi, ắt không chịu tiếp nên hứa giúp

thêm mười lượng vàng. Sinh cảm tạ về nhà trọ, dốc hết tiền bạc tới, được năm lượng bèn ép Triệu nói

giùm với mụ dầu, quả nhiên mụ chê ít. Nha Đầu nói "Hàng ngày mẹ vẫn trách con không làm cây tiền

cho mẹ, nay xin theo ý mẹ. Con mới học ra đời, còn nhiều dịp báo đáp ơn mẹ, xin đừng vì cái cớ nhỏ

mọn mà khước từ Thần Tài". Mụ dầu thấy nàng vốn bướng bỉnh, nay đã chịu ra tiếp khách nên rất

mừng rỡ bèn nhận lời, sai tỳ nữ đi mời Vương lang.

Triệu không nuốt lời được bèn lấy tiền đưa thêm. Vương cùng cô gái vui vầy rất sung sướng, kế

nàng nói "Thiếp là kẻ hạ tiện chốn yên hoa, không xứng sánh đôi với chàng, nay được đội ơn thương

tới rất cảm kích, nhưng chàng dốc túi mua một đêm vui, ngày mai sẽ ra sao?". Vương rơi lệ sụt sùi, cơ

gái nói “Chàng đừng buồn, thiếp gởi thân trong chốn phong trần song không phải thật lòng muốn thế,

chỉ vì chưa gặp được người thành thật xứng đáng trao thân gởi phận như chàng mà thôi, xin nhân đêm

cùng nhau trốn đi". Vương mừng rỡ vùng dậy, cô gái cũng dậy, nghe trống đã điểm canh ba, nàng vội

đổi y phục giả làm con trai cùng nhau đi ngay. Sinh gõ cửa nhà trọ, vốn có hai con lừa bèn lấy cớ có

việc gấp gọi đầy tớ lên đường.

Cô gái lấy bùa buộc vào chân người đầy tớ và tai lừa, thả cương chạy thật nhanh, khơng cho mở

mắt, chỉ nghe gió rít ào ào bên tai. Sáng ra tới cửa Hán Giang (thuộc tỉnh Hồ Bắc) thuê nhà ở lại,

Vương kinh ngạc vì chuyện lạ, nàng nói "Nói ra xin chàng đừng sợ, thiếp khơng phải là người mà là

hồ thơi. Vì mẹ tham dâm nên hàng ngày bị ngược đãi, lòng vẫn ốn hờn, nay may mắn thốt khỏi bể



khổ, ở ngồi trăm dặm thì mẹ khơng thể biết được, may ra có thể n ổn". Vương n lòng khơng ngờ

vực gì nữa, chỉ chậm rãi nói "Trong phòng có người đẹp như đố phù dung mà nhà nghèo trơ bốn bức

vách, thật khó n lòng, sợ rốt lại nàng sẽ bỏ đi". Cơ gái nói "Sao lại lo lắng chuyện ấy? Nay bn

bán cũng đủ sống, nhà có ba miệng ăn, sống đạm bạc cũng có thể no đủ, cứ bán con lừa lấy tiền làm

vốn".

Vương theo lời, mở ngay một cửa hàng nhỏ trước cổng, cùng đầy tớ làm lụng, bán rượu và nước

tương. Cơ gái thì may th thêu mướn, hàng ngày kiếm dư tiền chợ, ăn uống cũng đầy đủ. Hơn một năm

dần dần nuôi được tôi tớ, Vương từ đó khơng phải đích thân làm lụng nữa, chỉ đứng trơng nom. Một

hơm chợt cơ gái buồn rầu nói “Đêm nay sẽ có nạn, biết làm thế nào?”, Vương hỏi thì nàng đáp “Mẹ đã

biết tin tức của thiếp, ắt sẽ kiếm chuyện, nếu sai chị Nật tới thì chúng ta khỏi lo, chỉ sợ bà đích thân

tới thơi”. Đến khuya nàng mừng rỡ nói "Khơng sao, là chị Nật tới". Không bao lâu Nật Tử đẩy cửa

vào, nàng tươi cười ra đón, Nật Tử mắng "Con nhãi khơng biết nhục, bỏ trốn theo trai, mẹ sai ta trói

ngươi dẫn về", rồi lấy dây ra buộc vào cổ nàng. Cô gái tức giận nói "Chỉ theo một người thì có tội

gì?", Nật Tử càng tức, kéo nàng đứt cả vạt áo. Tôi tớ trong nhà cùng đổ tới, Nật Tử sợ hãi chạy đi. Cơ

gái nói "Chị ấy về báo ắt mẹ sẽ đích thân tới, sắp có vạ lớn, phải tính kế ngay”. Liền sắp xếp đồ đạc

