Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hương Ngọc (Hương Ngọc)

Hương Ngọc (Hương Ngọc)

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhau như xa cách ngàn dặm, lúc nào nàng rảnh thì tới, đừng đợi đến đêm". Cơ gái nhận lời, từ đó sớm

tối thường tới, sinh thường bảo mời Giáng Tuyết mà không thấy tới nên lấy làm hận. Nàng nói "Chị

Giáng tính rất lạnh lùng, khơng như thiếp si tình, cứ để thiếp từ từ khun nhủ, khơng cần nóng nảy”.

Một đêm nàng buồn rầu bước vào nói "Chàng khơng giữ được đất Lũng mà còn mong lấy Thục ư? Từ

nay thì vĩnh biệt nhau rồi". Sinh hỏi đi đâu, nàng lấy tay áo lau nước mắt nói “Đây là định số, khó nói

với chàng được. Câu thơ ngày trước nay thành lời sấm rồi. "Người đẹp đã về Sa Trá Lợi, Nghĩa sĩ

nay khơng Cổ áp Nha” có thể nói là vịnh cảnh ngộ của thiếp đấy". Sinh gạn hỏi thì nàng khơng đáp, chỉ

nức nở khóc, suốt đêm không ngủ, sáng ra đi ngay.

Sinh lấy làm lạ, hơm sau có họ Lam ở Túc Mặc vào cung quán vãn cảnh, thấy cây bạch mẫu đơn

thích lắm bèn đào lên mang về. Sinh mới hiểu ra Hương Ngọc là tinh hoa, buồn rầu không thôi. Qua

vài hôm nghe nói cây hoa họ Lam đem về nhà trồng ngày càng khô héo, sinh rất hận, làm năm mươi

bài thơ khóc hoa, ngày ngày tới chỗ cây bạch mẫu đơn cũ, nước mắt ròng ròng nhỏ xuống cái hố. Một

hơm sinh ra đó, từ xa thấy cơ gái mặc xiêm hồng đứng khóc cạnh hố, thong thả tới gần nàng cũng không

tránh mặt, nhân kéo vạt áo nàng sa nước mắt, kế mời vào nhà.

Nàng cũng theo vào, than rằng "Chị em với nhau từ thuở nhỏ, một sớm chia lìa, thấy chàng thương

cảm thiếp cũng mủi lòng, nước mắt rơi xuống suối vàng may ra cảm thấu lòng thành mà tái sinh.

Nhưng người chết thần khí đã tan, trong giây lát làm sao có thể cùng nhau cười nói được". Sinh nói

"Tiểu sinh phận bạc làm hại người tình, quả khơng có phúc được cả hai người đẹp. Trước từng nhiều

lần nhờ Hương Ngọc bày tỏ lòng thành, sao khơng chịu tới?". Nàng nói "Thiếp cho rằng bọn học trò

trẻ tuổi mười người thì tám chín là kẻ bạc hãnh, khơng biết chàng là kẻ chí tình. Nhưng thiếp cùng

chàng giao hảo vì tình nghĩa chứ khơng vì chăn gối, nếu đêm ngày ơm ấp thì thiếp khơng làm được”.

Nói xong cáo biệt, sinh nói "Hương Ngọc mất đi làm ta bỏ cả ăn ngủ, muốn cậy nàng ở lại một lúc cho

khuây nỗi nhớ, sao lại dứt khoát về như vậy?”. Cô gái bèn ở lại, hết đêm ra về, mấy ngày liền không

tới. Một hôm mưa lạnh rả rích ngồi song, sinh nhớ thương Hương Ngọc, trằn trọc trên giường, lệ ướt

đẫm gối, xốc áo trở dậy khêu đèn cầm bút theo vần trước viết một bài thơ:

Sơn viện hồng hơn vũ

Thùy liêm tọa tiểu song

Tương tư nhân bất kiến

Trung dạ lệ song song

(Mưa đêm viện núi nghe lòng lạnh

Bng tấm rèm thưa đứng cạnh song

Tương tư chẳng thấy người thương nhớ

Nửa đêm lệ nhớ nhỏ song song)

Viết xong đọc lên, chợt có tiếng người ngồi cửa sổ nói "Có xướng khơng thể khơng có họa”, nghe

thì là tiếng Giáng Tuyết. Sinh mở cửa mời vào, nàng xem thơ xong lập tức viết ngay phía sau một bài:

Liên khuyết nhân hà xứ?

