Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chợ Biển La Sát (La Sát Hải Thị)

Chợ Biển La Sát (La Sát Hải Thị)

Tải bản đầy đủ - 0trang

sứ ngoại quốc, là người từng trải lịch duyệt, may ra khơng sợ anh chăng?". Bèn tới nhà quan Chấp

kích, quả nhiên ơng vui mừng tiếp đón Mã như thượng khách.

Mã thấy diện mạo ơng như người tám chín mươi tuổi, hai mắt lồi ra, râu ria tua tủa như lơng nhím.

Ơng nói "Ta lúc trẻ từng phụng mệnh vua đi sứ ngoại quốc rất nhiều, chỉ chưa tới Trung Hoa. Nay đã

hơn một trăm hai mươi tuổi lại được nhìn thấy nhân vật thượng quốc, khơng thể khơng tâu lên cho

thiên tử biết. Nhưng ta nương náu nơi rừng núi đã hơn mười năm không đặt chân tới triều đình, sáng

mai xin vì ơng cố đi một phen”. Rồi sai dọn tiệc đãi khách, rượu được vài tuần gọi phường nữ nhạc

mười mấy người ra thay phiên múa hát, nàng nào mặt mũi cũng như quỷ dạ xoa, gấm trắng bịt đầu, áo

đỏ quét đất, lời hát không nghe rõ là gì mà khúc điệu cũng kỳ quái, nhưng chủ nhân có vẻ vui thích

lắm. Hỏi Trung Quốc chắc cũng có thú vui này chứ, Mã đáp có. Chủ nhân xin được nghe, Mã gõ bàn

hát một khúc, chủ nhân vui vẻ nói "Lạ thay, tiếng hát như rồng ngâm phụng gáy, ta chưa từng được

nghe bao giờ".

Hôm sau ông vào triều tiến cử Mã với quốc vương, nhà vua vui mừng xuống chiếu vời Mã. Nhưng

có hai ba vị đại thần nói hình dạng Mã qi gở, e làm kinh hãi thánh thể, vua bèn thơi. Ơng Chấp kích

lập tức trở về kể cho Mã nghe, tỏ ý rất tiếc. Mã ở đó lâu ngày, có hơm cùng chủ nhân uống rượu say,

[127]



cầm gươm đứng dậy múa, lấy than bơi mặt đóng vai Trương Phi

. Chủ nhân cho là đẹp, nói "Xin

khách đem bộ mặt Trương Phi tới ra mắt Tướng quốc, chắc Tướng quốc sẽ vui vẻ trọng dụng, khó gì

khơng được chức cao lộc hậu”. Mã nói “Ơi, bơi mặt đùa giỡn thì còn được, chứ làm sao có thể mang

bộ mặt này đi cầu chức tước”. Chủ nhân cố ép, Mã bèn theo lời.

Chủ nhân liền mở tiệcmời các quan tới uống rượu, bảo Mã vẽ mặt chờ sẵn. Không bao lâu khách

tới, ông gọi Mã ra chào, khách đều ngạc nhiên nói ”Lạ quá, sao bữa trước xấu xí mà hơm nay xinh đẹp

thế kia?”, rồi cùng nhau uống rượu hết sức vui vẻ. Mã múa may hát khúc Dặc dương, cả tiệc đều phục

lăn. Hôm sau các quan cùng dâng biểu tiến cử Mã, vua mừng rỡ, sai đem cờ tiết đi vời. Mã tới bái

kiến, vua hỏi về đạo trị an của Trung Quốc. Mã tâu bày cặn kẽ, vua rất khen ngợi, ban yến ở Ly cung.

Rượu ngà ngà, vua hỏi "Nghe nói khanh giỏi múa hát, có thể cho quả nhân nghe được không?". Mã

liền đứng dậy múa, cũng bắt chước lấy gấm trắng bịt đầu, hát giọng ồm ồm. Vua thích lắm phong ngay

cho Mã chức Hạ Đại phu, thường ban yến riêng, ân sủng khác thường.