định dời nhà đi chợt bà mẹ sồng sộc bước vào, nét mặt hầm hầm nói “Ta đã biết con nhãi vơ lễ, phải

tự tới mới xong". Cơ gái quỳ xuống khóc lóc năn nỉ, mụ ta khơng nói gì, cứ nắm tóc nàng lơi đi.

Vương tha thiết nhớ thương, bỏ cả ăn ngủ, vội tới Đại Hà định chuộc nàng về, nhưng tới nơi thì

cửa nhà như cũ mà người ở khác xưa. Hỏi người ở đó thì khơng ai biết mụ dọn nhà đi đâu, đành đau

xót trở về. Rồi đó cho hết đồ đạc, mang tiền về Sơn Đơng. Vài năm sau tình cờ lên Yên Kinh, qua

Viện mồ côi thấy một đứa nhỏ bảy tám tuổi, người đầy tớ lấy làm lạ vì rất giống chủ mình nên cứ quay

nhìn chằm chằm. Vương hỏi sao cứ nhìn đứa nhỏ, người đầy tớ cười thưa rõ, Vương cũng cười nhìn

kỹ đúa nhỏ thấy dáng vẻ hiên ngang, tự nghĩ chưa có con nối dõi, nhân thấy giống mình nên yêu mến

xuất tiền ra chuộc. Hỏi tên họ, nó đáp là Vương Tư, Vương nói "Cháu bị cha mẹ bỏ rơi lúc còn trong

tã, làm sao biết được tên họ?”, nó đáp “Thầy học con vẫn nói lúc nhặt được con thì thấy trước bụng

[159]



có viết hàng chữ "Con của Vương Văn ở Sơn Đơng"

. Vương cả sợ nói "Ta chính là Vương Văn,

nhưng lấy đâu ra thằng con này, chắc là ai trùng tên đó thơi", nhưng cũng mừng thầm nên rất thương

yêu.

Khi về tới quê, ai thấy cũng biết ngay là con của Vương không cần phải hỏi. Tư dần lớn lên, vạm

vỡ khỏe mạnh, thích săn bắn chứ khơng lo làm ăn, thích đánh nhau ưa giết người, Vương cũng không

sao kiềm chế được. Tư lại tự nói có thể nhìn thấy ma quỷ hồ tinh nhưng khơng ai tin, gặp lúc trong

làng có nhà nọ bị hồ ám mời tới xem. Tư tới nơi chỉ vào nơi hồ trốn núp, bảo mấy người cứ theo chỗ

mình chỉ mà đánh, lập tức nghe tiếng hồ kêu, lông máu ngỗn ngang, từ đó được n ổn, vì vậy mọi

người càng lấy làm lạ. Một hôm Vương đi trong chợ chợt gặp Triệu Đông Lâu, thấy khăn áo xốc xếch,

mặt mũi tiều tụy, bèn sửng sốt hỏi vì sao. Triệu buồn bã xin chờ thong thả sẽ kể, Vương liền dẫn về

nhà thết đãi. Triệu nói “Mụ dầu bắt được Nha Đầu về, đánh đập tàn nhẫn, khi dời nhà lên Bắc rồi lại

muốn ép gả cho người ta, nhưng nàng thề khơng lấy hai chồng nên mụ còn nhốt để đó. Nàng sinh được



một con trai, mụ vứt ra đường, nghe nói được đưa vào Viện mồ cơi, nay chắc đã trưởng thành, đó là

giọt máu của ơng đấy".

