Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cô Tân Mười Bốn (Tân Thập Tứ Nương)

Cô Tân Mười Bốn (Tân Thập Tứ Nương)

Tải bản đầy đủ - 0trang

mân mê giải áo, thấy sinh xông vào hoảng hốt nhìn khắp mọi người trong phòng. Tân tức giận sai mấy

người lôi sinh ra cửa. Men rượu càng bốc, sinh ngã lăn vào bụi gai, gạch đá ném xuống như mưa, may

mà không trúng vào người. Nằm một lúc nghe con lừa vẫn còn gặm cỏ bên đường, bèn dậy lên lừa thất

thểu ra đi.

Trời tối lầm đường lạc vào khe núi, sói gào cú rúc rợn gáy lạnh mình, ngập ngừng nhìn quanh

khơng biết đang ở đâu. Nhìn tới khu rùng xa xa thấy có ánh đèn thấp thống, nghĩ là làng xóm, liền

giục lừa tới, thấy cánh cổng cao rộng bèn cầm roi gõ cửa. Bên trong có người hỏi "Lang quân ở đâu

mà nửa đêm tới đây?", sinh đáp là lạc đường. Người ấy nói “Chờ ta thưa với chủ nhân". Sinh đứng

đợi chồn cả chân, chợt nghe tiếng then lạch cạch rồi cánh cổng mở ra, một người tớ trai khỏe mạnh

bước ra đỡ dây cương lừa.

Sinh vào, thấy nhà cửa hoa lệ, trên sảnh thắp đèn sáng trưng. Ngồi giây lát thì có người đàn bà ra

hỏi tên họ khách, sinh nói rõ. Hồi lâu có mấy tỳ nữ đỡ một bà già ra, nói “Quận quân tới”. Sinh đứng

lên định vái lạy, bà già ngăn lại bảo ngồi rồi hỏi “Ngươi là cháu nội của Phùng Vân Tử phải không?",

sinh đáp "Thưa phải". Bà già nói “Vậy thì ngươi là cháu gọi lão thân bằng bà mợ. Thân già như

chuông câm lậu cạn, đến cuối đời họ hàng ruột thịt cũng không ai lui tới”. Sinh nói "Cháu lúc nhỏ mồ

cơi cha, những người lui tới với ông nội mười phần không biết một nên chưa được chào bà, xin chỉ

bảo cho”' Bà già nói "Rồi cháu sẽ tự rõ". Sinh khơng dám hỏi nữa, ngồi đối diện bà già trầm tư.

Bà già hỏi "Sao cháu lại nửa đêm tới đây?”, sinh bèn khoe khoang mình gan dạ, kể rõ những

chuyện đã qua. Bà già cười nói “Đó là việc mừng lớn, huống hồ cháu là danh sĩ, chẳng có gì làm nhà

thơng gia phải xấu hổ mà con chồn tinh nhà quê sao dám làm cao như thế? Cháu đừng lo, để ta thu xếp

cho". Sinh vâng dạ cám ơn, bà già quay lại hỏi tả hữu "Ta không biết con gái họ Tân lại có đứa xinh

đẹp như thế đấy". Một tỳ nữ nói “Y có mười chín con gái, người nào cũng xinh xắn, không rõ quan

nhân định hỏi người nào?”. Sinh đáp “Là người khoảng mười lăm tuổi". Người tỳ nữ nói "Vậy là cơ

Mười bốn, ba hơm trước từng theo mẹ tới đây chúc thọ Quận quân, Quận quân quên rồi sao?". Bà già

cười nói "Phải là người kết hột sen làm giày cao gót, trong chứa bột thơm, ngồi bọc sa mỏng mà đi

khơng?”, người tỳ nữ đáp "Thưa phải". Bà già nói "Con nhãi ấy biết làm ra vẻ quyến rũ khéo lắm,

nhưng quả là xinh đẹp, cháu ta thưởng lãm không sai", rồi lập tức bảo "Sai thằng Mèo Con gọi nó tới

đây".

