Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đùa Giỡn Thắt Cổ (Hý Ải)

Đùa Giỡn Thắt Cổ (Hý Ải)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Quyển IV



063. A Tiêm (A Tiêm)

Hề Sơn người huyện Cao Mật (tỉnh Sơn Đông) làm nghề buôn bán, thường qua lại vùng Mông

Sơn, Nghi Thủy (đều thuộc tỉnh Sơn Đông). Một hôm dọc đường gặp mưa, tới được nhà trọ quen thì

đã khuya, gõ cửa mãi mà khơng ai lên tiếng. Đang ngần ngừ dưới hiên thì hai cánh cửa chợt mở, một

ông già bước ra mời vào. Sơn mừng theo vào, lần dò lên sảnh, trong sảnh khơng có giường ghế gì cả.

Ơng già nói “Ta thương khách khơng có chỗ nghỉ nên mời vào, chứ thật ra ta khơng phải là người mở

hàng bán cơm. Nhà khơng có ai đỡ đần, chỉ có bà vợ già và đứa con gái nhỏ đã ngủ cả rồi. Cái ăn thì

còn đủ nhưng khơng còn nóng lắm, đừng chê là nguội lạnh".

Nói xong vào trong, giây lát mang ra một cái chõng thấp đặt xuống đất mời khách ngồi. Lại trở

vào mang ra một cái bàn con, đi lại tất bật trông rất vất vả. Sơn đứng ngồi không yên, giữ ông lại nói

xin cứ nghỉ một lúc. Giây lát một cơ gái mang rượu ra, ơng già nói "Con A Tiêm nhà ta dậy rồi", nhìn

thấy khoảng mười sáu mười bảy tuổi, xinh đẹp yểu điệu, phong thái đoan trang. Sơn có em trai chưa

vợ, cũng thầm có ý bèn hỏi thăm dòng dõi q qn ơng già. Ơng đáp "Ta họ Cổ tên Sĩ Hư, con cháu

đều chết yểu chỉ còn đứa con gái này nên khơng nỡ làm nó mất giấc ngủ ngon, chắc bà vợ ta gọi nó

dậy đấy". Hỏi "Chồng cơ em là ai?", ơng đáp còn chưa hứa gả, Sơn mừng thầm. Kế thức ăn bày lên đủ

thứ, như trong hàng cơm. Sơn ăn xong cung kính nói “Con người bèo nước, đội ơn thương tới, đến

chết cũng không dám quên. Nhân thấy ông thịnh đức nên xin đường đột tỏ lời quê mùa. Ta có đứa em

trai nhỏ là Tam Lang mười bảy tuổi theo nghiệp đèn sách, cũng không đến nỗi ngu tối, muốn cầu chỉ

thắm xe dun, khơng biết ơng có chê nghèo hèn khơng". Ơng già mừng nói "Lão phu ở đây cũng là ngụ

cư, nếu nó có chỗ gửi thân, nhân mượn được túp lều dời đi chỗ khác thì cũng đỡ lo". Sơn đều xin

vâng, đứng dậy vái tạ. Ông già ân cần sắp đặt chỗ ngủ cho khách đâu đó rồi vào.

Gà vừa gáy ơng đã ra gọi khách dậy rửa mặt, Sơn gói hành lý xong đưa trả tiền cơm, ơng già từ

chối, nói "Khách ở lại dùng bữa cơm, khơng lý gì lại lấy tiền, hay định đưa tiền dẫn cưới đây?" Kế

chia tay, hơn tháng sau Sơn quay lại, cách thơn hơn dặm thì thấy có bà già dắt một cơ gái, khăn áo đều

trắng, tới gần thấy như là A Tiêm. Cô gái cũng mấy lần nhìn Sơn rồi nắm áo bà già nói nhỏ gì đó, bà

già liền dừng chân quay lại hỏi Sơn "Ơng họ Hề phải khơng?” Sơn dạ dạ. Bà già buồn rầu nói "ơng

nhà ta khơng may bị tường đổ đè chết rồi. Hôm nay bọn ta định đi thăm mộ, ở nhà khơng có ai, xin đợi

bên đường một lát sẽ trở lại ngay", rồi đi vào rừng.

