Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tăng Hữu Vu (Tăng Hữu Vu)

Tăng Hữu Vu (Tăng Hữu Vu)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhân và Nghĩa đều còn nhỏ yếu ớt, cứ mỗi khi bị đánh đập thì nói với Hữu Vu "Người ta đều có

anh em, chỉ có chúng ta là khơng", Hữu Vu nói "Ta mà nói câu ấy ra thì hai em sẽ đi đâu mà sống?",

nhân đó hết sức khuyên giải, nhưng rốt lại hai người vẫn không nghe. Hữu Vu bèn đóng cửa nhà, dắt

vợ con tới ngụ ở làng khác cách đó hơn năm mươi dặm, khơng ai biết tin tức. Hữu Vu lúc còn ở nhà

tuy khơng bênh vực gì hai em nhưng bọn Hiếu cũng hơi kiêng dè, lúc đi rồi thì bọn Hiếu khơng sợ hãi

gì nữa, cứ tới nhà Nhân và Nghĩa chửi mắng, xúc phạm cả tới mẹ ruột họ. Nhân và Nghĩa tự lượng

khơng đủ sức đánh lại, chỉ đóng chặt cửa nghĩ cách tìm lúc bọn Hiếu sơ hở mà đâm chết, đi đâu cũng

giắt dao trong người.

Một hôm chợt người anh lớn bị cướp bắt đi là Thành dắt mẹ trở về, các anh em vì chia gia tài đã

lâu, họp lại bàn bạc ba ngày mà không biết đối xử với Thành thế nào, bèn tới báo với Hữu Vu, Hữu

Vu mừng rỡ về ngay, đưa ruộng vườn nhà cửa cho Thành ở. Bọn Hiếu tức giận, cho rằng Hữu Vu làm

ơn để lấy lòng Thành, tới tận nhà sỉ vả làm nhục. Nhưng Thành ở lâu ngày với bọn cướp cũng quen

thói dữ tợn, nghe thế cả giận nói “Ta về tới đây đã khơng người nào đưa cho một gian nhà để ở, may

có chú ba nghĩ tình anh em thì các người lại bắt lỗi này nọ, muốn đuổi ta đi phải không?". Rồi vác đá

ném Hiếu, Hiếu ngã lăn ra, Nhân và Nghĩa đều vác gậy xơng ra bắt Trung và Tín đánh túi bụi. Thành

không chờ bọn Hiếu thưa kiện mà đi kiện trước, quan huyện lại sai người tới hỏi ý Hữu Vu. Hữu Vu

bất đắc dĩ phải lên gặp quan, cúi đầu khơng nói gì chỉ chảy nước mắt, quan hỏi mãi mới thưa chỉ xin

cứ theo phép công mà xét.

Quan bèn truyền bọn Hiếu phải đưa lại ruộng vườn nhà cửa cho Thành, sai chia làm bảy phần cho

đều, từ đó Nhân và Nghĩa càng thêm kính trọng u mến Thành. Nhân cùng trò chuyện kể lại việc chơn

mẹ, hai người rơi nước mắt, Thành căm giận nói "Bất nhân như thế thì thật là cầm thú”. Bèn định bốc

mộ mẹ ba anh em Hữu Vu lên để cải táng, Nhân và Nghĩa tới báo, Hữu Vu vội về can ngăn nhưng

Thành không nghe, chọn ngày lập đàn chay cạnh mộ, cầm đao phạt đứt một cái cây nói với các em

rằng "Đứa nào không chịu mặc áo tang đi theo, thì sẽ như cái cây này đấy”. Mọi người đều líu ríu

vâng dạ, cả nhà đều ra khóc than, chơn cất đủ lễ, từ đó anh em n ổn với nhau. Nhưng Thành tính

nóng nảy cứng rắn, thường đánh đập các em, nhất là bọn Hiếu, duy chỉ trọng có Hữu Vu, đang lúc giận

sơi lên mà Hữu Vu tới nói một câu là ngi ngay. Những việc Hiếu làm Thành đều khơng ưa, vì vậy

ngày nào Hiếu cũng tới nhà Hữu Vu chửi lén Thành, nhưng Hữu Vu khéo léo can ngăn, không nghe lời

Hiếu. Hữu Vu thấy phiền nhiễu không chịu nổi bèn dời tới ngụ ở đất Tam Bạc, thuê nhà để ở, càng xa

quê hơn trước, từ đó tin tức đi lại thưa dần. Được hai năm, các em đều sợ Thành, lâu ngày quen dần

khơng còn tranh giành cãi cọ với nhau nữa.