Cô đăng chiếu vãn song.



Không sơn nhân nhất cá,

Đối ảnh tự thành song.

(Người xưa chung gối nay đâu tá?

Đèn lạnh cô đơn chiếu cạnh song

Núi thẳm một thân ngùi chuyện cũ

Một mình một bóng cũng song song)

Sinh đọc xong sa nước mắt, nhân trách nàng ít tới. Nàng nói "Thiếp khơng thể nồng nàn như

Hương Ngọc được, chỉ có thể an ủi cho chàng ít nhiều khy cảnh tịch mịch thơi". Sinh muốn ngủ

chung, nàng nói "Gặp nhau là vui, cần gì phải thế". Từ đó lúc nào sinh thấy cơ quạnh thì nàng lại tới.

Tới thì yến ẩm xướng họa, có khi khơng ngủ lại, tan tiệc là về, sinh cũng chiều ý, nói với nàng “Hương

Ngọc là vợ yêu của ta, Giáng Tuyết là bạn tốt của ta", thường hỏi “Nàng là cây thứ mấy trong viện xin

nói cho biết, ta sẽ mang trồng trong nhà, khỏi bị bọn ác cướp đi mất như Hương Ngọc, để hận lại suốt

đời”. Nàng đáp “Chốn cũ khó dời, nói cho chàng biết cũng vơ ích. Vợ còn chẳng theo nhau trọn đời

được, huống là bạn ư”. Sinh không nghe, kéo tay cùng ra, tới mỗi cây mẫu đơn lại hỏi "Có phải là

nàng khơng?", cơ gái khơng nói chỉ che miệng cười.

Gặp lúc sinh về q ăn tết, qua tháng hai chợt mơ thấy Giáng Tuyết tới buồn rầu nói "Thiếp gặp

nạn lớn, chàng tới mau thì may ra còn gặp được nhau, chậm là khơng kịp đâu”. Sinh tỉnh dậy lấy làm

lạ, vội sai người nhà thắng ngựa lên núi ngay, tới nơi thấy đạo sĩ sắp làm nhà, có một cây nại đơng

vướng chỗ, đám thợ sắp đốn đi. Sinh biết đó là ứng với giấc mơ vội vàng cản lại. Đến đêm Giáng

Tuyết tới tạ ơn, sinh cười nói "Trước khơng nói thật nên gặp nạn này. Từ nay đã biết rõ nàng rồi, nếu

không tới ta sẽ lấy ngải cứu đốt cho xem". Nàng đáp "Thiếp vốn biết chàng như thế nên trước kia mới

khơng dám nói". Ngồi một lát, sinh nói "Nay ngồi với bạn tốt lại thêm nhớ vợ đẹp. Lâu khơng viếng

Hương Ngọc, nàng có thể đi với ta khơng?". Hai người bèn tới hố đất mà khóc, gần hết canh một

Giáng Tuyết lau nước mắt khuyên giải sinh rồi ra về.

Vài ngày sau, sinh đang ngồi một mình buồn bã, Giáng Tuyết tươi cười bước vào nói "Có tin

mừng báo cho chàng hay. Thần hoa cảm lòng chí tình của chàng, cho Hương Ngọc tái sinh ở cung

này”. Sinh mừng hỏi đến lúc nào, nàng đáp “Không rõ nhưng chắc không bao lâu nữa". Trời sáng trở

dậy, sinh nói "Ta vì nàng mà tới đây, đừng để người ta chịu hiu quạnh mãi đấy", nàng cười gật đầu.