Lát sau trở lại thì trời đã tối, bèn cùng đi về, nói chuyện mẹ góa con cơi, bất giác mủi lòng thương

khóc Sơn cũng bùi ngùi. Bà già nói "Dân ở đây rất khơng lương thiện, con cơi mẹ góa khó sống nổi. A

Tiêm đã là dâu nhà ơng, để lâu nữa sợ chậm trễ ngày tháng, chẳng bằng khuya nay cùng đưa nhau về

sớm", Sơn bằng lòng. Tới nhà, bà già khêu đèn dọn cơm đãi khách xong, nói với Sơn “Nghĩ là ơng

sắp tới nên đã bán thóc lúa cất trữ đi, chỉ còn hơn hai mươi thạch vì xa nên chưa bán được. Cách đây

khoảng bốn năm dặm về phía bắc có ngơi nhà đầu xóm là nhà Đàm Nhị Tuyền là người vẫn mua thóc

của ta. Xin phiền ơng chịu khó mang một túi tới trước gọi cổng, cứ nói bà già họ Cổ ở xóm Nam có



vài thạch thóc định bán lấy tiền đi đường, phiền cho lừa tới chở luôn một lúc", rồi đưa túi thóc cho

Sơn. Sơn vội vàng đi ngay, tới nơi gõ cửa thì một người đàn ơng bụng phệ ra, Sơn nói rõ rồi trút thóc

về trước. Lát sau có hai người phu dắt năm con lừa tới, bà già dẫn Sơn tới chỗ chứa thóc, thì là một

căn hầm. Sơn chui xuống cầm hộc xúc lên, mẹ con bà già chuyền cho nhau, chốc lát đầy túi đưa họ

mang đi. Đi lại tới bốn lần mới chở hết thóc, kế họ đưa tiền đưa cho bà già, bà giữ lại một người và

hai con lừa rồi thu xếp hành lý đi về phía đơng. Được hai mươi dặm, trời mới sáng rõ, tới một khu

chợ, thuê được ngựa xe ở đầu chợ, đầy tớ họ Đàm bèn quay về.

Về tới nhà, Sơn thưa lại với cha mẹ. Hai bên gặp nhau rất vui vẻ, bèn dọn một chỗ riêng cho bà

già ở rồi chọn ngày lành làm lễ thành hôn cho Tam Lang, bà già sắm sửa tư trang cho con gái rất đầy

đủ. A Tiêm hiền lành ít nói, ai trò chuyện chỉ mỉm cười, sớm tối lo dệt vải khơng ngừng, vì thế cả nhà

ai cũng thương yêu. Nàng dặn Tam Lang "Nhớ dặn anh nếu có trở lại miền Tây thì đừng nói gì về mẹ

con thiếp cả"

Được ba bốn năm, nhà họ Hề càng giàu có, Tam Lang được vào học trường huyện. Một hơm Sơn

ghé trọ nhà láng giềng cũ của họ Cổ, tình cờ kể chuyện năm trước khơng có chỗ trọ, phải ngủ nhờ nhà

ơng bà già. Chủ nói "Ơng khách lầm rồi, đó là căn nhà riêng của bác ta, trước đó ba năm người ở đó

thường thấy chuyện quái dị nên bỏ hoang đã lâu, làm gì có ơng bà già nào mà cho ông ngủ lại?". Sơn

rất kinh ngạc nhưng chưa tin lắm. Chủ nhân lại nói "Khu nhà ấy bỏ không mười năm, không ai dám

vào. Một hôm bức tường sau nhà bị sập, bác ta tới xem thì thấy đá đè lên một con chuột to như con

mèo, khúc đi bên dưới còn quẫy, vội về gọi mọi người tới xem thì khơng thấy đâu nữa. Ai cũng nghi

vật đó là yêu quái, hơn mười ngày sau vào xem thử thì n ắng khơng thấy gì, hơn năm sau mới có

người tới ở".

Sơn càng lấy làm lạ, về nói riêng với người nhà, trộm ngờ em dâu không phải là người. Lo thầm

cho Tam Lang, nhưng Tam Lang vẫn hết lòng yêu quý vợ như thường. Lâu ngày người nhà xì xào bàn

tán, cơ gái thống nghe biết, nửa đêm nói với Tam Lang "Thiếp theo chàng mấy năm chưa từng có một

lỗi nhỏ. Nay lại đặt chuyện để khinh rẻ, xin viết cho tờ ly hôn để chàng chọn một người vợ xứng

đáng”, rồi rơi nước mắt. Tam Lang nói "Lòng ta thế nào thì nàng đã rõ. Từ ngày nàng về, nhà ngày một

no đủ, vẫn nghĩ là nhờ phúc trạch của nàng, đâu lại còn điều này tiếng khác?". Nàng nói "Chàng vốn

khơng hai lòng, thiếp há khơng biết sao? Nhưng nhiều người nói ra nói vào, e rồi khơng khỏi như

chiếc quạt đến mùa thu bị bỏ xó”. Tam Lang khuyên giải mấy lần mới thôi. Nhưng Sơn vẫn không tha,

ngày ngày cứ tìm mèo giỏi bắt chuột về để dò ý tứ. Cô gái tuy không sợ nhưng rầu rầu không vui.

