Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cát Cân (Cát Cân)

Cát Cân (Cát Cân)

Tải bản đầy đủ - 0trang

sơn màu hồng, bên trong có tiếng gõ quân cờ. Sinh dừng lại không dám tới, lại leo qua tường quay về.

Lát sau lại leo qua thì vẫn còn tiếng gõ quân cờ chan chát, tới gần nhìn thì thấy nữ lang đang ngồi đối

diện với một mỹ nhân áo trắng, bà vú cũng ngồi đó, có một tỳ nữ đứng hầu, lại quay về. Qua lại ba

lần, trống canh ba đã điểm. Sinh đang núp dưới chiếc thang bên này thì nghe bà vú đi ra nói "Ai đem

cái thang ra bắc ở đây thế này?", rồi gọi tỳ nữ cùng đem cất. Sinh leo lên đầu tường, muốn xuống lần

nữa thì khơng có thang, buồn bực quay về.

Đêm sau lại qua thì thang đã đặt sẵn trong tường, may là vắng vẻ khơng có ai. Vào tới nơi thì nữ

lang ngồi một mình như đang nghĩ ngợi điều gì, thấy sinh giật mình đứng dậy thẹn thùng khép nép. Sinh

chắp tay nói "Tự nghĩ mình phúc mỏng, sợ khơng có dun phận với người tiên, ngờ đâu lại có đêm

nay”. Rồi ơm lấy nàng, thấy lưng ong nhỏ nhắn, hơi thở thơm phúc. Nàng đẩy ra nói "Sao mà gấp

thế?", sinh đáp "Việc hay thường khó khăn, chậm trễ thì quỷ ghét!". Chưa dứt lời thì nghe có tiếng

người xa xa, nàng vội nói "Em Ngọc Bản tới, chàng hãy tạm núp xuống gầm giường”, sinh theo lời.

Giây lát một cơ gái bước vào cười nói "Tướng thua trận còn dám nói đánh nữa hay khơng? Ta đã pha

trà sẵn, xin mời tới chơi luôn qua đêm". Cô gái lấy cớ mỏi mệt từ chối nhưng Ngọc Bản cứ cố mời,

nàng ngồi lỳ không chịu đi. Ngọc Bản nói "Còn chần chừ nữa, hay là giấu trai trong phòng” rồi lơi

nàng ra cửa đi mất.

Sinh lóp ngóp bò ra, hận quá liền lục chăn nệm mong tìm được một vật làm tin, nhưng trong phòng

khơng có món nữ trang nào, chỉ có một cái như ý pha lê buộc mảnh khăn tía ở đầu giường trơng xinh

xắn đáng yêu, bèn nhét vào bụng. Kế leo qua tường, về tới nhà xếp áo thấy vẫn còn đượm hương thơm

của nàng, càng thêm thiết tha ái mộ. Nhưng vì bị cái sợ chui dưới gầm giường nên lo bị khép vào tội

lớn, nghĩ ngợi không dám quay lại nữa, chỉ giữ kỹ cái như ý chờ nàng tới tìm. Cách một đêm quả nhiên

nữ lang tới, cười nói "Trước nay thiếp cho rằng chàng là bậc quân tử chứ không biết là kẻ trộm cắp”.

Sinh nói "Đúng thế đấy chứ, sở dĩ ngẫu nhiên có lúc chưa phải là bậc qn tử chỉ là vì mong được

như ý thơi". Rồi ôm nàng vào lòng, cởi giải quần cho. Da ngọc vừa lộ ra, hương thơm đã tỏa khắp.

Trong lúc ôm ấp vuốt ve thấy hơi thở mồ hôi của nàng đều thơm phức, nhân nói “Ta vẫn nghĩ nàng là

bậc tiên nữ, nay càng thấy là đúng. Nay may được nàng đoái thương cũng là duyên kiếp ba sinh.

Nhưng chỉ sợ Đỗ Lan Hương xuống trần một lúc



[63]



, cuối cùng sẽ thành mối hận biệt ly thơi".