Nhưng Hiếu bốn mươi sáu tuổi, sinh được năm con trai, trưởng là Kế Nghiệp, thứ ba là Kế Đức

là con vợ lớn, con thứ là Kế Công, thứ tư là Kế Tích là con vợ thứ, lại có Kế Tổ là con người thiếp,

lúc ấy đều đã trưởng thành, cũng học thói cha ngày xưa kéo bè kéo cánh hàng ngày tranh giành cãi cọ

nhau, Hiếu không sao ngăn cấm được. Duy có Tổ là khơng có anh em ruột nào, lại nhỏ tuổi nhất, các

anh đều có người để chửi mắng. Nhà cha vợ Tổ vốn ở gần Tam Bạc, gặp hơm Tổ tới thăm bèn lén

vòng qua thăm chú, vào tới nhà chú thấy hai anh một em đang đọc sách râm ran, thích lắm bèn ở lại



lâu ngày khơng nói tới việc về. Chú giục về, Tổ nài nỉ xin cho ở lại, chú nói “Cha mẹ cháu đều khơng

biết chuyện này, chứ chú đâu tiếc gì miếng cơm hớp nước với cháu?". Tổ bèn về, mấy tháng sau vợ

chồng đi mừng thọ mẹ vợ bèn nói với cha "Con đi lần này không về nữa đâu”. Cha hỏi han, Tổ bèn

ngỏ ý riêng, cha sợ Hữu Vu nhớ ốn hờn cũ khó nỗi ở lâu. Tổ nói "Cha lo xa quá, chứ chú hai là bậc

thánh hiền đấy”. rồi dắt vợ lên đường tới Tam Bạc. Hữu Vu chia nhà cho ở, coi như con ruột, sai học

với con lớn là Kế Thiện. Tổ học rất giỏi, từ đó ngụ ln ở Tam Bạc.

Anh em trong nhà Tổ ngày càng bất hòa, một hơm Nghiệp vì cãi cọ chuyện nhỏ chửi mắng thứ

mẫu, Công tức giận đâm chết Nghiệp. Quan bắt Công trừng phạt nặng nề, được vài hôm Công chết

trong ngục. Vợ Nghiệp là Phùng thị hàng ngày cứ chửi mắng thay việc khóc chồng, vợ Cơng là Lưu thị

nghe thấy tức giận nói "Chồng ngươi chết còn chồng ta thì sống à?", rồi xách dao vào chém chết Phùng

thị, kế nhảy xuống giếng tự tử. Cha Phùng thị là Đại Lập xót con gái chết thảm bèn dắt con cháu trong

nhà giấu binh khí dưới áo tới bắt vợ Hiếu về, lột truồng đánh đập làm nhục. Thành tức giận nói “Nhà

ta đang chết như rạ mà họ Phùng sao dám làm thế?” rồi gầm thét xông ra, anh em con cháu họ Tăng

cũng đổ ra. Bọn nhà họ Phùng chạy tán loạn, Thành túm được Đại Lập, cắt luôn hai vành tai. Con

Phùng tới cứu bị Kế Tích cầm gậy sắt đánh gãy hai chân, bọn nhà họ Phùng đều bị thương, kêu gào

chạy tứ tán. Chỉ có con Phùng còn nằm bên đường, mọi người khơng biết tính sao, Thành bèn xốc nách

đưa tới bỏ gần thơn Phùng rồi về, gọi Kế Tích bảo lên quan tự thú.

Lúc ấy đơn kiện của họ Phùng cũng vừa gởi tới, anh em con cháu nhà họ Tăng đều bị bắt. Chỉ có

Trung chạy thốt, tới Tam Bạc chần chừ mãi ngồi cổng vì sợ anh nhớ thù xưa. Gặp lúc Hữu Vu dắt

con lớn và cháu đi thi về, nhìn thấy ngạc nhiên nói "Sao em lại tới đây?". Trung quỳ mọp ven đường,

Hữu Vu càng hoảng sợ nắm tay dắt vào nhà, hỏi biết sự tình kinh sợ nói "Làm thế nào bây giờ, cả nhà

đều phạm tội. Ta đã biết có họa này từ lâu, nếu khơng thì đâu trốn lánh thế này. Anh xa nhà đã lâu,

khơng có giao thiệp gì với quan huyện, nay cho dù có khúm núm tới đó cũng chỉ chuốc lấy cái nhục

mà thơi. Có điều cha con họ Phùng tuy bị thương nặng nhưng không chết, nếu ba người chúng ta có ai

may mắn thi đỗ thì tai họa này có thể gỡ ra một chút". Rồi giữ Trung lại, ngày ăn cùng mâm, đêm nằm

cùng chiếu, Trung rất cảm động. Ở đó hơn mười ngày lại thấy chú cháu Hữu Vu thân thiết như cha con,

anh em đều như một mẹ, buồn rầu sa nước mắt nói "Nay em mới biết ngày trước mình làm quấy". Hữu