Người tỳ nữ đó vâng dạ đi ra, lát sau quay vào bẩm "Đã gọi được cô Mười bốn nhà họ Tân tới",

liền thấy cô gái áo đỏ bước vào phủ phục làm lễ, bà già kéo dậy nói “Sắp làm vợ cháu ta, không nên

làm lễ như tỳ nữ thế nữa". Cô gái thướt tha đứng lên, hai tay áo đỏ rủ xuống, bà già sửa mái tóc cho,

sờ đơi hoa tai của nàng hỏi "Gần đây Tân Mười bốn ở nhà làm gì?”. Nàng đáp khẽ "Lúc rảnh con chỉ

thêu thùa”' rồi quay đầu thấy sinh, có vẻ ngượng ngập bối rối. Bà già nói "Đó là cháu ta, nó có ý tốt

muốn kết duyên với con, sao lại để nó lạc đường, đêm khuya thất thểu trong khe núi thế?”, nàng cúi

đầu im lặng. Bà già nói "Ta gọi con tới đây khơng có chuyện gì khác, chỉ là muốn làm mai cho cháu ta

đấy thôi”, nàng vẫn im lặng. Bà già sai quét giường trải nệm để làm lễ thành hơn lập tức, cơ gái thẹn

thùng nói “Xin cho con về thưa với cha mẹ". Bà già nói "Ta làm mai cho con thì còn có gì sai sót



chứ?”. Nàng thưa "Quận quân ra lệnh thì cha mẹ con phải vâng lời chứ đâu đám trái, nhưng qua quít

thế này thì con dù chết cũng khơng dám vâng mệnh". Bà già cười nói “Con bé này chí khí cứng cỏi,

thật xứng đáng làm vợ cháu ta", bèn rút một chiếc thoa vàng trên tóc nàng đưa cho sinh làm tin, bảo về

chọn ngày lành giờ tốt làm lễ cưới. Rồi sai tỳ nữ đưa nàng về, nghe xa xa có tiếng gà gáy lại sai dắt

lừa tới tiễn sinh ra.

Sinh đi được vài bước, ngoảnh lại thì nhà cửa xóm làng đã biến mất, chỉ thấy cây cối um tùm, cỏ

hoang mộ lở mà thôi, định thần ngẫm nghĩ hồi lâu mới nhớ ra chỗ đó là mộ quan Thượng thư họ Tiết.

Tiết vốn là em bà nội sinh nên gọi sinh là cháu. Lúc ấy sinh biết mình đã gặp ma, nhưng không hiểu cô

Tân Mười bốn là ai. Bèn than thở quay về, chọn bừa một ngày tốt chờ nhưng vẫn thầm ngờ vực lời hẹn

của ma quỷ khó tin, lại tới ngơi chùa cổ xem thì trong ngồi vắng tanh, hỏi thăm thì người ở đó nói

trong chùa thường có hồ quy. Sinh nghĩ thầm nếu được vợ đẹp thì có là hồ cũng tốt.

Đến ngày đã định liền cho dọn phòng quét ngõ, sai người nhà thay phiên nhau ra ngóng, đến nửa

đêm vẫn yên ắng, sinh đã hết trơng chờ. Giây lát nghe ngồi cổng ồn ào, lật đật ra xem thì kiệu hoa đã

ngừng ở sân, hai a hồn đỡ cơ gái vào phòng, của hổi mơn khơng có gì đáng giá chỉ có hai người tớ

trai khiêng một cái phốc mãn to bằng cái khạp ghé vai đặt xuống góc phòng khách. Sinh mừng được

vợ đẹp, khơng nghĩ gì tới việc khác lồi, nhân hỏi cô gái "Một người đã chết như vậy sao nhà nàng

quá phục tùng thế?”. Nàng đáp “Quan Thượng thư họ Tiết hiện làm Ngũ Đơ Tuần hồn sứ, hồ quỷ

trong vài trăm dặm đều phải theo hầu, nên ít khi về mộ". Sinh nhớ cái ơn làm mối, hôm sau tới tế mộ

ông bà, lúc về thấy hai tỳ nữ đem tới một cuộn gấm mừng, đặt lên bàn rồi đi. Sinh kể lại cho cô gái,

nàng xem cuộn gấm rồi nói "Đây là vật của quận quân đấy".

