Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bạch Vu Ngọc (Bạch Vu Ngọc)

Bạch Vu Ngọc (Bạch Vu Ngọc)

Tải bản đầy đủ - 0trang

thì thấy ngồi còn thừa chỗ, tiểu đồng cũng ngồi ghé trên đuôi, chim giương cánh soạt một tiếng bay

thẳng lên không. Không bao lâu, thấy một cái cổng sơn son, tiểu đồng bước xuống trước rồi đỡ sinh

cùng xuống. Sinh hỏi đây là nơi đâu, tiểu đồng đáp "Đây là cổng trời". Bên cửa có con cọp lớn ngồi

chồm chổm, sinh sợ hãi, tiểu đồng bèn lấy mình che cho cùng vào, thấy phong cảnh khắp nơi đều khác

hẳn thế gian.

Tiểu đồng dẫn vào cung Quảng Hàn, bên trong lấy thủy tinh làm bậc thềm, người đi lên như đang

giữa tấm gương, có hai cây quế lớn vấn vít lấy nhau, mùi hương theo gió thơm tho khơng dứt, đình tạ

cửa sổ đều sơn son. Lúc lúc lại có mỹ nhân ra vào, người nào cũng xinh đẹp lạ thường, thế gian khơng

sao bì kịp. Tiểu đồng nói mỹ nhân ở cung Vương Mẫu còn xinh đẹp hơn nhưng sợ ông chủ đợi lâu,

không thể thơ thẩn rồi dắt sinh đi mau ra. Giây lát thấy Bạch đứng chờ ngoài cửa, cầm tay sinh đưa

vào thấy trước nhà suối trong cát trắng, tiếng chảy róc rách, thềm ngọc hiên son như cung điện vua

chúa, vừa ngồi xuống đã có hai thị nữ trẻ bưng trà lên mời. Kế Bạch sai dọn rượu, có bốn mỹ nhân

khép nép hầu hạ chung quanh, vừa thấy trong lưng hơi ngứa thì mỹ nhân đã lấy móng tay dài gãi giùm.

Sinh thấy tâm thần phiêu diêu, quên cả là mình đang ở đâu, lúc đã ngà ngà say không tự chủ được

nữa, cười liếc mỹ nhân, kéo lại nói nhỏ, mỹ nhân mỉm cười né ra. Bạch sai đàn hát chuốc rượu, một

nàng mặc áo hồng bưng chén rượu mời khách rồi đứng trước tiệc cất tiếng hát du dương, các nàng

khác gõ sênh phách réo rắt họa theo. Kế tới một nàng mặc xiêm xanh cũng chuốc rượu rồi hát, còn một

nàng mặc áo tía, một nàng mặc áo màu nguyệt bạch cứ cười khúc khích đùn đẩy nhau khơng chịu bước

ra. Bạch sai mỗi nàng mời một chén hát một bài, nàng áo tía bèn bước lên rót rượu. Sinh mượn cớ đón

chén rượu đùa nắm lấy cổ tay, nàng bật cười buột tay làm rơi chén rượu xuống đất Bạch trách mắng,

nàng nhặt chén lên mỉm cười, cúi đầu nói khẽ "Da lạnh như tay ma mà cố nắm tay người ta?". Bạch

cười lớn, phạt nàng phải múa hát một mình. Nàng múa xong, nàng áo nguyệt bạch lại mời một chén,

sinh từ chối nói khơng uống nổi nữa. Cơ gái bưng chén rượu có vẻ hổ thẹn, sinh bèn gượng uống. Nhìn

kỹ bốn nàng thấy phong thái yêu kiều, người nào cũng xinh đẹp tuyệt thế, sinh nói với chủ nhân "Người

đẹp trên đời, ta mong được một mà còn khó khăn, ơng thì tụ họp bấy nhiêu giai nhân, có thể cho nhau

hưởng thú tiêu hồn khơng?”.