Hai đêm nàng không tới sinh bèn tới ôm lấy cây, vuốt ve rung lắc gọi tên Giáng Tuyết mấy lần mà

không nghe đáp lại. Liền về ngồi dưới đèn vê mồi ngải định tới đốt cây. Cô gái vội chạy vào, giật mồi

ngải ném đi, nói "Chàng hay đùa ác khiến người ta bị đau, phải đoạn tuyệt với chàng thơi". Sinh cười

ơm lấy nàng, vừa ngồi chưa n thì Hương Ngọc lững thững bước vào.

Sinh trông thấy vùng sa nước mắt, vội đứng lên đỡ nàng. Hương Ngọc giơ một tay kéo Giáng

Tuyết, nhìn nhau sụt sùi, kế cùng ngồi xuống than thở chuyện xa cách. Sinh cầm tay Hương Ngọc thấy

trống khơng như tự nắm tay mình, kinh ngạc cho là khác với ngày trước. Hương Ngọc ứa nước mắt nói

"Thiếp trước là thần hoa nên thể chất ngưng tụ, nay là ma hoa nên thể chất hư tán, nay tuy gặp nhau

nhưng chàng đừng coi là thật, chỉ là như gặp nhau trong mộng thôi". Giáng Tuyết nói "Em tới hay lắm,



chị bị chồng em quấy rối muốn chết", rồi lập tức cáo biệt. Hương Ngọc vẫn âu yếm như xưa, song lúc

tựa kề nhau, phảng phất như một mình tựa bóng. Sinh buồn bực khơng vui, Hương Ngọc cũng áy náy

tủi hận, nói "Chàng lấy bột bạch liễm trộn với ít lưu hồng pha nước mỗi ngày tưới cho thiếp một

chén, ngày này sang năm xin đền ơn chàng", rồi cũng từ biệt đi.

Hôm sau sinh ra chỗ cũ thì có mầm cây mẫu đơn mới nảy bèn làm theo lời, hàng ngày chăm bón,

lại rào chung quanh để giữ gìn, Hương Ngọc tới rất cảm kích. Sinh bàn dời cây mang về nhà, nàng

khơng chịu, nói "Thiếp vốn thể chất yếu đuối, khơng chịu nổi việc đào lên trồng xuống. Vả lại mọi vật

sinh ra đều có nơi nhất định, thiếp từ trước vốn khơng định sinh ở nhà chàng, làm trái đi sẽ giảm thọ,

chỉ cần u thương nhau thì ắt có ngày sum họp thơi". Sinh hận Giáng Tuyết khơng tới, Hương Ngọc

nói “Nếu muốn ép chị ấy tới thì thiếp có thể làm được”. Bèn cùng sinh thắp đèn ra dưới gốc cây, lấy

một cọng cỏ đo vào xiêm mình làm cữ rồi đo gốc cây từ dưới lên trên bốn thước sáu tấc thì đánh dấu

vào, bảo sinh lấy hai móng tay gãi. Giây lát Giáng Tuyết từ sau thân cây đi ra, mắng “Con nhãi tới

giúp Kiệt làm điều bạo ngược à", rồi dắt tay nhau cùng về.

Hương Ngọc nói "Chị đừng trách, phiền chị tạm làm bạn với chàng, một năm sau em khơng dám

quấy quả nữa", từ đó Giáng Tuyết lại tới thường. Sinh thấy mầm cây ngày càng tươi tốt, cuối xuân đã

cao gần hai thước, trước khi về nhà đưa tiền tặng đạo sĩ nhờ tưới bón giúp. Tháng tư năm sau trở lại

cung quán thấy có một nụ hoa chưa nở, đang còn tần ngần thì hoa bỗng lay động như muốn gãy, giây lát

thì nở, đóa to như cái mâm, có một người đẹp nghiễm nhiên ngồi trong nhụy hoa, chỉ cao ba bốn đốt

tay, trong chớp mắt nhẹ nhàng bước xuống, chính là Hương Ngọc. Nàng cười nói "Thiếp chịu gió mưa

để đợi chàng, sao chàng tới muộn thế?”. Rồi cùng vào nhà thì Giáng Tuyết đã tới, cười nói "Ngày

ngày làm vợ thay người, bây giờ may mắn lại được lui về làm bạn" . Rồi cùng nhau chuyện trò xướng

họa, nửa đêm Giáng Tuyết ra về, hai người cùng đi nằm, lại mặn nồng như trước.