Một đêm nói mẹ khơng khỏe, xin Tam Lang cho về săn sóc, sáng ra Tam Lang qua tìm thì trong

phòng trống khơng, phát hoảng cho người đi tìm khắp nơi khơng thấy tung tích, bứt rứt bỏ ăn bỏ ngủ.

Cha và anh lại đều lấy làm may, cùng vỗ về an ủi, định cưới vợ khác cho, nhưng Tam Lang nhất định

không chịu. Chờ hơn một năm, tin tức vắng bặt, cha và anh cứ chế nhạo trách mắng, bất đắc dĩ phải bỏ

nhiều tiền mua một người thiếp, mà lòng nhớ A Tiêm vẫn khơng ngi. Lại vài năm nhà họ Hề nghèo

dần, vì thế càng thương nhớ A Tiêm.

Có người em con chú Tam Lang là Lam nhân có việc tới huyện Giao (tỉnh Sơn Đơng), đường xa



nghỉ lại nhà người họ hàng bên ngoại là Lục sinh, đêm nghe bên nhà láng giềng có tiếng khóc rất đau

thương, cũng chưa rảnh hỏi thăm. Lúc quay về lại nghe thấy bèn hỏi, chủ nhân đáp “Mấy năm trước có

người đàn bà góa và cơ gái mồ cơi th nhà ở đó. Tháng trước bà già mất, cơ gái ở một mình khơng

người thân thích nên khóc đó thơi”. Lam nhân hỏi họ, Lục đáp “Họ Cổ, thường đóng cửa khơng giao

thiệp với làng xóm nên chưa rõ gia thế ra sao". Lam giật mình nói "Thế thì là chị dâu ta rồi”. Bèn qua

gọi cửa thì có người nín khóc bước ra, đứng trong cửa nói “Nhà ta khơng có đàn ơng đâu”. Lam nhìn

qua khe cửa, từ xa ngắm kỹ thấy đúng là chị dâu liền nói "Chị mở cửa, em ở nhà chú A Toại đây". Cơ

gái nghe tiếng, mở cửa mời vào, kể lể tình cảnh lẻ loi khổ sở, lời lẽ rất bi thảm. Lam nói "Anh Tam

Lang nhớ chị lắm, vợ chồng có gì trái ý đâu mà chị xa lánh tới tận đây", rồi lập tức định thuê xe cùng

về. Cô gái buồn rầu nói "Ta vì bị người khinh rẻ mới đưa mẹ đi ẩn, nay lại trở về nương tựa người thì

ai khơng khinh rẻ? Như muốn ta trở về thì phải cùng anh chia bếp, nếu khơng, ta chỉ còn nước uống

thuốc độc tự vẫn cho rồi".

Lam về kể lại cho Tam Lang, Tam Lang lật đật đi ngay. Vợ chồng gặp nhau đều rơi lệ, hơm sau nói

với chủ nhà xin về. Chủ nhà là Giám sinh họ Tạ thấy nàng đẹp, ngầm tính cưới nàng làm thiếp nên mấy

năm không lấy tiền nhà, đã nhiều lần ngỏ ý với bà già nhưng bà cự tuyệt. Bà chết rồi, đang mừng mưu

mình chắc xong thì Tam Lang chợt tới, bèn tính tiền nhà ln trong mấy năm để làm khó. Nhà Tam

Lang vốn khơng dư dật, nghe nói tiền nhiều có ý lo. Cơ gái nói khơng sợ, rồi dẫn vào xem vựa thóc,

khoảng hơn ba mươi thạch, trả tiền nhà rồi vẫn thừa. Tam Lang mừng nói với Tạ, Tạ khơng nhận thóc,

cứ nhất định đòi tiền. Cơ gái than "Trăm sự cũng vì nghiệp chung thân này", rồi kể lại tình thật. Tam

Lang tức giận định kiện lên huyện. Lục bèn can, đem thóc chia bán cho người thân thích trong làng lấy

tiền trả Tạ, rồi đem xe tiễn hai người về.