[64]



Nàng cười nói "Chàng nói q lời! Thiếp chẳng qua như Thiến nữ lìa hồn tình cờ động lòng vì

tình thơi. Việc này phải thật kín đáo, chứ e lời thị phi đơm đặt trắng đen thì chàng khơng thể mọc cánh

bay còn thiếp cũng khơng thể cưỡi gió trốn, lúc ấy tai họa còn thê thảm hơn biệt ly nhiều”. Sinh cho là

đúng nhưng rốt lại vẫn ngờ nàng là tiên, cứ cố hỏi họ tên. Nàng đáp "Chàng cho thiếp là tiên, mà đã là

tiên thì cần gì phải lưu tên họ”. Sinh lại hỏi bà vú là ai, nàng đáp “Đó là bà Tang. Thuở nhỏ thiếp

được bà che chở nên không coi như hạng tôi tớ". Rồi trở dậy ra về, dặn "Chỗ thiếp ở có nhiều tai mắt,

khơng thể ở lâu, lúc nào có cơ hội thiếp sẽ tới". Khi từ biệt nàng đòi cái như ý, nói "Vật này không

phải của thiếp mà là của Ngọc Bản để quên". Sinh hỏi Ngọc Bản là ai, nàng đáp “Đó là em con ơng

chú”, rồi trở gót quay về. Nàng đi rồi, chăn gối đều nhuốm mùi hương lạ.



Từ đó cứ hai ba đêm nàng lại tới một lần, sinh say mê chẳng nghĩ gì tới việc về quê mà đã hết

sạch tiền, định bán ngựa. Nàng biết được, nói “Vì thiếp mà chàng hết tiền bán áo, lòng đã khơng nỡ,

lại còn bán cả vật đỡ chân thì hơn ngàn dặm đường lấy gì mà đi? Thiếp có của riêng, có thể giúp

chàng chút ít". Sinh từ chối, nói “Cảm lòng nàng yêu thương, dù thịt nát xương tan cũng khơng đủ đền

đáp, thế mà còn tham lam hèn hạ để nàng tốn kém thì sao đáng gọi là người?". Nàng cố ép nói "Nhờ

chàng một lúc" rồi cầm tay sinh dẫn tới dưới một gốc dâu, chỉ một hòn đá bảo vần đi. Sinh làm theo,

nàng lại rút chiếc trâm trên đầu chọc vài mươi nhát xuống đất rồi bảo đào lên. Sinh làm theo, thấy lộ

ra một cái miệng vò. Nàng mò vào trong lấy ra một đỉnh bạc khoảng năm mươi lượng, sinh giữ tay

ngăn lại nhưng nàng không nghe, cứ lấy thêm hơn mười đĩnh nữa, sinh cố trả lại một nửa rồi lấp đất

lại như cũ.

Một đêm nàng nói với sinh "Gần đây đã hơi có lời đồn, thế khơng thể lâu dài được, khơng thể

khơng tính kế khác". Sinh cả kinh hỏi "Làm sao bây giờ. Tiểu sinh vốn lo xa nhưng nay vì chuyện

nàng, thật như góa phụ thất tiết khơng thể tự chủ được. Xin nhất nhất vâng lời nàng, dù đao cưa rìu búa

gì cũng bất kể". Nàng bàn cùng trốn đi, bảo sinh về trước, hẹn gặp nhau ở đất Lạc. Sinh sắp sửa hành

trang về quê, định về trước đợi đón nàng, nhưng vừa vào tới nhà thì xe nàng đã tới cổng. Hai người

lên sảnh cho gia nhân lạy chào, láng giềng tới mừng không ai biết là hai người đi trốn. Sinh nơm nớp

lo sợ nhưng nàng vẫn thản nhiên, nói với sinh "Khơng nói là ngồi ngàn dặm thì ma quỷ cũng khơng

[65]



biết được, dù có biết thì thiếp là con gái Trác Vương Tơn lại không bằng Tương Như à?".