Trong huyện có cơng tử con quan Thơng chính ty họ Sở, thuở nhỏ học chung với sinh, chơi bời

thân mật, nghe sinh cưới được vợ hồ liền đem thức ăn tới, sinh lập tức ra sảnh đường nhận rượu

mừng. Vài hôm sau công tử lại bày tiệc mời, cô gái nghe chuyện nói với sinh “Hơm trước cơng tử tới,

thiếp nhìn trộm qua kẽ vách thấy người ấy mắt vượn mũi ưng không thể thân cận, chàng đừng đi", sinh

nghe theo. Hôm sau công tử tới trách sinh lỗi hẹn, nhân khoe bài văn mới làm. Sinh bình phẩm có ý

giễu cợt, cơng tử cả thẹn khơng vui, kế chia tay. Sinh vào phòng cười kể lại, cơ gái buồn bã nói “Cơng

tử độc ác như sài lang, khơng nên trêu chọc. Chàng khơng nghe lời thiếp thì sắp gặp tai vạ rồi”' sinh

cười xin lỗi nàng.

Sau đó sinh gặp cơng tử thì cười đùa vui vẻ, chuyện xích mích trước dần tiêu tan. Gặp lúc có kỳ

thi ở dinh Đốc học, công tử đỗ đầu, vô cùng vui vẻ sai người mời sinh qua uống rượu, sinh từ chối,

công tử sai mời mấy lần mới tới. Khi tới mới biết là ngày sinh nhật của công tử, khách khứa đầy nhà,

rượu thịt ê hề. Công tử đưa quyển thi cho sinh xem, bạn bè đua nhau ca tụng. Rượu được vài tuần, dàn

nhạc ra tấu dưới thềm, tiếng đàn sáo tưng bùng, chủ khách đều rất vui vẻ. Bỗng cơng tử nói với sinh

“Lời ngạn có câu Trong trường chớ bàn văn chương hơn kém, nay mới rõ câu ấy là sai. Sở dĩ mới rồi

tiểu sinh may mắn đỗ trên ông là nhờ vài câu khởi đề cao hơn một bực mà thơi". Cơng tử nói xong, cả

tiệc đều cất tiếng khen ngợi. Sinh đang say không nhịn được, cười rộ nói “Mãi đến nay ơng mới nhờ

văn chương mà thành đạt tới mức ấy à?". Sinh nói xong cả tiệc đều tái mặt, cơng tử vừa thẹn vừa uất.



Khách khứa lần lượt ra về, sinh cũng lẩn đi.

Khi tỉnh rượu hối hận bèn kể lại cho vợ, nàng khơng vui, nói "Chàng thật là gã thơn phu quê mùa!

Phàm lấy thái độ khinh bạc đối xử với bậc quân tử thì tổn đức, đối xử với kẻ tiểu nhân thì hại thân, tai

họa sắp tới cho chàng khơng còn xa đâu. Thiếp khơng nỡ thấy chàng lưu lạc, từ nay xin giã biệt". Sinh

lo sợ sa nước mắt tỏ ý ăn năn, nàng nói "Nếu muốn thiếp ở lại thì chàng phải hứa là từ nay trở đi đóng

cửa tuyệt hết bạn bè, khơng uống rượu say sưa nữa”, sinh kính cẩn theo lời.