Vương sa nước mắt nói “Nhờ trời thằng nhỏ đã về đây rồi", rồi kể lại đầu đuôi, kế hỏi "Sao ông

lại tới nông nỗi này?". Triệu than "Nay mới biết không thể quá tin vào sự tử tế ở chốn lầu xanh, nhưng

còn nói gì được nữa?”. Ngun lúc mụ dầu dời nhà lên Yên Kinh, Triệu cũng nhân bn bán đi theo,

những hàng hóa nặng nề khó chở thì bán rẻ hết, dọc đường lại gánh vác sự chi tiêu, phí tổn rất lớn nên

ăn vào vốn rất nhiều. Nật Tử lại đòi hỏi quá quắt nên trong mấy năm, vốn liếng hàng vạn lượng vàng

hết sạch. Mụ dầu thấy Triệu hết tiền, ngày càng khinh rẻ, Nật Tử dần dần cũng đi ngủ ở các nhà giàu

có, thường mấy đêm liền không về. Triệu căm tức không nhịn được nhưng không biết làm sao. Gặp lúc

mụ dầu đi vắng, Nha Đầu trong cửa sổ gọi Triệu nói "Chốn lầu xanh vốn khơng có tình nghĩa, sở dĩ

gắn bó chiều chuộng chỉ vì tiền đó thơi. Ơng mà còn lưu luyến nơi này, ắt sẽ gặp họa lớn đấy"

Triệu sợ hãi như mới tỉnh mộng, lúc sắp lên đường lén tới thăm nàng, nàng đưa một lá thư nhờ

chuyển tới Vương, Triệu bèn đi. Nhân kể lại tình cảnh của Nha Đầu rồi lấy thư đưa Vương, thư viết

"Được biết thằng Tư đã về với chàng. Tai ách của thiếp thì ơng Đơng Lâu đã biết rõ, đó là cái oan

nghiệt kiếp trước, còn biết nói gì! Thiếp bị giam trong phòng tối, khơng thấy ánh mặt trời, đòn roi nát

thân, lửa đói đốt ruột, một ngày dài như một năm. Nếu chàng không quên lúc ở Hán Giang, đêm tuyết

chỉ có chiếc chăn đơn, ơm nhau cho ấm thì xin nên cùng con mưu tính giải thốt cho thiếp ra khỏi tai

ách. Mẹ và chị thiếp tuy tàn ác cũng là cốt nhục, xin đừng làm cho thương tổn, đó là điều thiếp mong

mỏi vậy”.

Vương xem thư khóc ròng, lấy vàng lụa ra đưa chân Triệu. Lúc ấy Tư đã mười tám tuổi, Vương kể

rõ đầu đuôi, nhân đưa cho xem thư mẹ. Tư tức giận trợn mắt tưởng chừng rách khóe, ngay hơm ấy lên

đường vào kinh, hỏi thăm tới được nơi mụ dầu đất Ngô ở thì đang lúc ngựa xe dày đặc trước cổng. Tư

xông thẳng vào, Nật Tử đang uống rượu với khách, thấy Tư cầm đao biến sắc, Tư sấn tới chém chết.

Khách khứa cả sợ cho là giặc cướp, nhưng nhìn lại xác Nật Tử thì thấy đã hóa ra con chồn. Tư xách

dao vào thẳng nhà trong thấy mụ dầu đang sai bảo tỳ nữ làm thức ăn, Tư xông tới gần cửa thì mụ biến

mất. Tư nhìn quanh rồi rút mau cung tên bắn lên xà nhà, một con chồn bị bắn xuyên tim rơi xuống, Tư

liền chặt lấy đầu. Tìm được chỗ mẹ bị giam, vác đá phá tung cửa, mẹ con cùng khóc khơng ra tiếng.

Mẹ hỏi mụ dầu, Tư đáp đã giết rồi. Mẹ oán trách nói “Sao con khơng nghe lời ta?", rồi sai mang ra

ngồi đồng chơn cất.

Tư giả vâng dạ nhưng lột lấy bộ da giấu đi. Kế kiểm lại rương hòm của mụ đầu, lấy hết vàng bạc

rồi đưa mẹ về. Vợ chồng gặp lại nhau nửa mừng nửa tủi, kế hỏi về mụ dầu, Tư nói đang trong túi con.