Lâu ngày các quan lớn nhỏ trong triều biết diện mạo Mã mang là giả, Mã tới đâu cũng thấy người

ta rỉ tai nhau lơ là với mình, từ đó bị cơ lập, trong lòng sợ sệt khơng n, dâng sớ xin về hưu trí nhưng

vua khơng cho. Mã lại xin nghỉ phép, vua cho nghỉ ba tháng, bèn lấy ngựa trạm chở vàng bạc châu báu

trở về xóm núi. Người làng quỳ đón bên đường, Mã lấy vàng bạc chia cấp cho những kẻ đối xử tử tế

với mình trước đây, tiếng reo mừng cảm ơn như sấm. Dân làng nói "Bọn ta hèn mọn, được Đại phu

cho tiền bạc, ngày mai ra chợ biển, sẽ tìm mua vật quý để đền ơn" Mã hỏi chợ biển ở đâu, họ đáp

[128]



"Chợ họp giữa biển, hội tụ châu báu hàng hóa của Giao nhân

bốn biển, người ở bốn phương mười

hai nước đều tới mua bán, trong đó có nhiều thần nhân dạo chơi, mây ráng rợp trời, ba đào cuồn cuộn.

Các bậc quý nhân tự trọng không dám xông pha nguy hiểm đều đưa vàng lụa nhờ bọn ta mua giùm các



món quý lạ, nay sắp đến phiên chợ rồi".

Mã hỏi tại sao biết sắp đến phiên chợ, họ đáp "Mỗi khi thấy chim đỏ bay liệng qua lại trên biển

thì bảy hơm sau có phiên chợ”. Mã hỏi đi mất bao lâu, muốn cùng đi xem nhưng dân làng can ngăn,

khuyên nên tự trọng thân phận, Mã đáp "Ta vốn là khách đi biển, sợ gì ba đào". Khơng bao lâu quả có

nhiều người nối nhau tới gởi tiền nhờ mua hàng giùm, Mã liền mang hành lý xuống thuyền. Thuyền có

vài mươi người, đáy phẳng lườn cao, có mười tay chèo, lướt đi như tên bay. Qua ba ngày, trông thấy

xa xa giữa chốn mây nước mênh mơng có đài gác chập chồng, thuyền buôn đông đặc như kiến. Giây

lát tới dưới thành, thấy tường thành xây bằng những tảng đá cao như thân người, chòi canh cao chạm

mây xanh. Buộc thuyền vào thành, thấy trong chợ bày đầy các món kỳ trân dị bảo lóng lánh chói mắt,

nhiều thứ trần gian khơng có.

Chợt một thiếu niên cưỡi ngựa đi tới, người trong chợ đều dạt ra tránh đường, nói đó là Tam Thế

tử biển Đơng. Thế tử đi tới, nhìn Mã nói “Đây hẳn là người xứ lạ”, liền có kẻ tùy tùng tới hỏi quê

quán. Sinh đứng bên đường chắp tay vái chào, tự nói tên họ quê quán. Thế tử mừng nói “Được ơng hạ

cố tới đây, thật có dun phận khơng ít". Rồi đó đưa ngựa cho sinh cưỡi, mời cùng sóng vai đi ra cửa

tây thành, vừa tới bờ cù lao thì con ngựa sinh cưỡi hý vang rồi nhảy xuống nước. Sinh cả sợ kêu thất

thanh thì thấy nước biển rẽ ra, hai bên dựng đứng như vách tường. Giây lát thấy có cung điện, đồi mồi

làm kèo, vảy cá làm ngói, bốn vách là pha lê lóng lánh chói mắt. Sinh xuống ngựa vào trong ra mắt,

ngẩng lên thấy Long quân ngồi trên, Thế tử tâu nói “Thần đi chơi chợ, gặp được bậc hiền sĩ Trung

Hoa, xin dẫn kiến với đại vương".

Sinh bước lên vái lạy xong, Long quân nói "Tiên sinh là bậc văn sĩ, ắt văn chương hay lắm, quả

nhân muốn phiền viết hộ bài phú Chợ biển, xin đừng tiếc lời châu ngọc". Sinh dập đầu vâng lệnh,

Long quân sai đem cho nghiên pha lê, bút râu rồng, giấy sắc trắng tựa tuyết, mực thơm ngát như lan.