Cơ Mười bốn tính cần kiệm hơn người, hàng ngày thường lo việc canh cửi, có lúc về thăm nhà

nhưng khơng bao giờ ở lại qua đêm. Có khi lại xuất tiền bn bán, hàng ngày có lời thì bỏ vào cái

phốc mãn. Ngày ngày đóng cửa, ai tới thăm viếng cũng bảo gia nhân ra từ tạ không tiếp. Hôm sau,

công tử họ Sở gửi thư tới, nàng đốt bỏ không cho sinh biết. Lại hôm sau sinh vào thành điếu tang, gặp

công tử ở nhà tang chủ, công tử nắm tay lôi kéo mời mọc, sinh thác cớ không đi. Công tử sai mã phu

nắm cương ngựa sinh kéo đi, tới nhà công tử lập tức sai bày tiệc, sinh lại cáo từ muốn về sớm. Công

tử nhất định giữ lại, lại gọi ban nhạc trong nhà ra đàn hát giúp vui. Sinh vốn khơng chịu bị gò bó, từ

khi phải đóng cửa ở lỳ trong nhà rất lấy làm buồn bực, gặp bữa rượu lớn chợt nổi hứng không nghĩ gì

tới ý trước nữa, cứ thả sức uống đến lúc say mèm lăn ra luôn bên bàn tiệc.

Vợ công tử là Nguyễn thị rất hung dữ ghen tuông, đám tỳ thiếp khơng dám trang điểm son phấn.

Hơm trước có một nàng hầu vào phòng sách của cơng tử bị Nguyễn thị bắt được, cứ lấy gậy đập vào

đầu, nàng ấy vỡ đầu chết ngay. Cơng tử vẫn căm giận vì bị sinh chế giễu, hàng ngày nghĩ cách báo thù,

bèn mưu phục rượu cho say để vu cáo. Nhân lúc sinh say ngủ, liền khiêng cái xác nàng hầu lên giường

rồi khép cửa bỏ đi. Đến canh năm sinh tỉnh mới biết mình ngủ trên ghế bèn dậy tìm giường, thấy có vật

mềm mềm vướng chân, mò xem thì là người. Bụng nghĩ chắc chủ nhân cho tiểu đồng ngủ chung để

chăm sóc hầu hạ, nhưng lay gọi sờ nắn thì bất động mà cứng đờ, cả sợ ra cửa la ầm lên. Tôi tớ trong

nhà vùng dậy, thắp đèn soi thấy xác chết liền bắt sinh đánh dập. Công tử tới giả xem xét xác chết rồi

vu cho sinh cưỡng gian giết nàng hầu của mình, giải nộp lên huyện Quảng Bình.

Hơm sau cơ Mười bốn mới biết chuyện, khóc nói “Ta đã biết trước là sẽ có ngày hôm nay mà",

rồi hàng ngày gởi tiền bạc cho sinh. Sinh gặp quan Phủ dỗn khơng có lý lẽ gì để minh oan nên sớm

chiều bị tra khảo đánh đập tuột da nát thịt. Cô gái vào ngục thăm, sinh gặp nàng nghẹn ngào đau đớn

khơng nói nên lời. Nàng biết đã mắc vào mưu sâu bèn khuyên cứ nhận tội bừa cho khỏi bị tra tấn đau

đớn, sinh khóc nghe theo. Nàng ra vào trong ngục mà người cách nhau gang tấc cũng khơng nhìn thấy,

về nhà thở dài buồn bã, đuổi hết tớ gái ra ngoài, ở trong phòng một mình liền mấy ngày. Kế nhờ bà

mối mua giùm một cô gái nhà dân tên Lộc Nhi, tuổi vừa cập kê, nhan sắc khá đẹp, cho ăn cùng mâm

nằm cùng chiếu, yêu mến khác hẳn đám tỳ thiếp trong nhà.