Giật mình hỏi lại, nó lấy hai bộ da dâng lên. Mẹ tức giận mắng "Thằng con ngỗ nghịch sao dám làm

thế”, rồi gào khóc tự đánh mình, lăn lộn dưới đất muốn chết đi. Vương hết sức khuyên giải an ủi, quát

bảo con đem chôn hai bộ da, Tư uất ức nói "Nay được yên vui đã quên ngay lúc bị roi vọt à?". Mẹ

càng giận dữ gào khóc khơng thơi. Tư đi chôn hai bộ da rồi trở về thưa, mẹ mới hơi nguôi giận.

Vương từ khi cô gái trở về, trong nhà càng thêm sung túc, lại nhớ ơn Triệu, báo đáp rất hậu, Triệu lúc

ấy mới biết mẹ con mụ dầu đều là hồ.



Tư thờ phụng cha mẹ rất có hiếu, nhưng có ai lỡ xúc phạm thì lớn tiếng gầm thét. Cơ gái nói với

Vương "Con ta có sợi gân hung dữ, nếu khơng đâm hủy đi thì về sau thế nào cũng vì giết người mà mất

nghiệp". Tối đến chờ Tư ngủ say, ngầm lấy dây trói chặt tay chân. Tư tỉnh dậy nói "Con khơng có tội

gì”, mẹ nói “Ta định chữa bệnh cho con, đừng kêu la”. Tư gào lớn lăn lộn nhưng không vùng ra được.

Cô gái lấy kim lớn đâm vào cạnh xương mắt cá chân của nó, sâu tới ba bốn phân, dùng sức ngoáy

mạnh đứt nghe răng rắc, lại đâm vào khuỷu tay và sau gáy, cũng làm như vậy, kế cởi trói cho, vỗ về

bảo cứ ngủ yên. Sáng ra Tư tới hầu cha mẹ, sa nước mắt nói “Con từ khuya đến sáng nhớ lại việc làm

trước đây, thật đều không phải giống người”. Cha mẹ cả mừng, từ đó Tư nhu mì nhỏ nhẹ như con gái,

làng xóm đều khen là hiền đức.

Dị Sử thị nói: Kỹ nữ đều là hồ, những kẻ khơng cho rằng có hồ làm kỹ nữ, tới chỗ hồ tìm gà

mái, thú mà làm cầm thì những chuyện thương luân bại lý có gì là lạ. Nhưng tới chuyện trải trăm

cay ngàn đắng, đến chết khơng chịu theo người khác thì lồi người vẫn cho là khó mà hồ cũng làm

[160]



được sao? Vua Đường vẫn nói Ngụy Trưng có vẻ yếu ớt như đàn bà

vậy.



ta cũng nói về Nha Đầu như



129. Dư Đức (Dư Đức)

Doãn Đồ Nam ở Vũ Xương (tỉnh thành Hồ Bắc) có gian nhà riêng cho một vị Tú tài thuê ở, suốt

nửa năm cũng chưa từng tới chơi. Một hơm gặp ngồi cổng, thấy còn rất trẻ nhưng dung nghi đẹp đẽ,

phục sức sang trọng, rảo bước tới cùng trò chuyện thấy nho nhã khả ái. Lấy làm lạ về nói với vợ, vợ

sai tỳ nữ tìm cớ qua hỏi han để dò xét, thấy trong nhà còn có người em gái xinh đẹp như tiên, những

non bộ cây cảnh quần áo đồ chơi đều không phải là những món từng nghe thấy.

Dỗn khơng rõ là hạng người nào, bèn tới xin yết kiến nhưng gặp lúc người ấy vắng nhà. Hôm sau

người ấy tới đáp lễ, xem danh thiếp mới biết là họ Dư tên Đức. Đến lúc trò chuyện hỏi kỹ gia thế cứ

trả lời quanh co, Dỗn hỏi gặng thì nói "Nếu muốn qua lại với nhau thì ta khơng dám từ chối, nhưng ta

khơng phải là trộm cướp đào vong, cần gì phải hỏi kỹ lai lịch?". Doãn xin lỗi, sai mang rượu ra mời,

trò chuyện cười nói rất vui vẻ.