Vu thấy Trung tỉnh ngộ hối hận cũng vui mừng, đối xử rất chu đáo. Chợt có tin báo cha con Hữu Vu

đều thi đỗ Cử nhân, Tổ cũng đỗ Tú tài, cả mừng không dự ăn yến mừng các vị tân khoa, trở về cúng

mộ cha mẹ trước.

Cuối thời Minh khoa bảng rất được coi trọng, bọn nhà họ Phùng vì thế đều nín hơi. Hữu Vu lại

nhờ bạn bè đưa vàng lụa tới cho họ lo thuốc men, việc kiện tụng bèn dứt. Cả nhà họ Tăng đều khóc,

xin Hữu Vu quay về làng ở. Hữu Vu bèn cùng anh em đốt hương lập lời thề, ai nấy đều theo đó sửa

mình rồi dời nhà về. Tổ theo chú khơng muốn về nhà, Hiếu bèn nói với Hữu Vu rằng “Ta thiếu đức, lẽ

ra khơng được có đứa con làm rạng rỡ dòng họ như thế, em lại khéo dạy bảo, xin cứ cho theo ý nó gởi

lại nhờ em, sau này có khá hơn thì cho nó về". Hữu Vu theo lời, ba năm sau quả nhiên Tổ thi đỗ Cử

nhân, Hữu Vu bảo dời về ở với cha mẹ, vợ chồng đều khóc ròng ra đi. Được vài tháng, Tổ có đứa con



mới ba tuổi cứ trốn tới nhà Hữu Vu không chịu về, đuổi bắt đưa về thì chạy trốn. Hiếu bèn dời nhà tới

ở cạnh Hữu Vu, Tổ thì mở cửa bên vách thông qua nhà chú, qua lại thăm hỏi hai nhà như nhau. Từ đó

Thành cũng dần già yếu, việc trong dòng họ giao cho Hữu Vu quyết, vì vậy mơn hộ đều yêu thương

nhau, nổi tiếng là hiếu hữu.

Dị Sử thị nói: Trên đời chỉ có cầm thú là biết có mẹ mà khơng biết có cha, sao những nhà đọc

sách cũng theo vết ấy? Phàm việc xử sự trong gia đình cũng dần dần thành nếp cho con cháu, ăn

sâu vào xương tủy, nên người xưa nói "Cha giết người trả thù thì con ắt làm ăn cướp", thói xấu

lưu truyền nghĩ cũng đúng thôi. Hiếu tuy bất nhân, đã bị báo ứng thê thảm nhưng rốt lại có thể tự

biết mình thiếu đức, gởi con cho em, nên mới có đứa con nóng lòng lo sợ tai họa như thế, nếu nói

là chuyện quả báo thì sai lắm.



054. Cơng Tử ở Gia Bình (Gia Bình Cơng Tử)

Cơng tử Mỗ ở đất Gia Bình phong tư tuấn tú, năm mười bảy mười tám tuổi lên quận thi khoa Đồng

tử, tình cờ đi ngang kỹ viện nhà họ Hứa. Ngồi cổng có một cơ gái đẹp, cơng tử nhìn chằm chằm, nàng

mỉm cười gật đầu, công tử vui vẻ tới gần trò chuyện. Cơ gái hỏi chỗ trọ ở đâu, cơng tử nói rõ, nàng lại

hỏi có ai ở cùng khơng, cơng tử đáp khơng. Nàng liền nói “Tối nay thiếp sẽ tới thăm, đừng để ai biết”.

Công tử gật đầu rồi về, bảo gia nhân đi hết qua nơi khác. Tối quả cơ gái tới, tự nói tiểu tự là Ơn Cơ,

lại nói "Thiếp hâm mộ cơng tử phong lưu nên trốn bà chủ tới đây, phận hèn rất muốn được hầu hạ công

tử trọn đời". Công tử cũng mừng rỡ, hẹn sẽ đem món tiền lớn chuộc nàng ra khỏi kỹ viện, từ đó cứ hai

ba hơm nàng lại tới một lần.