Sinh nhận tội ngộ sát bị kết án thắt cổ, người lão bộc nghe tin chạy về khóc lóc kể không ra tiếng,

nhưng nàng thản nhiên như không để ý. Kế sắp đến ngày đem xử những tù phạm bị kết án tử hình, nàng

mới nhớn nhác vội vã, ngày đi đêm về không lúc nào nghỉ ngơi, lúc vắng người thì ngồi buồn rầu, bỏ

cả ăn ngủ. Một hôm trời vừa sập tối, chợt con hồ tỳ tới, nàng vội đứng lên dắt vào phòng kín trò

chuyện, lúc quay ra thì có vẻ hớn hở, lại coi sóc việc nhà như ngày thường. Hôm sau người lão bộc



vào ngục thăm, sinh gởi lời vĩnh biệt nương tử, người lão bộc về thuật lại, nàng ậm ừ mà cũng chẳng

có vẻ đau thương buồn bã, chỉ lạnh lùng mặc kệ, tôi tớ đều lén chê là nàng nhẫn tâm.

Chợt khắp nơi đồn đại quan Thơng chính sứ họ Sở bị cách chức, quan Quan sát Bình Dương vâng

đặc chỉ xét lại vụ án Phùng sinh. Lão bộc nghe tin, mừng rỡ vào nói với bà chủ. Nàng cũng mừng, lập

tức sai lão bộc lên phủ thăm dò, thì sinh đã ra khỏi ngục, gặp nhau vừa mừng vừa tủi. Giây lát thấy

công tử bị bắt giải tới, chỉ tra hỏi một lượt là biết hết nội tình, sinh được tha ngay về. Về tới nhà, sinh

vừa nhìn thấy vợ vùng sa nước mắt, nàng cũng chua xót. Sinh buồn rồi lại vui, nhưng rốt lại vẫn không

rõ nhờ đâu mà vua biết được. Nàng cười chỉ con hồ tỳ nói "Đây là cơng thần của chàng đấy", sinh mới

kinh ngạc hỏi han.

Trước là nàng sai con hồ tỳ lên yên Kinh, muốn vào cung vua kêu oan cho sinh nhưng tới nơi thấy

trong cung có thần canh giữ, cứ quanh quẩn ngồi ngự câu mấy tháng khơng vào được. Nó sợ hỏng

việc, toan về bàn tính lại, chợt nghe tin Thiên tử sắp ngự giá tới huyện Đại Đồng (tỉnh Sơn Tây), liền

tới đó trước, giả làm con hát rong. Vua tới kỹ viện gặp nó rất thương yêu, tỏ ý ngờ khơng phải là kẻ

phong trần, nó bèn cúi đầu khóc lóc. Vua hỏi có chuyện gì oan khổ, con hồ tỳ tâu "Thiếp vốn quê ở

huyện Quảng Bình, con gái sinh viên Phùng mỗ, vì cha bị vu oan sắp bị xử tử nên bị bán vào kỹ viện”.

Vua nghe thấy buồn bã thương xót, ban cho một trăm lượng vàng, lúc ra về lại hỏi kỹ đầu đuôi câu

chuyện, lấy giấy bút ghi lại tên họ, lại nói muốn đưa nó về cùng chung hưởng phú q. Con hồ tỳ nói

chỉ muốn cha con đồn tụ chứ không mong được hưởng giàu sang, vua gật đầu rồi đi. Con hồ tỳ kể lại

cho sinh nghe, sinh vội vái lạy tạ ơn, nước mắt lưng tròng.

Khơng bao lâu sau, cơ gái chợt nói với sinh "Thiếp khơng vì tình duyên thì đâu phải chịu cảnh

phiền não thế này. Lúc chàng bị giam, thiếp chạy chọt khắp cả họ hàng thân thuộc mà khơng một ai bàn

tính giùm mưu kế gì, lúc ấy trong lòng chua cay, thật khơng thể nói ra. Nay thấy chán ghét tục lụy, đã

tìm sẵn cho chàng một người vợ hiền, vậy từ đây xin giã biệt”. Sinh nghe lạy phục xuống đất khóc lóc

khơng chịu đứng lên, cơ gái mới ở lại. Đến đêm nàng sai Lộc Nhi qua với sinh, sinh nhất định từ chối.