Sinh lập tức viết xong bài phú hơn ngàn chữ dâng lên trước điện, Long quân khen ngợi nói "Tài lớn

của tiên sinh làm thủy quốc vẻ vang thêm nhiều lắm". Rồi hội họp thủy tộc mở tiệc lớn ở cung Thái

Hà, rượu được vài tuần, Long qn nâng chén nhìn khách nói "Quả nhân có đứa con gái yêu chưa lấy

chồng, muốn gả cho tiên sinh, tiên sinh có bằng lòng khơng?”. Sinh rời tiệc bước ra thẹn thùng lạy tạ,

chỉ dạ dạ mà thơi. Long qn bèn quay lại dặn dò tả hữu. Khơng bao lâu có mấy người cung nhân đỡ

một nữ lang ra, vòng ngọc khua vang, nhã nhạc trỗi lớn. Sinh lạy xong liếc nhìn thấy nàng xinh đẹp

như tiên, công chúa lạy xong quay trở vào. Giây lát bãi tiệc, có hai a hồn cầm đèn lồng đưa sinh vào

hậu cung.

Công chúa trang điểm lộng lẫy ngồi đợi, trong phòng kê giường san hơ khảm bát bảo, rèm kết tú

cầu điểm xuyết minh châu to như cái đấu, chăn nệm đều mềm mại thơm tho. Trời vừa rạng sáng thì gái

hầu trẻ đẹp đã xúm tới hầu hạ. Sinh trở dậy ra triều đường lạy tạ, Long qn phong sinh làm Phò mã

Đơ úy, sai đưa bài phú ra các biển. Long quân các biển đều sai sứ tới mừng, tranh nhau mời Phò mã

tới uống rượu. Sinh mặc quần áo thêu, cởi rồng xanh, tiền hô hậu ủng ra đi, mấy mươi võ sĩ cưỡi ngựa

hộ vệ đều mang cung sơn son, mang giày cựa bạc sáng lống xúm xít chung quanh, trên ngựa gảy đàn,

trong xe gõ phách, trong ba ngày dạo chơi khắp các biển. Từ đó danh tiếng con rể Long quân vang dậy



bốn biển.

Trong cung có một cây ngọc thân đầy một ôm, gốc trong suốt như pha lê trắng, trong có lõi màu

vàng nhạt nhỏ hơn cánh tay, lá như bích ngọc dày bằng đồng tiền mọc chi chít, sinh thường cùng vợ

ngồi dưới bóng cây ngâm thơ thổi sáo. Hoa nở đầy cây như hoa thiềm bồ, cánh hoa rụng xuống thì kêu

leng keng, nhặt lên nhìn thấy như mã não đỏ chạm trổ, long lanh rất đẹp. Lúc lúc có chim lạ tới đậu

trên cây hót, lơng màu vàng ánh, đi dài hơn thân, tiếng hót như ngọc khua ai ốn làm người ta xót xa.

Sinh cứ nghe chim hót lại chạnh niềm cố hương, nhân nói với cơng chúa "Ta lạc lõng ba năm, bặt tin

cha mẹ, cứ nghĩ tới lại đau lòng, nàng có thể theo ta về khơng?”. Nàng nói “Tiên phàm hai lối, khơng

thể theo được. Nhưng thiếp cũng khơng nỡ vì tình vợ chồng mà khiến chàng lỗi đạo hiếu, xin thong thả

sẽ tính". Sinh nghe thế sa nước mắt, nàng cũng than "Tình thế này thật khơng thể tròn cả hai bề".

Hơm sau sinh đi chơi về, Long qn hỏi "Nghe nói Đơ úy nhớ quê muốn về, sáng mai khởi hành

được chăng?". Sinh từ tạ nói “Thần bơ vơ đất khách, đội ơn đại vương q u, trong lòng chỉ mong

có dịp báo đáp. Nay xin cho tạm về thăm cha mẹ, rồi sẽ trở lại hầu đại vương". Tối đến công chúa đặt

tiệc từ giã, sinh hẹn ngày gặp lại, nàng nói "Tình dun đơi ta đến đây là hết". Sinh vơ cùng đau xót,

nàng nói “Cứ về phụng dưỡng mẹ cha để tỏ lòng hiếu thảo của chàng, chứ đời người hết hợp rồi tan,

trăm năm cũng như sớm tối thơi, cần gì khóc lóc như lối đàn bà? Từ nay về sau nếu thiếp thủ tiết vì

chàng, chàng giữ nghĩa với thiếp, hai nơi vẫn một lòng thì là vợ chồng đấy, cần gì phải sớm tối giữ

riệt lấy nhau mới gọi là bách niên giai lão? Nếu phụ lời nguyền thì có lấy vợ lấy chồng cũng chẳng tốt

lành đâu. Còn nếu trên trần gian thiếu người nội trợ, thì cưới tỳ thiếp cũng được thơi.