Bạch cười nói "Túc hạ trong lòng đã có giai nhân rồi, thế này đâu đã đủ lọt vào mắt?". Sinh nói

"Nay ta mới biết kiến thức của mình còn hẹp hòi". Bạch gọi tất cả các cô gái tới cho chọn, sinh mê

mệt không biết chọn ai. Bạch nghĩ nàng áo tía có cái dun nắm tay, bèn sai lo giường nệm hầu khách.

Kế cùng chung chăn chung gối, hết sức yêu thương, sinh đòi tặng một vật làm kỷ niệm, nàng tháo chiếc

xuyến vàng ở cổ tay đưa cho. Chợt đứa tiểu đồng vào nói “Tiên phàm khác nhau, ơng nên đi ngay", cô

gái vội trỗi dậy đi ra. Sinh hỏi ơng chủ, tiểu đồng nói "Ơng chủ ta đi chầu Ngọc Hồng, lúc đi có dặn

ta tiễn khách về". Sinh buồn bã theo ra, lại theo lối cũ, gần tới cổng quay lại nhìn thì tiểu đồng đã đi

đâu mất. Con cọp gầm thét chồm lên, sinh sợ hãi bỏ chạy, nhìn xuống dưới thấy mờ mịt nhưng chân đã

lọt xuống, giật mình tỉnh dậy thì phía đơng đã hừng sáng. Vừa giũ áo đứng lên thì có một vật rơi nhẹ

xuống chiếu, nhìn lại thì là chiếc xuyến, càng lấy làm lạ.

Từ đó ý nghĩ lúc trước thành nguội lạnh, thường muốn tìm tiên học đạo nhưng còn lo về nỗi khơng



có con nối dõi. Qua hơn mười tháng, một hôm sinh ngủ trưa mơ thấy nàng áo tía từ ngồi vào, bế một

đứa nhỏ nói “Đây là xương máu của chàng, trên trời không giữ lại được nên xin đem tới trả chàng",

rồi đặt đứa nhỏ trên giường, kéo vạt áo sinh đắp cho nó rồi vội vã định đi. Sinh ép cùng giao hoan, kế

nàng nói “Lần trước là động phòng, lần này là vĩnh quyết, vợ chồng trăm năm đến đây là hết. Nếu

chàng có chí, may ra còn có lúc gặp lại”.

Sinh tỉnh giấc thấy đứa nhỏ nằm trong bọc tã trên giường, liền bế vào nói với mẹ. Mẹ mừng rỡ,

th vú ni cháu, đặt tên là Mộng Tiên. Rồi đó sinh sai người báo cho Thái sử rằng mình sắp đi ở ẩn

xin kén rể khác. Thái sử không chịu, sinh cố từ chối. Thái sử kể cho con gái, nàng nói "Xa gần chẳng

ai không biết con đã hứa làm vợ Ngơ lang, nay thay đổi hóa ra là hai chồng sao?", Thái sử đem lời ấy

nói với sinh. Sinh nói "Ta chẳng những khơng có chí về việc cơng danh mà còn tuyệt tình về đường gia

thất nữa, sở dĩ khơng vào núi ngay chỉ vì còn mẹ già đó thơi”. Thái sử lại bàn với con gái, nàng nói

"Ngơ lang nghèo thì con cam phận rau cháo, Ngơ lang đi thì con xin thờ mẹ chồng, quyết khơng theo

người khác".

Sinh sai người qua lại hai ba lần cũng không xong, Thái sử bèn chọn ngày lành cho xe kiệu đưa

con gái về nhà chồng. Sinh cảm là người hiền đức, rất mực kính yêu. Nàng thờ mẹ chồng rất có hiếu,

chiều chuộng hầu hạ còn hơn con gái nhà nghèo. Qua hai năm mẹ chồng mất, nàng cầm bán tư trang lo

liệu tang lễ rất tươm tất. Sinh nói "Được người vợ như nàng, ta còn lo gì. Nhưng nghĩ một người đắc

đạo bỏ nhà lên tiên, ta sắp đi xa, việc nhà xin phó thác cho nàng". Nàng thản nhiên khơng hề giữ lại,

sinh bèn ra đi.