Sáng hôm sau thấy cô Mười bốn dung mạo sút hẳn, hơn một tháng thì già sọm đi, nửa năm thì mặt nám

da đen như bà già nhà q, nhưng sinh vẫn kính mến khơng khác trước.

Chợt cơ gái lại đòi từ biệt, nói “Chàng đã có vợ đẹp rồi, cần gì tới con quỷ già này?”' sinh lại

khóc giữ lại như trước. Qua tháng sau, cơ gái phát bệnh nguy cấp, bỏ cả ăn uống nằm liệt. Sinh hôm

sớm thuốc thang như lo cho cha mẹ, nhưng thuốc men bùa chú gì cũng vơ hiệu, kế nàng chết. Sinh đau

thương muốn chết theo luôn, liền lấy số vàng của con hồ tỳ được vua ban cho trước kia lo việc chôn

cất. Vài hôm sau con hồ tỳ cũng đi. Sinh bèn lấy Lộc Nhi làm vợ, hơn một năm sinh được một trai.

Nhưng sinh đi thi mấy khoa liền không đỗ mà gia cảnh ngày càng sa sút, vợ chồng khơng biết làm sao,

chỉ nhìn nhau buồn rầu. Chợt nhớ tới cái phốc mãn trong góc nhà, thường thấy cô Mười bốn bỏ tiền

vào trong, không biết có còn khơng? Tới xem thì nồi niêu chai lọ bày la liệt ở trên, phải nhấc cả ra rồi

lấy đũa chọc thử nhưng không chọc vào được, bung lên đập vỡ thì tiền bạc tn ra đầy nhà, nhờ thế

bỗng chốc sinh lại trở thành sung túc.

Về sau người lão bộc tới núi Thái Hoa, gặp cô Tân Mười bốn cưỡi ngựa đi trước, con hồ tỳ cưỡi



lừa theo sau, hỏi "Phùng lang bình yên chứ?”, lại dặn "Về nói cho ơng chủ biết là ta đã thành tiên rồi",

nói xong thì biến mất.

Dị Sử thị nói: Những lời khinh bạc phần lớn là do các kẻ sĩ nói ra, đó là điều bậc quân tử than

tiếc. Ta từng mạo cái danh khơng thật, nói là oan uổng thì cũng đã lỡ rồi, song chưa từng khơng

khắc khổ tự khích lệ mình để gượng dự vào hàng qn tử, còn chuyện họa hay phúc thì khơng dự

bàn. Như Phùng sinh chỉ lỡ lời một câu mà mấy lần st mất mạng, nếu khơng phải là trong nhà

có người tiên thì làm sao thốt khỏi ngục tù mà sống lại ở đời? Thật đáng sợ thay!



086. Bạch Liên Giáo (Bạch Liên Giáo)

[95]



Bạch Liên giáo

[96]



có Mỗ người tỉnh Sơn Tây, không rõ tên họ, đại khái là đệ tử của Từ Hồng



Nho , dùng yêu thuật mê hoặc dân chúng, có nhiều người hâm mộ phép thuật nhận y làm thầy. Có

hơm Mỗ đi vắng, đặt một cái chậu trong sảnh đường, lại lấy một cái chậu khác úp lên, dặn một người

học trò ngồi giữ nhưng khơng được mở ra nhìn. Mỗ đi rồi, trò mở ra xem thì thấy trong chậu đựng

nước trong, trên mặt nước có một chiếc thuyền kết bằng cỏ đủ cả cánh buồm bánh lái, lấy làm lạ đưa

ngón tay khều, chiếc thuyền nghiêng đi một cái rồi nổi lại như cũ, bèn úp chậu lại. Kế thầy về hỏi sao

dám trái lời ta, trò ra sức biện bạch là khơng hề mở ra, thầy nói "Vừa rồi thuyền đi trên biển suýt bị

lật, còn dám dối ta à?".