Còn có một chuyện muốn nói, là từ ngày kết bạn, hình như thiếp đã có thai, phiền chàng đặt tên

trước cho con”. Sinh nói "Nếu sinh con gái thì đặt tên là Long Cung, nếu sinh con trai thì đặt tên là

Phúc Hải". Công chúa xin để lại một vật làm tin, sinh lúc ở nước La Sát được một đôi hoa sen bằng

ngọc đỏ bèn lấy đưa cho nàng. Công chúa nói "Ba năm sau, đúng ngày mùng tám tháng tư, chàng chèo

thuyền ra Nam đảo, thiếp sẽ giao con". Rồi lấy da cá làm túi, bỏ đầy châu ngọc vào đưa cho sinh, nói

"Chàng giữ cho kỹ, bấy nhiêu thì ăn tiêu mấy đời cũng không hết". Trời mờ sáng, Long vương bày tiệc

tiễn hành, tặng cho rất hậu. Sinh lạy tạ ra đi, công chúa ngồi xe dê trắng đưa lên tới tận bờ. Sinh lên

bờ xuống ngựa, nàng dặn dò tự bảo trọng rồi quay xe trở về, phút chốc đã xa tít, nước biển khép lại

khơng thấy gì nữa, sinh bèn về nhà.

Từ khi sinh vượt biển, có người cho rằng đã chết, đến khi về tới người nhà đều kinh ngạc. Cũng

may là cha mẹ đều còn khỏe mạnh, duy vợ đã đi lấy chồng khác, mới sực hiểu câu nói “giữ nghĩa" của

Long nữ là đã biết trước việc ấy. Cha muốn cưới vợ khác cho nhưng sinh không nghe, chỉ mua thiếp.

Đúng kỳ hẹn ba năm sinh chèo thuyền ra đảo, thấy hai đứa nhỏ ngồi trên mặt biển vốc nước đùa giỡn,

không động cũng khơng chìm. Sinh tới gần bế, một đứa reo lên nắm tay sinh rồi nhảy vào lòng, đứa kia

khóc lớn như giận sinh khơng dắt mình, sinh cũng bế cả lên. Nhìn kỹ thì là một trai một gái, mặt mũi

thanh tú, đội mũ hoa gắn ngọc, tức đôi hoa sen bằng ngọc đỏ.Trên lưng một đứa đeo túi gấm, sinh mở

ra xem thấy có bức thư như sau:

“Kính thăm cha mẹ bình an. Thấm thốt ba năm, cách đường bụi đỏ, mênh mông một bể, dứt lối



chim xanh. Kết tương tư thành mộng, để nhưng nhớ làm đau, thăm thẳm trời xanh, hận nào sánh được?

Nhưng nghĩ Hằng Nga còn lạnh lùng trong cung quế, Chức Nữ phải tê tái cạnh sơng Ngân, thì ta là

hạng người nào mà mong trăm năm sum họp, thiếp nghĩ tới đó liền gạt nước mắt mà vui cười. Sau khi

từ biệt hai tháng thì thiếp sinh được song thai, đến nay đã bi bơ đòi bế, hơi biết nói cười, ngó táo

giành lê, khơng có mẹ cũng sống được, nên kính trao lại cho chàng. Đôi hoa sen bằng ngọc đỏ chàng

để lại, thiếp gài lên mũ chúng để làm tin, lúc nào ơm con trên gối thì cũng như có thiếp bên cạnh vậy.

Biết chàng đã giữ trọn lời nguyền, thiếp được an ủi rất nhiều, thề giữ trọn tình với chàng đến chết, vật

trong rương cam thiếu dầu thơm, người trong kính lâu khơng son phấn. Chàng như chinh nhân thì thiếp

làm quả phụ, cho dù khơng gần gũi cũng vẫn có thể nói là duyên cầm sắt kia mà. Chỉ nghĩ tới cha mẹ

chồng đã bế cháu nội mà chưa gặp nàng dâu, kể theo tình lý cũng còn chưa trọn vẹn, nên năm sau tống

táng mẹ, thiếp sẽ tới mộ điếu tang cho trọn đạo dâu con. Từ nay về sau thì Long Cung vơ sự, còn nhiều

lúc gặp nhau, Phước Hải sống lâu, cũng có đường lui tới. Mong chàng khoẻ mạnh, thư chẳng hết lời”.