Một đêm nàng đội mưa tới, vào cửa rồi cởi chiếc áo ngoài bị ướt mắc lên giá, lại cởi chiếc hài

nhỏ ở chân xin công tử gột giùm bùn đất cho. Cơng tử nhìn chiếc hài thấy là loại gấm mới năm màu,

dính bùn bê bết cả, lấy làm tiếc. Cơ gái nói "Khơng phải thiếp dám lấy việc hèn hạ bắt công tử phục

dịch, chỉ là muốn cơng tử biết mối tình si của thiếp thơi”. Nghe ngồi song tiếng mưa vẫn rả rích

khơng ngớt, bèn ngâm "Thê phong lãnh vũ mãn giang thành” (Gió buồn mưa lạnh ngập giang thành),

rồi xin công tử nối vần. Cơng tử từ chối nói khơng làm được, nàng nói “Cơng tử là một người như thế,

mà khơng biết chuyện phong nhã, làm thiếp mất cả hứng". Nhân khuyên công tử cố gắng học tập, công

tử vâng dạ.

Sau nàng thường lui tới nên đám gia nhân đều biết, công tử có người anh rể họ Tống cũng là con

nhà thế gia nghe biết chuyện, lén xin công tử cho gặp Ơn Cơ một lần. Cơng tử nói lại nhưng nàng nhất

định khơng chịu. Tống bèn tới rình trong phòng gia nhân, chờ nàng tới núp ngồi cửa sổ nhìn trộm,

thấy say mê đến phát điên bèn xô cửa sấn vào, cô gái đứng dậy leo qua tường đi mất. Tống càng hâm

mộ, bèn sắm sửa lễ vật tới gặp bà chủ nêu đích danh Ơn Cơ xin gặp, thì đúng là ở đó có Ơn Cơ song

đã chết lâu rồi. Tống kinh ngạc về nói với cơng tử, cơng tử mới biết nàng là ma nhưng trong lòng vẫn

yêu mến. Đêm nàng tới, công tử kể lại lời Tống, cơ gái nói “Đúng thế, nhưng chàng muốn có vợ xinh

đẹp, thiếp cũng muốn có chồng tuấn tú, ai cũng thỏa nguyện thì bàn làm gì chuyện người hay ma", công

tử cho là đúng.

Thi xong trở về, cô gái cũng về theo, người khác khơng ai nhìn thấy nàng mà chỉ cơng tử nhìn thấy.

Về tới nhà, cơng tử để nàng ở trong phòng khách rồi cũng ngủ một mình ở đó, cha mẹ đều ngờ vực.

Khi cơ gái về thăm nhà cơng tử mới nói riêng với mẹ. Cha mẹ cả sợ, bắt cơng tử tuyệt tình với nàng,

cơng tử khơng nghe, hai ơng bà lo lắng, tìm đủ cách trừ ếm mà không được. Một hôm, công tử có tờ

thiếp răn bảo gia nhân đặt ở bàn, trong đó nhiều chữ viết sai như "tiêu” viết thành "thúc", “khương”,

viết thành "giang", "khả hận" viết thành "khả lãng". Cô gái đọc thấy, viết thêm vào phía dưới rằng "Hà

sự khả lãng, Hoa thúc sinh giang, Hữu tế như thử, Bất như vi xướng" (Việc gì "đáng sóng", "Hoa thúc

[54]



sinh giang", Có chồng như thế, Làm đĩ còn hơn) , rồi giã từ cơng tử, nói "Thiếp lúc đầu cho rằng

công tử là văn nhân nhà thế gia nên mặt dày tự theo về, khơng ngờ chỉ có cái mẽ ngoài, chỉ biết xét



người theo dung mạo thế này liệu tránh khỏi thiên hạ chê cười khơng?” nói xong biến mất. Công tử tuy

xấu hổ căm hờn nhưng cũng không hiểu nàng viết gì, cứ đem tờ thiếp ra răn bảo gia nhân, người nghe

được kể cho nhau nghe để cười.

Dị Sử thị nói: Ơn Cơ là một cơ gái khá, mà đường đường một vị công tử thế kia sao lại bề

trong chỉ có bấy nhiêu thơi? Đến như hối hận “làm đĩ còn hơn" thì thê thiếp của công tử phải thẹn

thùng sa nước mắt vậy. Nghĩ lại hàng trăm cách đuổi vẫn không đi, nhưng thấy tấm thiếp liền biến

mất, thì câu "hoa thúc sinh giang” có khác gì việc đọc câu thơ “Đầu lâu Tử Chương" của Tử

Mỹ



[55]



đâu!



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tăng Hữu Vu (Tăng Hữu Vu)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×