Lại một đêm thầy đốt đuốc cắm trên sảnh đường, dặn phải giữ đừng để gió thổi tắt rồi ra đi. Hết

canh một thầy vẫn chưa về, trò mệt mỏi lên giường nằm ngủ, thức giấc thì đuốc đã tắt ngấm vội đứng

dậy đốt lên. Kế thầy vào, lại trách mắng, trò nói "Con vốn khơng hề ngủ, làm sao đuốc tắt được?”.

Thầy tức giận nói "Mới rồi ta phải đi thầm hơn chục dặm, lại còn cãi à?” trò cả sợ. Những việc làm

kỳ lạ như thế rất nhiều, không thể chép ra hết được.

Sau người ái thiếp của Mỗ tư thông với một người học trò, Mỗ biết nhưng để bụng khơng nói ra,

sai trò đi cho heo ăn. Trò bước vào chuồng heo thì ngã lăn ra đất biến thành con heo, Mỗ lập tức gọi

đồ tể tới giết thịt đem bán, không ai biết cả. Cha người ấy không thấy con về tới hỏi, Mỗ chối nói là

lâu lắm khơng thấy tới, người cha quay về tìm kiếm khắp nơi khơng có tin tức gì. Có người học trò

khác của Mỗ ngầm biết việc đó lén nói cho người cha, người cha lên báo với quan huyện. Quan huyện

sợ Mỗ trốn thoát, không dám đi bắt, bẩm lên quan trên xin phát một ngàn giáp sĩ kéo tới vây nhà, bắt

được cả Mỗ lẫn vợ con nhốt vào lồng sắt, định giải lên kinh.

Đi ngang núi Thái Hàng, trong núi có một người to lớn bước ra, cao như cây lớn, mắt như cái tô,

miệng như cái chậu, răng dài hơn thước, quân sĩ hoảng sợ đứng ngây ra không dám đi. Mỗ nói "Đó là

yêu quái, vợ ta có thể đuổi được", quân sĩ theo lời cởi trói cho vợ Mỗ. Vợ Mỗ vác giáo xông tới,

người to lớn tức giận vồ lấy nuốt chửng, mọi người càng sợ hãi. Mỗ nói "Nó đã giết được vợ ta, thì

phải con trai ta ra mới xong", quân sĩ lại thả con trai Mỗ ra, nhưng cũng bị nuốt sống như thế. Mọi

người nhìn nhau khơng biết làm sao. Mỗ khóc lóc rồi giận dữ nói “Đã giết vợ ta, lại giết con ta làm

sao nhịn được? Nhưng khơng phải đích thân ta ra thì khơng xong”. Mọi người quả nhiên lại thả Mỗ ra

khỏi lồng sắt, trao cho thanh đao bảo tới đánh. Người to lớn giận dữ xông tới, tay không ác đấu một

lúc thì vươn tay chụp lấy Mỗ đút vào miệng, rướn cổ ra nuốt xuống rồi ung dung bỏ đi.



087. Tướng Công Hồ Tứ(Hồ Tứ Tướng Công)

Trương Hư Nhất ở huyện Lai Vu (tỉnh Sơn Đông) là anh Học sứ Trương Đạo Nhất, tính hào sảng

tự tin. Nghe nói ngơi nhà của người nọ trong huyện bị hồ chiếm ở, bèn mang danh thiếp tới yết kiến

mong được gặp một lần. Nhét danh thiếp vào khe cửa một lúc thì cánh cổng tự mở, đầy tớ sợ hãi lui

lại. Trương sửa áo kính cẩn bước vào, thấy trong sảnh đường đủ cả bàn ghế nhưng vắng ngắt không có

một ai, bèn vái dài khấn rằng "Tiểu sinh trai giới tới đây, thượng tiên đã không nỡ từ chối ngay từ

cổng, sao không ban ơn cho thấy mặt?”. Chợt nghe có tiếng người nói "Làm phiền ơng lặn lội giá lâm,

đã nghe tiếng bước chân rồi, xin mời ngồi xuống dạy dỗ cho", lập tức thấy hai chiếc ghế di động tới

đối mặt với nhau.