Sinh đọc đi đọc lại lá thư rơi lệ, hai đứa nhỏ ơm cổ, nói "Về nhà thơi”, sinh càng đau xót, vỗ về

hai đứa hỏi "Hai con có biết nhà ở đâu khơng?", hai đứa khóc lóc líu lo đòi về. Sinh nhìn ra thấy biển

cả mênh mơng, chân trời xa tít, bóng người mờ mịt, mây nước mn trùng đành bế con quay thuyền

ngậm ngùi trở về. Sinh biết mẹ khơng còn sống lâu nữa nên lo sẵn mọi việc ma chay, trồng hơn trăm

cây tùng quanh khu mộ. Năm sau quả nhiên mẹ sinh mất, khi quan tài sắp hạ huyệt thì có cơ gái mặc áo

tang tới làm lễ.

Mọi người đang ngạc nhiên nhìn chợt gió bão nổi lên, sét nổ ầm ầm, kế mưa như trút nước, trong

chớp mắt cô gái biến mất, những tùng bách mới trồng phần nhiều chết khô lúc ấy lại trở nên xanh tốt.

Phước Hải hơi lớn thường nhớ nhung mẹ, cứ nhảy xuống biển mấy ngày mới về. Long Cung là con gái

khơng đi được, chỉ biết đóng cửa ngồi khóc. Một hơm đang ban ngày mà trời tối sầm, Long nữ chợt tới

bảo con gái nín khóc rồi nói "Con sẽ lấy chồng, khóc lóc làm gì?”, rồi cho con gái một cây san hô cao

tám thước, một hộp long não hương, một trăm viên ngọc minh châu, một đơi vòng vàng khảm bát bảo

làm của hồi mơn. Sinh nghe nói vợ tới vội chạy vào nắm tay nàng khóc nức nở. Giây lát trời nổi mua

gió, sét đánh vang nhà, nàng biến mất.

Dị Sử thị nói: Vẽ mặt lấy lòng, tình đời thật như ma quỷ, ưa chuyện kỳ qi, thế gian quả chỉ

một đường. Thẹn ít thì người thích ít, thẹn nhiều thì người thích nhiều, nhưng nếu cơng nhiên

mang râu tóc phường tuồng dạo chơi ở kinh kỳ thì chắc rất ít người khơng hoảng sợ bỏ chạy.

Chàng ngây Lăng Dương kia định ôm viên ngọc liên thành tới đâu mà khóc vậy?

chuyện hiển vinh phú quý chỉ nên cầu nơi chốn thẩn lâu hải thị



[130]



mà thôi.



[129]



Than ôi,



113. Công Tôn Cửu Nương (Công Tôn Cửu Nương)

[131]



Cái án Vu Thất

phát ra, những kẻ liên lụy bị giết nhiều nhất là người hai huyện Thê Hà, Lai

Dương (tỉnh Sơn Đơng), mỗi ngày có tới mấy trăm người bị giải ra pháp trường xử chém, máu đen

ngập đất, xương trắng ngút trời. Quan trên nhân từ cấp cho quan tài, các hiệu bán quan tài trong thành

Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đơng) hết sạch cả hàng, vì vậy những người bị xử tử phần lớn được chôn ở

cánh đồng phía nam thành.

Năm Giáp dần có thư sinh người huyện Lai Dương tới chơi Tắc Hạ (cửa nam thành Tế Nam), vì

có hai ba người bạn bị xử tử nên nhân đó mua giấy tiền vàng bạc ra cúng ở đám mả hoang, rồi tới thuê

một gian phòng trong chùa ở trọ. Hôm sau vào thành lo công việc, xế chiều vẫn chưa về. Chợt có một

thiếu niên tới phòng trọ thăm, thấy sinh đi vắng liền bỏ mũ leo lên giường, để nguyên giày nằm ngửa,

đầy tớ sinh hỏi chỉ nhắm mắt không trả lời. Lúc sinh về trời đã nhá nhem, khơng nhìn rõ mặt bèn tới

cạnh giường hỏi, khách trợn mắt nói “Ta đang chờ chủ ngươi, sao cứ hạch hỏi lôi thôi, chẳng lẽ ta là

trộm cướp à?”' Sinh cười nói “Chủ nhân đây". Thiếu niên vội vùng dậy, đội mũ sửa áo ngồi xuống,

vồn vã hỏi thăm.