Sau vợ sinh chết, sinh vào trong núi ở luôn không về nhà nữa, lúc ấy cây mẫu đơn đã to bằng cánh

tay. Sinh thường chỉ cây nói "Sau này ta sẽ gửi hồn ở đó, mọc bên trái nàng". Hai cơ gái cười nói

"Chàng đừng quên đấy". Hơn mười năm sau sinh chợt mắc bệnh, con trai tới thăm, nhìn cha đau xót,

sinh cười nói "Đây là ngày ta sinh chứ không phải ngày ta chết, đau xót làm gì?". Rồi nói với đạo sĩ

"Sau này dưới gốc mẫu đơn có một mầm đỏ chợt nảy ra, một lúc trổ năm lá chính là ta đấy", rồi khơng

nói gì nữa. Con trai sinh chở về, tới nhà thì sinh chết. Năm sau quả có cái mầm lớn chợt nảy ra, trổ đủ

năm lá, đạo sĩ lấy làm lạ càng năng vun tưới. Ba năm sau thì cao mấy thước, to một ơm nhưng khơng

trổ hoa. Đạo sĩ già mất đi, các đệ tử không biết, thấy cây không trổ hoa nên đốn bỏ. Cây bạch mẫu đơn

cũng héo đi rồi chết, không bao lâu cây nại đơng cũng chết.

Dị Sử thị nói: Tình đã kết thì có thể thơng với quỷ thần, hoa thì có ma theo mà người thì lấy

hồn gởi, chẳng phải là kết tình rất sâu sao? Một người mất thì hai kẻ chết, tuy không phải kiên

trinh song cũng là chết vì tình vậy. Người ta khơng thể trinh tiết cũng là chưa hết lòng với tình mà

thơi. Trọng Ni đọc thơ Đường đệ mà nói “Chưa nghĩ tới", đáng tin làm sao!

Phụ: Truyện Liễu Thị Của Hứa Nghiêu Thời Đường (Đường Hứa Nghiêu Liễu Thị Truyện)

Hàn Hoằng lúc trẻ nổi tiếng tài giỏi nhưng nhà nghèo, láng giềng có ca kỹ của Lý Tương là nàng



họ Liễu, mỗi khi Liễu tới chơi là mời Hàn qua cùng uống rượu. Một hơm Lý nói với Hàn “Tú tài là

bậc danh sĩ thời nay, Liễu thị là bậc quốc sắc thời nay, đem quốc sắc đánh đổi với danh sĩ, chẳng cũng

hay sao!". Hàn bèn tới ở với Liễu, năm sau thi đỗ, vài năm sau Tiết độ sứ Hoài Thanh Hầu Hy Dật

tiến cử làm Tùng sự, Hàn chưa đưa Liễu theo, Liễu bèn xuống tóc làm ni cơ vào ở chùa.

Sau Hàn theo Hầu Hy Dật vào kinh tìm khơng được, té ra nàng đã bị tướng Phiên Sa Tra Lợi có

cơng với triều đình bắt đi. Hàn khơng làm gì được, kế được bổ làm quan ở Trung thư sảnh. Trên

đường gặp chiếc xe bèn đi theo, người trong xe hỏi "Có phải Hàn Viên ngoại khơng? Thiếp là Liễu

thị, sáng mai còn theo đường này về, xin chàng tới từ biệt nhau một lần". Hàn theo lời tới vĩnh quyết.