Em trai sinh là Đại Khí, tuổi vừa mười bảy. Nàng nhìn thấy khen "Thật có bản căn thơng tuệ, tiền

đồ còn hơn chàng nhiều”. Đại Khí sắp làm đám cưới thì vợ chưa cưới chết yểu, cơ gái nói với sinh

“Em Ngọc Bản của thiếp chàng đã thấy mặt rồi, dung mạo không xấu, tuổi cũng xấp xỉ, làm vợ chú ấy

có thể nói là xứng đơi”. Sinh nghe thế phì cười, đùa nhờ nàng làm mai. Nàng nói "Nếu muốn cũng

khơng khó". Sinh mừng hỏi làm cách nào, nàng đáp "Em Ngọc Bản và thiếp rất thân thiết, chỉ cần hai

con ngựa kéo chiếc xe nhẹ và một bà vú đi về thôi”. Sinh sợ lộ chuyện trước không dám theo lời, nàng

quả quyết khơng hề gì, lập tức sai thắng xe, bảo bà Tang đi. Vài ngày tới Tào Châu, tới gần cổng làng

bà Tang xuống xe, bảo người đánh xe dừng lại đợi bên đường, nhân lúc trời tối vào làng, hồi lâu đưa

Ngọc Bản ra lên xe phóng về, đêm nghỉ ngày đi. Cơ gái tính ngày, bảo Đại Khí mặc quần áo đẹp đi

đón, cách năm mươi dặm thì gặp nhau, đánh xe trở về, nổi nhạc kết đèn làm lễ cưới. Từ đó cả hai anh

em cùng có vợ đẹp, gia cảnh ngày càng khá giả.

Một hơm có bọn cướp lớn vài mươi tên vào nhà, sinh biết có biến, gọi cả nhà lên lầu. Bọn cướp

vào nhà tới vây chặt dưới lầu, sinh cúi xuống hỏi "Có thù ốn gì với nhau chăng?”' Chúng đáp “Khơng

có thù ốn gì, nhưng có hai điều muốn xin. Một là nghe nói hai phu nhân nhà này xinh đẹp tuyệt thế,

xin cho được thấy mặt một lần. Hai là năm mươi tám người ở đây, mỗi người xin năm trăm lượng

vàng". Rồi chất củi dưới lầu, định dùng kế phóng hỏa để uy hiếp. Sinh ưng thuận nộp tiền nhưng chúng

khơng thỏa ý, vẫn đòi đốt lầu, gia nhân cả sợ. Cô gái muốn cùng Ngọc Bản xuống lầu, ai ngăn cũng

không nghe, thay áo quần lộng lẫy bước xuống, chưa hết ba bậc thì nói với bọn cướp "Chị em ta đều

là người nơi tiên cung tạm thời xuống trần, sợ gì bọn giặc cướp. Muốn cho các ngươi ngàn vạn lượng



vàng, chỉ e các ngươi không dám lấy thôi". Bọn cướp nhất tề ngước lên vái lạy, đồng thanh nói khơng

dám. Hai chị em đang định trở lên, một tên thét “Trò bịp đấy”. Nàng nghe thấy quay lại nói "Muốn gì

cứ làm ngay đi, cũng chưa muộn mà”' Bọn cướp nhìn nhau im lặng, hai chị em ung dung bước lên lầu.

Chúng nhìn theo đến khi hai nàng khuất bóng rồi mới ồn ào rút đi.

Sau hai năm, chị em mỗi người sinh một con trai, lúc ấy cơ gái mới tự nói là họ Ngụy, mẹ được

phong làm Tào Quốc phu nhân. Sinh ngờ là đất Tào khơng có nhà thế gia nào họ Ngụy, vả lại dòng họ

lớn mà mất hai con gái đời nào chịu để yên, tuy không dám căn vặn tới cùng nhưng vẫn thầm ngờ vực.

Bèn kiếm cớ trở lại đất Tào, vào địa giới đất Tào là hỏi thăm ngay nhưng khơng có nhà thế gia nào họ

Ngụy. Bèn tìm đến nhà trọ cũ, chợt thấy trên vách có bài thơ Tặng Tào Quốc phu nhân, vô cùng kinh

sợ lạ lùng. Bèn hỏi chủ nhân, chủ nhân cười, lập tức mời đi xem Tào Phu nhân, tới nơi thì là một gốc

mẫu đơn cao ngang chái nhà. Hỏi vì đâu có tên ấy thì vì đó là thứ hoa đệ nhất đất Tào nên người ta

mới phong đùa như vậy. Hỏi đó là giống gì, chủ nhân đáp là Tử Cát sinh càng sợ hãi, cho cô gái là

tinh hoa.