Sinh nghe tiếng như người quen, vội gọi lấy đèn, thì ra là Chu sinh người cùng huyện, cũng chết

trong nạn Vu Thất, cả sợ bỏ chạy. Chu kéo lại nói "Ta với ơng là bạn văn chương, sao vơ tình với nhau

như thế? Ta tuy là ma nhưng vẫn canh cánh nhớ cố nhân, nay có chuyện muốn làm phiền, xin đừng coi

là khác loài mà xử tệ". Sinh bèn ngồi xuống xin nghe sai bảo, Chu nói "Cháu gái ơng hiện ở một mình

khơng có chồng, ta muốn cưới nàng về lo việc trong nhà, đã mấy lần nhờ mai mối dạm hỏi nhưng nàng

cứ lấy cớ là khơng có lệnh của bậc tơn trưởng để từ chối, xin ơng nói giúp cho một câu”.

Trước sinh có đứa cháu gái gọi bằng cậu, mồ côi mẹ từ nhỏ nên sinh đem về nuôi, đến năm mười

lăm tuổi mới về sống với cha. Nàng bị bắt giải tới Tế Nam, nghe tin cha bị hành hình, gào khóc tắt hơi

mà chết. Sinh nói "Có cha nó đó, sao lại cầu ta?”. Chu đáp “Cha nàng đã được người cháu bốc mộ

mang đi, hiện khơng có ở đây". Sinh hỏi cháu gái mình đang ở với ai, Chu đáp nàng ở chung với bà

láng giềng. Sinh ngại người sống khơng thể làm mai mối cho ma, Chu nói "Nếu ơng chịu giúp thì xin

phiền dời gót ngọc", rồi đứng dậy nắm tay sinh kéo đi. Sinh từ chối, hỏi đi tới đâu, Chu nói "Cứ đi sẽ

biết", sinh bèn miễn cưỡng đi theo. Đi về phía bắc khoảng một dặm thấy có thơn xóm đơng đúc, ước

chừng mấy trăm nóc nhà.

Tới một gian nhà, Chu gõ cửa, lập tức có bà già ra mở cả hai cánh cửa, hỏi Chu tới có việc gì.

Chu nói "Làm phiền bà nói với nương tử rằng có ơng cậu tới," Bà già quay vào, giây lát trở ra mời

sinh vào, nhìn Chu nói "Có hai gian nhà tranh chật chội, phiền cơng tử ngồi đợi ngoài cổng một lúc",

sinh theo bà ta vào, thấy bên trong là nửa mẫu vườn hoang, có hai gian phòng nhỏ, đứa cháu gái khóc

lóc đứng đón ở cửa, trong phòng đèn lửa lờ mờ. Cơ gái dung mạo vẫn xinh xắn như lúc còn sống, gạt

lệ hỏi thăm tất cả các dì các mợ. Sinh đáp "Mọi người khỏe cả, duy có vợ ta đã qua đời rồi".Cơ gái

lại sụt sùi khóc, nói "Cháu lúc nhỏ được cậu mợ ni nấng, chưa có chút gì báo đáp mà khơng ngờ đã



vùi xác nơi ngòi rãnh trước, rất đỗi ân hận.Năm trước ông anh lớn con nhà bác tới mang hài cốt cha

cháu về nhưng không nghĩ gì tới cháu, bơ vơ ngồi mấy trăm dặm như én thu lạc đàn, cậu lại không bỏ

qua hồn ma vất vưởng, lại đốt cho vàng bạc, cháu đã nhận được rồi". Sinh bèn kể lại lời Chu, cô gái

cúi mặt im lặng.

Bà già nói "Chu cơng tử nhờ bà Dương tới dạm hỏi năm ba bận, già nói việc này rất đáng mừng

nhưng nương tử không chịu tự lấy chồng kiểu qua qt, nay được ơng cậu làm chủ hôn, mới ưng ý như

thế đấy". Bà ta vừa dứt lời thì một nữ lang khoảng mười bảy mười tám tuổi, có đứa hầu gái theo sau

xăm xăm bước vào, vừa thấy sinh liền quay người toan chạy. Cháu gái sinh nắm vạt áo kéo lại nói

"Khơng cần phải làm thế, đây là cậu ruột ta, khơng phải người ngồi". Sinh vái chào, nữ lang cũng

khép nép đáp lễ. Cháu sinh nói "Đây là Cửu Nương, họ Cơng Tơn ở huyện Thê Hà. Ông thân sinh là

con nhà thế gia cũ nhưng nay cũng sa sút, khơng thích chơi với ai, sớm tối chỉ qua lại bạn với cháu”.