Trương vừa ngồi lập tức có cái khay đỏ sơn đen đựng hai chung trà lơ lửng tới trước mặt, mỗi

bên cầm một chén lên uống, nghe tiếng thổi, tiếng hớp nước nhưng vẫn không thấy người. Uống trà

xong, kế có rượu dọn ra, Trương hỏi lai lịch, hồ đáp "Đệ họ Hồ, bày hàng thứ tư, bọn tùy tùng gọi là

Tướng cơng". Rồi đó uống rượu trò chuyện, thấy rất hợp nhau. Thấy chả ba ba, khô thịt nai, rau sống

liên tiếp đưa lên, như có rất nhiều người hầu rượu. Trương uống rượu xong đang muốn uống trà, vừa

nghĩ xong đã có trà thơm phức đặt lên bàn, cứ vừa nghĩ cần món gì thì lập tức món đó đã được mang

tới. Trương thích lắm, uống say mới về. Từ đó cứ ba bốn hôm lại đến thăm Hồ một lần, Hồ cũng

thường tới nhà Trương như qua lại đáp lễ.

Một hôm Trương hỏi “Có bà đồng ở nam thành vẫn khoe nhà có thần hồ mà lấy tiền người bệnh,

khơng rõ ơng có quen hồ nhà ấy khơng?". Hồ đáp "Mụ ta bịa đấy, khơng có hồ thật đâu”. Lát sau

Trương đứng dậy đi tiểu, nghe thấy tiếng nói nhỏ "Vừa rồi nghe nói tới bà đồng có hồ ở nam thành,

chẳng biết ra sao. Tiểu nhân muốn theo tiên sinh tới xem, xin tiên sinh nói với chủ nhân một câu”.

Trương biết đó là đám hồ nhỏ, bèn gật đầu nói “Được rồi”. Rồi quay vào chỗ ngồi nói với Hồ rằng

"Ta muốn mượn hai ba người hầu dưới trướng tới xem thư bà đồng có hồ, xin ơng ra lệnh”. Hồ cứ nói

khơng cần, Trương năn nỉ mấy lần mới ưng thuận.

Kế Trương ra thì ngựa tự tới như có người nắm cương dắt đi, khi lên ngựa đi thì dọc đường hồ nói

với Trương "Từ nay tiên sinh đi đường thấy cát nhỏ bắn lên vạt áo tức là có bọn ta đi theo đấy”. Nói

tới đó thì vào thành, tới nhà bà đồng nọ. Bà đồng thấy Trương tới, tươi cười ra đón, nói “Sao quý

nhân lại bất ngờ quang lâm?". Trương hỏi "Nghe nói ơng hồ trong nhà bà linh thiêng lắm phải không?".

Bà đồng nghiêm sắc mặt đáp "Người sang cả khơng nên nói lời khinh bạc, sao lại nói là ơng hồ? E

rằng bà chị xinh đẹp nhà ta không vui đâu!". Chưa dứt lời thì có nửa viên gạch ném tới trúng tay, bà

đồng giật mình nhảy dựng lên, hoảng sợ hỏi Trương "Sao quan nhân lại ném gạch vào già?". Trương

cười nói “Bà già mù rồi, đó là gạch ngói trên nóc nhà bà lở xuống, định vu oan cho người ngoài à?”.

Bà đồng ngạc nhiên không biết viên gạch từ đâu bay tới, đang dáo dác ngó quanh lại bị một hòn đá

ném trúng đầu ngã lăn ra, kế bị bùn đất cứt đái ném xuống tới tấp, mặt mày lấm lem như quỷ, chỉ kêu

gào xin tha mạng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cô Tân Mười Bốn (Tân Thập Tứ Nương)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×