Tam Lang thưa với cha mẹ, xin cùng anh chia nhà ra để ở. A Tiêm bỏ tiền riêng, ngày ngày xây

kho thóc mà trong nhà vẫn chưa có lấy được một thạch, ai cũng lấy làm lạ, nhưng hơn năm xem lại thì

kho đã đầy. Khơng vài năm, nhà đã giàu có mà Sơn vẫn nghèo khổ. Nàng mời cha mẹ chồng về nuôi

dưỡng và đem tiền gạo chu cấp cho anh, nhiều lần thành lệ. Tam Lang mừng nói “Nàng có thể nói là

người khơng để tâm thù ốn". Cơ gái đáp “Cũng bởi anh ấy có lòng thương em trai. Nếu khơng có anh

ấy, thiếp đâu được cùng chàng nên duyên?”. Về sau cũng khơng có chuyện gì lạ.



064. Thụy Vân (Thụy Vân)

Thụy Vân là danh kỹ ở đất Hàng (tỉnh Chiết Giang), nhan sắc tài nghệ vô song. Năm mười bốn

tuổi bà chủ là mụ dầu họ Sái định cho ra tiếp khách. Thụy Vân nói “Đây là lúc con bắt đầu vào đời,

khơng thể qua qt, nên giá thì do mẹ định nhưng khách thì xin cho con tự chọn". Mụ ưng thuận, bèn

định giá là mười lăm lượng vàng, nàng bèn hàng ngày ra tiếp khách. Khách muốn gặp thì đưa lễ vật

tới, nhiều thì được tiếp một ván cờ, tặng một bức tranh, ít thì được mời uống chén trà mà thôi.

Thụy Vân nổi tiếng đã lâu, từ đó các bậc phú thương quý quan ngày ngày nối nhau tới cổng. Hạ

sinh người huyện Dư Hàng (tỉnh Chiết Giang) nổi tiếng tài danh nhưng gia tư chỉ đủ ăn, vốn ngưỡng

mộ Thụy Vân nhưng chưa dám nghĩ tới giấc mộng uyên ương, cũng gắng sửa chút lễ mọn, chỉ mong

được một lần gặp mặt, vẫn thầm lo nàng trải đời đã nhiều, không để mắt tới kẻ nghèo hèn. Đến lúc gặp

mặt, vừa chuyện trò nàng đã tỏ ra rất ân cần. Cùng nói chuyện hồi lâu, đầu mày cuối mắt đều chứa

chan tình ý, lại tặng sinh bài thơ rằng:

Hà sự cầu tương giả,

Lam Kiều khấu hiểu quan.

Hữu tâm tầm ngọc chử

Đoan chỉ tại nhân gian

(Xin nước làm chi cho vất vả

[59]



Tinh sương lại phải tới cầu Lam

Có lòng xin cố tìm chày ngọc

Dám chắc còn trên cõi thế gian)

Sinh được thơ mừng qnh, còn muốn nói nữa chợt a hoàn vào báo khách tới. Sinh vội từ biệt, về

nhà đem bài thơ ra ngắm nghía ngâm nga, mộng hồn vướng vít. Được một hai hơm khơng kìm được,

lại sắm sửa lễ vật tìm tới. Thụy Vân đón tiếp rất vui vẻ dời ghế tới gần sinh, buồn bã nói "Chàng có

thể lo được một đêm sum họp khơng?". Sinh đáp "Học trò nghèo chỉ có tấm tình si để tặng tri kỷ, lo

được cái lễ nhỏ mọn thì bao nhiêu tơ tằm đã rút hết, được gần mặt hoa là thỏa nguyện rồi, còn như đầu

gối tay ấp thì đâu dám mong tưởng". Thụy Vân nghe nói chau mày khơng vui, hai người chỉ nhìn nhau

khơng nói. Sinh ngồi lâu khơng ra, mụ chủ mấy lần gọi Thụy Vân để giục giã. Sinh bèn ra về, trong

lòng buồn bực, muốn đem hết gia sản chuốc một lần vui, nhưng hết đêm lại phải chia tay thì thật khơng

sao chịu nổi, nghĩ tới đó thì tấm lòng hăm hở đều tiêu tan. Từ đó dứt hẳn khơng lui tới nữa.