Sinh liếc thấy nàng mỉm cười miệng sáng tựa trăng thu, bẽn lẽn má hồng như ráng sớm, xinh đẹp

như tiên bèn nói "Nhìn thì biết ngay là con nhà đại gia, chứ lều tranh vách đất làm sao có người đẹp

như vậy được”. Cháu sinh nói "Đã thế còn là nữ học sĩ, thơ phú đều hay, trước nay cháu vẫn được

nàng chỉ dạy”. Cửu Nương cười khẽ nói “Con nhãi bỗng dưng lại bêu xấu người, ơng cậu cười cho

kìa!”. Cháu sinh lại cười nói “Cậu góa vợ chưa tục huyền, thế người như nương tử đây cậu có vừa ý

khơng?”. Cửu Nương cười chạy ra, nói "Con nhãi điên rồi", rồi bỏ đi. Câu nói tuy giống như đùa giỡn

nhưng sinh rất thích, cháu sinh biết ý bèn nói "Tài mạo Cửu Nương thiên hạ không ai sánh kịp, nếu cậu

khơng chê là ma thì cháu sẽ nói giùm với mẹ nàng". Sinh cả mừng nhưng ngại người với ma khó kết

vợ chồng với nhau, cháu sinh nói “Khơng sao đâu, nàng với cậu vốn có túc duyên với nhau”. Sinh ra

về, cháu gái tiễn ra, nói "Năm hơm nữa, lúc trăng thanh người vắng, sẽ sai người tới đón cậu”.

Sinh ra ngồi cổng khơng thấy Chu đâu, nhìn về phía tây thấy nửa vành trăng trong ánh sáng mờ

mờ còn nhận ra đường cũ. Đi một quãng thấy phía nam có một ngơi nhà, Chu đang ngồi chờ trên bậc

thềm ngồi cổng, đứng lên đón, nói “Ta chờ ông lâu rồi, mời ông quá bộ vào tệ xá”, rồi cầm tay sinh

đưa vào, ân cần cảm tạ. Kế đưa ra một cái chén vàng, trăm hạt ngọc châu nói “Chẳng có gì đáng giá,

xin nhận mấy thứ này thay sính lễ”. Kế nói “Trong nhà cũng có ít rượu dở, nhưng vật dưới âm ty sợ

không mời khách quý được, làm thế nào?". Sinh khiêm tốn từ tạ, Chu tiễn tới nửa đường mới quay về.

Sinh về tới nơi trọ, các sư và đầy tớ xúm lại hỏi han, sinh giấu kín chuyện? nói “Ai nói ta gặp ma

là nói bậy, mới rồi ta tới nhà người bạn uống rượu thôi". Sau năm hôm quả thấy Chu tới, sửa giày

phẩy quạt có vẻ đắc ý vui mừng lắm, vừa vào tới sân đã vái lạy. Giây lát cười nói "Việc vui mừng

của ơng đã thu xếp xong, đêm nay làm lễ cưới rồi, xin mời lên đường". Sinh nói "Ta vì khơng thấy có

tin tức gì nên còn chưa nộp sính lễ, làm sao đã thu xếp xong?”' Chu nói "Ta đã nộp thay cả rồi”. Sinh

hết lời cảm tạ rồi cùng đi tới nơi vào thẳng nhà trong, thấy cháu gái ăn mặc đẹp đẽ tươi cười ra đón.

Sinh hỏi làm đám cưới lúc nào, Chu đáp đã ba hôm. Sinh bèn đưa số vàng ngọc Chu tặng hôm trước

để thêm vào của hồi môn cho cháu gái, cô gái từ chối hai ba lần mới nhận, rồi nói với sinh "Cháu tỏ ý

cậu với Cơng Tơn phu nhân, phu nhân rất vui mừng, chỉ nói rằng đã già cả khơng có con cháu nào khác

nên khơng muốn Cửu Nương lấy chồng xa, hẹn đêm nay cậu tới gởi rể tại nhà. Nhà ấy khơng có đàn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chợ Biển La Sát (La Sát Hải Thị)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×