Hôm ấy quân Lâm Tri mừng công, mở tiệc mời Hàn, Hàn buồn bã không vui. Mọi người trong tiệc hỏi

han, Hàn kể lại việc Liễu thị, có Ngu hầu tướng Hứa Tuấn đứng lên nói “Xin Viên ngoại viết cho vài

chữ, ta sẽ đưa nàng về ngay".

Hàn viết thư đưa Hứa, Hứa bèn cưỡi một con ngựa dắt theo một con khác phi mau tới quân dinh

của Sa Tra Lợi. Gặp lúc Sa Tra Lợi đi vắng, liền vào nói “Tướng qn ngã ngựa khơng cứu được, sai

đưa Liễu phu nhân tới”. Liễu ngạc nhiên bước ra, Hứa đưa thư Hàn cho xem rồi đỡ lên ngựa phóng

mau trở về, đưa tới chỗ Hàn nói "May mà khơng nhục mệnh".

Phụ: Truyện Vô Song Của Tiết Điều (Tiết Điều Vô Song Truyện)

Vương Tiên Khách là cháu gọi Thượng thư Lưu Chấn bằng cậu, lúc nhỏ cùng con gái Chấn là Vô

Song chơi đùa rất thân thiết. Lưu thị bị bệnh, gọi Chấn tới gởi gắm Tiên Khách mà không dặn gả Vô

Song cho người khác. Tiên Khách về chôn cất mẹ xong, sắp xếp hành lý lên kinh, sai bà vú già tới cầu

hơn nhưng Chấn khơng bằng lòng.

Một hơm Chấn vào chầu, chợt phóng ngựa về nhà nói "Quân Kinh Nguyên làm phản, Thiên tử ra

Bắc Môn, các quan theo tới hành tại, ta nghĩ tới vợ con nên về qua một lúc". Rồi vội gọi Tiên Khách

tới nói "Cháu giúp ta lo toan việc nhà, ta sẽ gả Vơ Song cho". Rồi đem vàng bạc gấm vóc ra, bảo Tiên

Khách áp tải ra cổng Khai Viễn, nói "Ta và mợ cháu cùng Vô Song ra cổng Khải Hạ". Tiên Khách

theo lời, chờ mãi khơng thấy bèn vòng qua cổng Khải Hạ thì cổng đã đóng. Tiên Khách hỏi người giữ

cổng thành "Hơm nay có ai ra khơng?", người ấy đáp "Sau giờ Ngọ có một người dắt vợ con cùng năm

ba người định ra cổng này, người ta đều biết đó là Thượng thư bộ Hộ họ Lưu, quan giữ cổng khơng

dám cho ra, gần tối thì quân kỵ đuổi theo phóng tới, xua cả qua Bắc Môn rồi".

Tiên Khách bèn về Tương Dương, ba năm sau vào kinh hỏi thăm tin tức gặp người đầy tớ cũ của

cậu là Tái Hồng mới biết Vô Song đã bị đưa vào Dịch đình, chỉ còn có tỳ nữ cũ của nàng là Thái Tần

ở nhà Kim ngô tướng quân Vương Toại Trung. Tiên Khách tới ra mắt Toại Trung xin đưa nhiều tiền để

chuộc Thái Tần, Toại Trung ưng thuận. Tiên Khách bèn thuê nhà ở với Tái Hồng, kế được Toại Trung

tiến cử làm Huyện lệnh Phú Bình coi trạm Trường Lạc. Chợt có tin quan Trung sứ áp giải ba mươi

người trong Dịch đình tới Viên Lăng, phải chuẩn bị dọn dẹp đón tiếp, bèn nói với Hồng "Ta nghe nói

trong Dịch đình phần nhiều là con cái các quan, sợ có Vơ Song trong số này, người hãy đi thăm dò

giúp ta”, Tái Hồng vâng dạ ra đi.