Trở về cũng không dám hỏi han, chỉ kể lại chuyện bài thơ Tặng Tào phu nhân để dò ý. Cơ gái

chợt biến sắc bỏ ra ngay, gọi Ngọc Bản bế con tới, nói với sinh "Ba năm trước cảm lòng chàng nghĩ

tới nên đem thân đền đáp. Nay đã ôm lòng nghi ngờ thì sao còn có thể chung sống được nữa?". Rồi

lập tức ném con ra xa, hai đứa nhỏ rơi xuống chết ngay. Sinh đang hoảng hốt thì hai nàng đã biến mất,

hối hận vô cùng. Vài hôm sau ở chỗ hai đứa nhỏ rơi chết mọc lên hai cây mẫu đơn, qua đêm đã cao

một thước, ngay trong năm ấy nở hoa một màu tía, một màu trắng, đóa hoa to như cái mâm, tươi đẹp

dày đặc hơn hẳn các giống Cát Cân, Ngọc Bản bình thường. Mấy năm sau hai cây mẫu đơn ấy tươi tốt

thành bụi dày, nếu đem đi trồng nơi khác thì biến đổi khơng ra giống gì cả. Từ đó, nơi nhiều mẫu đơn

khơng đâu hơn đất Lạc.

Dị Sử thị nói: Để lòng cả vào việc nhung nhớ thì có thể thơng suốt tới cả quỷ thần, hoa kia lay

[66]



động cũng không thể nói là vơ tình vậy. Thiếu phủ cơ quạnh còn coi hoa là phu nhân , huống hồ

là người đẹp biết nói cười, cần gì phải vất vả truy tìm cho tới tận nguồn gốc lai lịch chứ! Tiếc cho

Thường sinh chưa phải là kẻ đạt vậy.



071. Hoàng Anh (Hồng Anh)

Mã Tử Tài người phủ Thuận Thiên, gia đình mấy đời rất chuộng hoa cúc, đến đời Tài thì càng say

mê hơn, nghe ở đâu có giống cúc quý thì dù xa xơi ngàn dặm cũng tìm tới. Một hơm có người khách từ

Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tơ) tới trọ trong nhà, nói họ hàng bên ngoại mình có một vài giống cả

phương Bắc khơng đâu có. Mã thích quá lập tức thu xếp hành trang theo tới Kim Lăng, khách tìm đủ

cách mới tìm được cho hai cây. Mã giữ gìn như của báu, về tới giữa đường gặp một thiếu niên cưỡi

ngựa theo sau một cỗ kiệu có mui, bèn tới gần bắt chuyện. Thiếu niên nói mình họ Đào, ăn nói rất

phong nhã, nhân hỏi Mã từ đâu tới, Mã kể thật. Thiếu niên nói "Khơng có giống cúc nào khơng đẹp,

chỉ là ở người chăm bón tưới tắm thơi". Nhân bàn tới thuật trồng cúc, Mã thích lắm, hỏi định đi đâu.

Thiếu niên đáp "Chị ta chán đất Kim Lăng, muốn lên phương Bắc ở". Mã vui mừng nói "Nhà ta tuy

nghèo nhưng lều tranh có thể ở tạm, nếu khơng chê hoang vắng bỉ lậu thì khỏi phải vất vả đi đâu cả"

Đào phóng ngựa lên trước kiệu thưa với chị, người trong kiệu vén rèm trò chuyện, là một mỹ nhân

tuyệt thế, tuổi khoảng hai mươi. Nàng nói với em trai "Nhà thấp nhỏ khơng sao nhưng vườn thì cần

rộng". Mã gật đầu, hai chị em bèn theo Mã về.