Nàng ngồi lo mưu sinh, trong dạy con cơi, đều có phép tắc. Mộng Tiên dần dần lớn lên, vô cùng

thông minh, mười bốn tuổi thi khoa Thần đồng đỗ Cử nhân, mười lăm tuổi vào Hàn lâm viện, triều

đình phong tặng nhưng khơng biết tên mẹ đẻ nên chỉ có bà Cát được phong tặng mà thôi. Đến ngày tế,

Mộng Tiên hỏi cha ở đâu, bà Cát nói rõ, Mộng Tiên muốn từ quan đi tìm cha, bà nói “Cha con rời nhà

đến nay đã hơn mười năm, chắc đã lên tiên rồi, biết đâu mà tìm".

Sau Mộng Tiên phụng chỉ ra tế ở Nam Nhạc, giữa đường gặp cướp, đang lúc nguy cấp có một đạo

sĩ cầm gươm xơng vào đánh, bọn cướp thua chạy tán loạn nên được giải vây. Mộng Tiên cảm ơn đạo

sĩ, tặng tiền nhưng y khơng nhận, đưa ra một phong thư nói “Ta có người bạn cũ cùng làngvới đại

nhân, phiền đưa giùm lá thư thăm hỏi". Mộng Tiên hỏi họ tên người ấy, đạo sĩ đáp là Vương Lâm,

nhưng nhớ lại trong thôn khơng có ai tên ấy, đạo sĩ nói “Người ấy con nhà hèn mọn nên ông không biết

thôi”. Lúc từ giã lại đưa ra một chiếc xuyến vàng, nói "Đây là vật dùng của đàn bà con gái, bần đạo

nhặt được nhưng khơng dùng gì tới, xin biếu ơng ln”.

Mộng Tiên thấy chiếc xuyến chạm trổ rất tinh xảo, đem về đưa phu nhân. Phu nhân thích lắm, sai

thợ khéo theo đúng kiểu làm thêm chiếc nữa, nhưng không sao tinh xảo bằng được. Mộng Tiên hỏi

khắp trong thơn thì khơng có ai tên Vương Lâm, bèn lén mở phong thư ra xem, thấy phía trên viết như

sau:

Ba năm loan phượng

Chia cách đơi miền



Ni con chơn mẹ

Tồn cậy nàng hiền

Lấy gì báo đức?

Tặng thuốc một viên

Cắt ra mà uống

Có thể thành tiên

Dưới viết "Kính gửi Phu nhân Lâm nương". Mộng Tiên đọc xong không hiểu là gởi ai bèn cầm tới

kể với mẹ. Bà Cát đọc xong khóc nói "Đây là thư của cha con gửi về nhà, Lâm là tiểu tự của ta",

[109]



Mộng Tiên mới sực hiểu ra “Vương Lâm" là chiết tự chữ “Lâm”

, ân hận không thôi. Lại đưa chiếc

xuyến cho mẹ xem, bà Cát nói "Đây là di vật của mẹ đẻ con, lúc cha con còn ở nhà vẫn đưa cho ta

xem". Mộng Tiên thấy viên thuốc bằng hạt đậu lớn, vui mừng nói "Cha đã thành tiên, mẹ uống viên

thuốc này ắt được trường sinh”' nhưng bà Cát chưa muốn uống ngay, bèn nhận lấy cất đi.

Gặp lúc Thái sử qua thăm cháu, bà đọc bức thư của Ngô lang cho ông nghe, nhân mang viên thuốc

ra chúc thọ. Thái sử cắt làm đôi cho cha con cùng uống, trong giây lát thấy tinh thần phấn chấn hẳn

lên. Năm ấy Thái sử đã bảy mươi tuổi, già nua yếu ớt lắm rồi mà chợt thấy sức lực cuồn cuộn dưới da

thịt, lúc về bỏ kiệu xuống bộ đi rất nhanh, bọn gia nhân chạy theo mướt mồ hơi mới kịp. Năm sau đơ

thành có nạn cháy nhà, lửa bốc suốt ngày không tắt, mọi người đêm không dám ngủ, tụ tập ở sân. Thấy

lửa cứ lan ra, dần dần tới lối xóm, cả nhà nhớn nhác không biết làm sao.