Đến tối có hai tên đầy tớ dắt ngựa cầm đèn tới đón Dư về. Hôm sau Dư gởi thư mời chủ nhân để

đáp lễ, Doãn tới nhà thấy trên tường đều dán loại giấy sáng lống trong suốt như gương, lò đồng hình

sư tử đốt trầm hương, mùi thơm rất lạ. Trên bàn có bình ngọc xanh cắm hai cái lơng đi chim phụng,

hai cái lông cánh chim công, đều dài hơn hai thước, một bình pha lê cắm nhánh cây đầy hoa khơng

biết tên gì, cũng cao khoảng hai thước, cành rủ xuống bàn, lá thưa hoa dày mà đều chưa nở, dáng như

con bướm khép cánh, đài hoa như râu bướm. Trên tiệc chỉ có tám món ăn mà thơm ngon lạ thường.

Kế Dư sai tiểu đồng đánh trống giục hoa làm tửu lệnh, tiếng trống vừa nổi lên thì những nụ hoa

trong bình đều run rẩy như muốn rụng xuống. Giây lát cánh hoa như cánh bướm từ từ giương ra, kế đến

tiếng trống cuối cùng ầm một tiếng, những đài hoa rơi cả xuống, hoa biến thành một con bướm bay sa

vào lòng Dỗn. Dư cười đứng dậy mời một chén lớn, Dỗn vừa uống cạn thì con bướm cũng bay mất.

Lúc sau trống lại nổi, hai con bướm bay xuống đậu trên mũ Dư. Dư cười nói "Kẻ làm luật lệ hóa ra

lại tự phạt mình", rồi cũng uống hai chén lớn. Hổi trống thứ ba kết thúc thì hoa rụng tơi bời dính cả

vào áo vào mũ hai người, đứa tiểu đồng đánh trống cười bước lên đếm, Dỗn dược chín bơng, Dư

được bốn bơng. Dỗn đã say không thể uống hết, gượng uống ba chén rồi rời tiệc bước ra, vì thế càng

lấy làm lạ về Dư.

Nhưng Dư tính ít giao du, thường đóng cửa ở nhà khơng đi lại với người chung quanh. Dỗn gặp

mọi người cứ kể vung lên, những kẻ nghe chuyện lạ tranh nhau tới xin gặp Dư, mũ lọng chen chúc ở

cửa, Dư không chịu được, chợt tới từ giã chủ nhân. Dư đi rồi, Doãn vào nhà thấy sân trống quét dọn

sạch sẽ không vương chút bụi, sáp đèn đọng lại vun đầy dưới thềm, những giấy dán cửa sổ bị rách vẫn

còn dấu tay, duy sau nhà còn sót lại một cái vò bằng đá trắng chứa khoảng một thạch, trơng rất khả ái.

Dỗn cầm về đổ nước vào nuôi cá vàng, hơn một năm nước vẫn trong như mới đổ vào. Sau người

đầy tớ dọn dẹp nhà cửa bưng đi lỡ tay làm mẻ, nước trong vò cũng khơng đổ ra, nhìn thì thấy mép vò

vẫn còn ngun mà sờ lên thì thấy trống khơng, đưa tay vào trong thì nước theo tay rẽ ra, rút tay ra thì

nước lại hợp lại, mùa đơng cũng khơng đóng băng. Một hơm nước trong vò chợt kết lại thành khối pha



lê, cá bên trong vẫn bơi lội như cũ. Doãn sợ người ta biết mang để trong phòng kín, nếu khơng phải là

trai gái dâu rể trong nhà thì khơng đưa ra cho xem.

Lâu ngày tin tức đồn rộng ra, những người đòi xem vật lạ tới chen chúc ở cổng. Một đêm tháng

chạp chợt cái vò tan ra thành nước ướt đầm mặt đất, cá bên trong cũng cũng biến mất nhưng mảnh vò

mẻ vẫn còn nguyên như cũ. Chợt có đạo sĩ tới xin, Dỗn lấy đưa cho xem, đạo sĩ nói "Đây là vật chứa

nước ở Long cung". Dỗn kể chuyện lạ vò mẻ mà nước khơng chảy ra, đạo sĩ nói “Đó là hồn của cái

vò" rồi nài nỉ xin một mảnh nhỏ. Doãn hỏi dùng làm gì, đạo sĩ đáp “Lấy đó chế thuốc uống thì có thể

trường sinh". Dỗn lấy cho một mảnh, đạo sĩ mừng rỡ cảm tạ ra về.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ngưu Thành Chương (Ngưu Thành Chương)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×