Phía nam nhà Mã có một khu vườn hoang, trên có ba bốn gian nhà nhỏ, Đào mừng rỡ bèn vào đó

ở. Hàng ngày qua nhà phía bắc giúp Mã trồng cúc, cúc đã chết khơ thì nhổ lên rồi giâm xuống, cây nào

cũng sống. Nhưng gia cảnh Đào thanh bần, hàng ngày ăn uống với Mã chứ xem trong nhà như không

mấy khi nổi lửa. Vợ Mã là Lữ thị cũng rất quý chị Đào, thỉnh thoảng lại giúp cho gạo thóc. Chị Đào

tiểu tự là Hồng Anh, ăn nói khéo léo nhã nhặn, cứ qua chỗ Lữ thị cùng nhau may vá. Một hơm Đào

nói với Mã "Nhà ơng vốn khơng dư dật, hàng ngày ta lại vì miếng cơm làm lụy kẻ tri giao, cứ thế mãi

sao được. Nay tính kế thì bán cúc cũng đủ mưu sinh". Mã vốn ngay thẳng nên nghe Đào nói thế rất

khinh bỉ, nói “Ta cho rằng ông là kẻ cao sĩ phong lưu, có thể vui với cảnh nghèo, nay bàn như thế là

lấy vườn cúc làm cái chợ, nhục cho cúc thật". Đào cười nói "Tay làm hàm nhai khơng phải tham, trồng

hoa để sống không phải tục. Người ta vốn không nên mong giàu bậy bạ song cũng bất tất phải mong

nghèo”. Mã khơng nói gì, Đào đứng dậy ra về, từ đó cứ cành gãy mầm xấu bên nhà Mã bỏ đi thì nhặt

hết đem về nhà mình, cũng khơng qua ăn ngủ với Mã nữa, Mã có mời mới qua.

Không bao lâu đến kỳ hoa cúc nở, Mã nghe bên cổng nhà Đào ồn ào như cái chợ, lấy làm lạ ra

xem thì thấy khách bn tới mua hoa, vai vác xe chở đầy đường. Nhìn tới hoa đều là giống lạ mắt

chưa từng thấy, trong lòng ghét Đào tham lam, muốn tuyệt giao nhưng hận vì còn giữ kín giống lạ bèn

gõ cửa qua định trách mắng. Đào ra dắt tay dẫn vào, thấy nửa mẫu sân bỏ hoang đều thành luống cúc,

ngồi mấy gian nhà ra khơng còn đất trống, những chỗ vừa cắt cúc đi thì lấy cành khác dặm vào, hoa

trên luống đều đẹp đẽ, nhìn kỹ đều là những thứ mình bỏ đi trước kia. Đào vào nhà lấy rượu thịt ra

bày cạnh luống cúc nói "Ta nghèo khơng giữ được điều răn thanh bạch, bao nhiêu ngày mới may kiếm

được chút ít, cũng đủ uống say”' Lát sau trong phòng có tiếng gọi Tam Lang, Đào dạ quay vào, giây lát

đem ra các thức nấu nướng ngon lành. Mã nhân hỏi lệnh tỷ sao không xuất giá, Đào đáp chưa đến lúc.



Mã hỏi lúc nào, Đào đáp bốn mươi ba tháng nữa. Mã lại gặng hỏi tại sao nói thế, Đào chỉ cười không

đáp, hai người uống say rồi mới chia tay.

Hôm sau lại qua, thấy những nhánh cúc mới dặm đã cao gần thước lấy làm lạ bèn năn nỉ hỏi Đào

cách trồng. Đào nói "Điều ấy khơng thể lấy lời mà truyền được, vả lại ông không trồng cúc để mưu

sinh thì biết làm gì”. Lại mấy hơm nữa, trong sân ngồi ngõ hơi vắng người mua, Đào bèn lấy chiếu

cói bọc cúc, chất lên mấy xe chở đi. Giữa mùa xuân năm sau Đào mới chở hoa lạ ở phương Nam về,

mở hàng bán hoa trong kinh đô, mười ngày thì bán hết sạch, kế lại về trồng cúc. Hỏi tới những người

năm trước mua cúc của Đào giữ cây làm giống thì năm sau hoa đều thay đổi kém hẳn, lại phải mua của