Bỗng chiếc xuyến vàng ở tay phu nhân soạt một tiếng thoát khỏi tay bay ra, nhìn theo thấy to mấy

mẫu úp quanh trên nhà, hình dáng như vành trăng, chỗ mối nối hướng về phía đơng nam, nhìn thấy rất

rõ ràng, mọi người đều kinh ngạc. Giây lát ngọn lửa từ phía tây lan tới, tới gần cái vành thì tạt qua

phía đơng. Khi thế lửa đã dịu, phu nhân đang thầm nghĩ chắc mất chiếc xuyến rồi, không sao lấy lại

được nữa chợt thấy ánh vàng vụt thu lại, chiếc xuyến rơi leng keng ngay dưới chân. Mấy vạn nhà dân

trong thành đều cháy sạch, chung quanh đều ra tro, chỉ có nhà họ Ngơ là khơng bị gì, duy có một ngơi

lầu nhỏ ở phía đơng nam bị cháy rụi, tức là nơi mối nối của chiếc xuyến để hở ra. Bà Cát hơn năm

mươi tuổi mà có người gặp, thấy chỉ như ngoài hai mươi.



094. Nước Dạ Xoa (Dạ Xoa Quốc)

Họ Từ ở đất Giao Châu (huyện Ngô Châu tỉnh Quảng Tây) vượt biển đi buôn, bị bão thổi bạt

thuyền. Mở mắt thấy tới một xứ núi cao rừng rậm, cho rằng có người ở bèn buộc thuyền đem theo

lương khơ lên bờ. Vừa vào thì thấy hai bên núi đều có cửa hang dày đặc như lỗ tổ ong, phía trong như

có tiếng người. Bèn tới ngồi một cửa hang nhìn vào, thấy có hai con dạ xoa răng tua tủa như dao, mắt

sáng quắc như đèn đang lấy móng xé một con hươu ăn sống, hồn bay phách lạc vội chạy lui lại thì dạ

xoa quay lại nhìn thấy, bỏ ăn quay ra bắt vào. Hai con nói chuyện với nhau, tiếng như chim kêu thú

gào, rồi tranh nhau xé nát áo Từ như muốn ăn tươi nuốt sống. Từ cả sợ quá vội lấy lương khô thịt khô

trong túi ra đưa, chúng chia nhau ăn có vẻ ngon lành lắm rồi lại lục cái túi. Từ xua tay ra hiệu khơng

còn, dạ xoa tức giận lại túm lấy Từ. Từ năn nỉ “Tha cho ta đi, trong thuyền ta có nồi niêu, có thể nấu

nướng được". Dạ xoa không hiểu, vẫn tức giận. Từ dùng tay ra hiệu, chúng có vẻ hơi hiểu bèn theo Từ

ra thuyền.

Từ đem nồi vào hang, gom củi nhen lửa nấu chín thịt hươu còn lại đưa cho dạ xoa, hai con vật ăn

xong thích lắm. Đêm đến chúng vần khối đá lớn lấp cửa hang như có ý sợ Từ bỏ trốn. Từ nằm co quắp

xa xa, chỉ sợ không sao sống được. Trời sáng hai con vật ra, lại lấp chặt cửa hang, lát sau mang về

một con hươu đưa cho Từ. Từ lột da, múc nước chảy ở cuối hang luộc thịt làm mấy nồi, giây lát có

một bầy mấy con dạ xoa kéo tới ăn ngấu nghiến hết sạch, rồi cùng chỉ vào cái nồi như chê nhỏ. Ba bốn

ngày sau, một dạ xoa vác tới một cái nồi lớn như người ta vẫn thường dùng. Từ đó cả bầy cứ đem tới

nào nai nào sói cho Từ nấu, thịt chín rồi thì gọi Từ cùng ăn. Được vài ngày, dạ xoa dần dà quen Từ,

khi đi không vần đá lấp cửa hang nhốt lại nữa mà đối xử như cùng trong bầy.