Thụy Vân kén rể mấy tháng mà chưa chọn được người vừa ý. Mụ dầu bực tức, định ép uổng nhưng

còn chưa ra tay. Một hơm có người Tú tài đem lễ vật tới, ngồi nói chuyện một lúc bèn đứng lên, ấn

một ngón tay lên trán nàng nói “Đáng tiếc, đáng tiếc” rồi ra về. Thụy Vân tiễn khách ra trở vào mọi

người cùng nhìn thì thấy trên trán nàng có dấu ngón tay in đen như mực, rửa lại càng đậm. Sau vài

hôm vết mực lan rộng ra, hơn một năm sau thì lan từ trán xuống cả mũi, ai thấy cũng cười, vì vậy vết

xe ngựa ngoài cổng cũng mất hẳn. Mụ dầu lột hết trang sức, bắt làm việc của hạng tôi tớ, Thụy Vân lại



ẻo lả không làm nổi việc nặng nhọc nên ngày càng tiều tụy.

Hạ nghe tin ghé qua, thấy nàng đầu bù tóc rối dưới bếp, xấu xí như ma, ngẩng đầu thấy sinh thì

quay vào tường giấu mặt. Hạ thương xót bèn nói với mụ dầu xin chuộc nàng, mụ ưng thuận. Hạ bán

ruộng dốc túi mua nàng đem về. Tới nhà nàng kéo áo lau nước mắt, không dám tự xem là vợ, chỉ xin

giữ phận làm lẽ, để ngơi chính thất chờ người sau này. Hạ nói "Người ta ở đời vẫn quý kẻ biết mình.

Lúc nàng đang thịnh, nàng còn biết tới ta, lẽ nào vì nàng suy mà ta quên nàng sao?", rồi không lấy vợ

nữa. Ai nghe chuyện cũng chế nhạo, nhưng sinh thì càng thương yêu nàng thêm.

Được hơn năm, sinh ngẫu nhiên tới đất Tơ (tỉnh Giang Tơ), gặp Hòa sinh cùng trọ một chỗ. Bỗng

Hòa hỏi "Danh kỹ đất Hàng là Thụy Vân nay ra sao?", sinh đáp đã lấy chồng rồi. Hòa lại hỏi lấy ai,

sinh đáp "Người đó cũng đại loại như ta". Hòa nói "Nếu được như ơng thì có thể nói là lấy đúng

người, khơng biết giá bao nhiêu?". Hạ nói "Vì mắc bệnh lạ nên cũng rẻ thôi, nếu không loại bọn ta làm

sao mua nổi người đẹp trong kỹ viện". Hòa lại hỏi “Người đó quả thật có được như ơng khơng?". Hạ

thấy câu hỏi kỳ lạ bèn căn vặn lại, Hòa cười nói "Thật không dám dối, trước đây ta từng gặp nàng một

lần, rất tiếc tài mạo tuyệt thế mà lênh đênh không có người xứng đơi nên dùng chút thuật mọn che ánh

sáng để giữ vẻ ngọc, dành lại chờ tấm gương soi chân hình của kẻ yêu tài". Hạ vội hỏi “Ơng chấm

được chắc cũng rửa được chứ?”. Hòa cười đáp “Sao khơng được, nhưng phải chính người kia thành

tâm cầu xin thơi". Hạ đứng dậy vái nói “Người chồng của Thụy Vân chính là ta đây”, Hòa mừng nói

"Trong thiên hạ chỉ có kẻ chân tài mới có thể đa tình, khơng vì xấu đẹp mà đổi ý. Xin cho ta theo về

nhà, ta sẽ tặng một người đẹp".

Bèn cùng nhau về, tới nhà Hạ định sai dọn rượu, Hòa ngăn lại nói “Cứ để ta làm phép để người

dọn rượu phải vui vẻ trước đã". Rồi lập tức bảo bưng lên một chậu nước, lấy ngón tay vẽ bùa lên, nói

"Rửa đi là khỏi, nhưng phải đích thân ra tạ ơn thầy thuốc đấy”. Hạ cười bưng chậu nước vào, đứng

đợi Thụy Vân rửa mặt, vết mực theo tay trôi hết, diễm lệ chẳng khác năm xưa. Vợ chồng đều cảm ơn,

cùng nhau ra vái tạ thì khách đã biến mất, tìm khắp nơi khơng thấy, có lẽ là tiên chăng?



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đùa Giỡn Thắt Cổ (Hý Ải)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×