Đào. Đào vì thế ngày càng giàu có, năm đầu làm thêm phòng ốc, năm thứ hai xây nhà, việc xây cất cứ

tùy ý không bàn với chủ nhân, dần dần vườn trồng cúc cũ đều là nhà cửa. Lại mua riêng một khu

ruộng, xây tường chung quanh trồng toàn cúc, mùa thu chở hoa đi, cuối xuân vẫn không về. Kế vợ Mã

chết, Mã muốn cưới Hoàng Anh nên nhờ người bắn tin, Hoàng Anh mỉm cười có vẻ ưng thuận, chỉ đợi

Đào về mà thơi. Hơn năm Đào vẫn chưa về, Hồng Anh đốc thúc tơi tớ trồng cúc giống hệt như Đào,

có tiền lại càng buôn bán lớn, cấy cày đến hai mươi khoảnh ruộng tốt ngồi thơn, nhà cửa ngày càng

bề thế. Bỗng có khách từ Đơng Việt (tỉnh Quảng Đơng) tới đem thư của Đào gởi về, mở xem thì là

Đào khuyên chị lấy Mã, xem lại ngày viết thư đúng là ngày vợ Mã chết. Mã nhớ lại lúc uống rượu

trong vườn, tính đến đó vừa đúng bốn mươi ba tháng, vơ cùng lạ lùng bèn đưa thư cho Hồng Anh

xem, hỏi nộp sính lễ ở đâu. Hồng Anh từ chối khơng nhận sính lễ, lại vì chỗ ở cũ chật chội, muốn Mã

qua ở bên khu nam giống như ở rể. Mã khơng nghe, chọn ngày đón dâu về nhà mình.

Hồng Anh về với Mã rồi, mở cửa trên vách thơng với khu nam, hàng ngày qua đó sai bảo đầy tớ.

Mã xấu hổ vì vợ giàu, thường dặn Hoàng Anh làm sổ biên chép của cải hai khu để đề phòng bị lẫn

lộn, nhưng những thức cần dùng, Hoàng Anh đều lấy ở khu nam. Chưa được nửa năm, vật dụng trong

nhà đều là của nhà Đào, Mã lập tức sai người đem trả hết, dặn đừng lấy qua nữa. Chưa đầy một tuần

mọi thứ lại lẫn lộn, mấy lần đem trả như thế, Mã không sao chịu nổi phiền phúc. Hồng Anh cười nói

[67]



"Chàng Trần Trọng Tử

có mệt khơng?", Mã xấu hổ khơng kê biên gì nữa, nhất nhất theo ý Hoàng

Anh. Hoàng Anh thuê thợ, mua vật liệu để dựng nhà, Mã không sao cản được, qua vài tháng thì lầu gác

san sát, hai khu nhà hợp làm một không chia ranh giới nữa.

Nhưng theo ý Mã nên gia đình đóng cửa khơng bán cúc nữa, song việc chi dùng còn hơn cả các

nhà thế gia. Mã áy náy nói "Nết trong sạch ba mươi năm của ta vì nàng mà bị lụy. Nay sống ở đời mà

mọi sự ăn ở đều nhờ vào vợ, thật khơng có chút phẩm giá đàn ơng. Cho nên người ta đều muốn giàu

mà ta chỉ muốn nghèo thơi". Hồng Anh nói "Thiếp khơng phải là phường tham bỉ, nhưng nếu khơng

[68]



dư dật chút ít thì ngàn năm sau người ta lại nói Uyên Minh nghèo thấu xương, trăm đời khơng ngóc

đầu nổi, nên phải xóa bỏ tiếng chê cười cho nhà Bành Trạch chúng ta thôi. Nhưng kẻ nghèo mong giàu

thì khó, còn kẻ giàu muốn nghèo vốn rất dễ, bao nhiêu tiền bạc trong nhà xin chàng cứ mặc ý phá tán,

thiếp khơng tiếc đâu”. Mã nói "Làm hao tổn tiền bạc của người khác thì tệ lắm". Hồng Anh nói

"Chàng khơng muốn giàu nhưng thiếp cũng khơng thể chịu nghèo. Thôi cứ ở riêng, ai trong cứ trong, ai



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cát Cân (Cát Cân)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×