Từ dần dần xét tiếng kêu của chúng mà xem ý tứ rồi tập kêu theo, nói tiếng dạ xoa. Dạ xoa càng

thích, đưa một dạ xoa cái tới làm vợ Từ. Lúc đầu Từ sợ không dám gần, dạ xoa cái tới ngủ chung,

cùng Từ ăn nằm thích lắm, thường đem thịt cho Từ ăn như vợ chồng con người vậy. Một hôm cả bầy

dậy sớm, lấy chuỗi hạt minh châu đeo quanh cổ thay phiên nhau ra cửa như chờ khách quý, lại bảo Từ

nấu nhiều thịt. Từ hỏi dạ xoa cái, nó đáp đây là tiết Thiên thọ. Dạ xoa cái ra nói với bầy rằng "Từ

lang khơng có vòng đeo cổ". Mỗi con bèn trích trong chuỗi minh châu của mình năm hạt đưa nó, nó

cũng rút mười hạt trong chuỗi của mình ra, được tất cả năm mươi hạt rồi lấy dây cỏ xỏ thành một

chuỗi đeo vào cổ cho Từ, Từ xem kỹ thấy mỗi hạt đều đáng giá hàng trăm đồng vàng. Lát sau cả bầy

đều ra ngoài, Từ nấu thịt xong, dạ xoa cái vào bảo đi, nói là ra đón thiên vương.

Tới một cái hang lớn rộng chừng một mẫu, giữa có tảng đá to bằng phẳng như cái bàn, chung

quanh đều có chỗ ngồi bằng đá, một chỗ trên cùng phủ da báo, còn lại đều phủ da hươu, hai ba chục

dạ xoa đã ngồi la liệt trong hang. Giây lát gió to tung bụi bay mù mịt, cả bọn vội vàng ra đón, thấy một

con vật to lớn hình thù như dạ xoa chạy ào vào hang, nhảy lên ngồi ngất ngưỡng trên bệ, đưa mắt nhìn

khắp chung quanh. Bầy dạ xoa theo vào chia ngồi xuống hai bên, đầu ngẩng cao, hai cánh tay chắp

thành hình chữ thập trước ngực. Con vật đếm cả bọn rồi hỏi "Bọn Ngọa My Sơn có mặt cả ở đây



khơng?", cả bầy cùng dạ. Nó nhìn Từ hỏi “Từ đâu tới?”, dạ xoa cái thưa là chồng, cả bầy đều ca ngợi

Từ biết nấu thịt. Lập tức hai ba dạ xoa chạy đi lấy thịt chín bày lên, con vật bốc ăn no, hết sức khen

ngợi, bảo phải cung đốn thường xun. Lại quay nhìn Từ hỏi "Vòng hạt sao ngắn thế?", cả bọn thưa

“Mới tới nên chưa đủ”. Con vật rút mười hạt trong chuỗi hạt đeo trên cổ đưa cho, hạt nào cũng to như

đầu ngón tay, tròn như viên đạn, dạ xoa cái vội đón lấy đeo vào cho Từ, Từ cũng chắp tay nói tiếng dạ

xoa tạ ơn.

Kế con vật ra khỏi hang, lướt gió đi nhanh như bay, cả bầy bèn ăn chỗ thịt còn lại rồi tan đi. Được

hơn bốn năm, vợ Từ sinh ba, hai trai một gái, đều có hình người chứ khơng giống mẹ. Bầy dạ xoa đều

rất thích ba đứa nhỏ, cùng vỗ về đùa giỡn với chúng. Một hơm cả hang đi vắng, chỉ còn một mình Từ,

chợt một dạ xoa cái ở hang khác sang gạ gẫm, Từ khơng chịu, nó tức giận quật Từ xuống đất. Vợ Từ từ

ngoài vào, nổi giận đánh nhau, cắn đứt tai nó. Giây lát con đực chồng nó về, gỡ ra đuổi nó đi, từ đó

dạ xoa cái giữ rịt lấy Từ không rời. Lại ba năm sau, ba đứa trẻ biết đi, Từ dạy chúng tiếng người, dần

dần biết nói, bập bẹ như người, tuy còn nhỏ nhưng trèo núi như đi trên đất bằng, khắng khít với Từ

như cha con lồi người.

Một hơm dạ xoa cái và một trai một gái ra ngoài, nửa ngày chưa về mà gió bấc thổi mạnh, Từ

chạnh tình q, dẫn con trai tới bờ biển. Thấy chiếc thuyền cũ vẫn còn, định cùng nhau trở về, đứa con

định báo với mẹ, Từ ngăn lại. Hai cha con xuống thuyền, một ngày một đêm về tới Giao Châu, tới nhà

thì vợ đã cải giá. Từ bán hai hạt châu được rất nhiều tiền, trong nhà dư dật. Đứa con lấy tên là Bưu,

mười bốn mười lăm tuổi đã có thể nhấc nổi vật nặng trăm thạch,tính thơ mãng thích đánh nhau. Viên

Tổng súy đất Giao gặp lấy làm lạ, trao cho chức Thiên tổng. Gặp lúc có loạn ngồi biên, Bưu lập

được cơng, năm mười tám tuổi được phong Phó tướng.

Lúc ấy có một lái bn đi biển cũng bị gió bạt tới Ngọa My, vừa lên bờ thì gặp một thiếu niên, lấy

làm kinh ngạc. Thiếu niên biết là người Trung Quốc liền tới hỏi han, người lái bn nói rõ. Thiếu niên

dẫn tới hẻm núi vắng, đưa vào một hang đá . nhỏ, bên ngồi tồn là cây cỏ gai góc, dặn chớ ra ngoài.

Đi hồi lâu quay về đem thịt hươu cho người lái bn ăn, nói cha mình cũng là người Giao Châu,

người lái bn hỏi ra thì là Từ, lúc đi bn có biết nhau bèn nói "Ơng ta là bạn ta, nay đứa con trai

đang làm Phó tướng". Thiếu niên khơng hiểu Phó tướng là gì người ấy nói "Đó là chức quan ở Trung

Quốc”. Thiếu niên lại hỏi quan là gì, người ấy đáp “Ra đường thì cưỡi ngựa đi xe, vào nhà thì ngồi

trên sảnh đường, gọi một tiếng thì trăm người dạ, ai gặp cũng khơng dám nhìn thẳng, khơng dám đứng

thẳng, như thế gọi là quan". Thiếu niên có vẻ thích lắm, người lái bn nói "Tơn qn đã ở Giao

Châu, sao còn chịu ở đây lâu thế?". Thiếu niên kể lại sự tình.

Người lái bn khun nên về nam, thiếu niên nói "Ta cũng thường có ý ấy, song mẹ ta khơng phải

là người Trung Quốc, vẻ người tiếng nói đều khác, vả lại nếu đồng loại mà biết sẽ làm hại nên còn

chần chừ". Rồi đi ra, nói "Đợi gió bắc nổi ta sẽ đưa ông về, phiền ông tới báo cho cha anh ta biết tin".

Người lái buôn ẩn trong hang gần nửa năm, có lần nhìn qua đám gai góc thấy dạ xoa qua lại bên ngồi

sợ lắm, khơng dám động đậy. Một hơm gió bắc ù ù nổi, thiếu niên chợt tới, dẫn người lái buôn trốn ra,

dặn "Đừng quên điều ta nhờ”, người lái buôn vâng dạ rồi về, tới Giao Châu vào ngay phủ Phó tướng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bạch Vu Ngọc (Bạch Vu Ngọc)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×