Đến đêm vào trạm dò xét, chợt nghe trong rèm có người nói "Tái Hồng, Vương lang khỏe



khơng?", Hồng đáp "Lang quân đang ở đây, ngờ có nương tử trong trạm nên sai Tái Hồng tới hỏi

thăm". Cô gái nói "Sáng mai ngươi ra dưới căn gác phía đông bắc lấy thư ta gởi chàng”. Hồng được

thư đem về đưa Tiên Khách, thư rằng "Thường nghe sứ giả nói Cổ áp Nha ở Phú Bình là người có

lòng trong thiên hạ, chàng có thể nhờ ơng ấy khơng?". Tiên Khách bèn tìm tới Cổ áp Nha kể thật việc

mình, Cổ sinh nói "Chuyện này rất khơng dễ, khơng thể một sớm một chiều mà xong được", sau nửa

năm gởi thư xin cho Thái Tần tới.

Một đêm Vương nghe tiếng gõ cửa rất gấp, mở ra thì Cổ sinh đeo một cái giỏ lớn bước vào, nói

"Vơ Song trong này, nay đã chết nhưng mai sẽ sống lại”. Tiên Khách bế nàng vào giường chăm sóc,

đến sáng mới hơi ấm lại mở mắt nhìn thấy Tiên Khách thì kêu lớn một tiếng rồi ngất đi, đến đêm mới

tỉnh. Cổ sinh bèn tuốt đao chém đứt đầu Tái Hồng, nói "Hơm nay thì ngươi đã báo ơn lang qn đủ

rồi. Vốn nghe nói đạo sĩ ở Mao Sơn có thuốc lạ, ai uống vào sẽ chết ngay, ba ngày thì sống lại, ta xin

được một viên bèn sai Thái Tần giả làm Trung sứ tới nói Vơ Song là con kẻ phản nghịch nên ban cho

thuốc ấy bắt tự tử. Kế đem trăm lượng vàng chuộc xác, dọc đường đi qua các trạm dịch đều hối lộ rất

hậu, ắt không bị tiết lộ đâu. Lão phu vì chàng, cũng sẽ tự tử". Nói xong vung đao lên, Tiên Khách vội

sấn tới cản lại thì đầu Cổ đã rơi xuống đất.



051. Đại Nam (Đại Nam)

Hề Thành Liệt là sĩ nhân ở Thành Đơ (tỉnh thành Tứ Xun), có một vợ một thiếp, người thiếp họ

Hà, tiểu tự là Chiêu Dung. Vợ chết sớm, Hề lấy vợ kế họ Thân nhưng không tử tế được với nhau,

ngược đãi Hà làm khổ lây cả Hề, cả ngày cãi vã ầm ĩ không sao sống nổi, Hề tức giận bỏ đi. Sau khi

chồng đi,Hà sinh được một trai đặt tên là Đại Nam. Lâu ngày Hề không trở về, Thân gạt Hà ra không

cho ăn cơm chung, cứ tính ngày đong gạo cấp cho.

Đại Nam lớn dần, Hà không dám xin cấp nhiều hơn, phải dệt vải để kiếm thêm. Đại Nam thấy trẻ

con ở trường ngâm nga đọc sách thích lắm nói với mẹ muốn đi học, mẹ thấy còn nhỏ quá nên tạm đưa

tới trường cho học thử để làm khó. Nhưng Đại Nam thông minh, học mau gấp đôi các trẻ khác. Thầy

lấy làm lạ, tình nguyện dạy khơng lấy tiền, Hà bèn cho con theo học, thù tạ chút ít cho thầy. Được hai

ba năm Đại Nam đã đọc thông kinh sử, một hơm về nói với mẹ "Trong trường có năm sáu đứa đều xin

tiền cha mua quà bánh, sao con khơng có cha?". Mẹ nói "Lúc nào con lớn mẹ sẽ cho biết”. Đại Nam

hỏi “Con mới bảy tám tuổi, lúc nào mới là lớn”, mẹ đáp “Con tới trường đi ngang miếu Quan Đế thì

nên vào lạy, người sẽ phù hộ cho mau lớn".

Đại Nam tin lời, ngày hai buổi đi qua đều vào miếu lạy. Mẹ biết, hỏi con cầu xin chuyện gì thì

đáp "Chỉ xin người sang năm cho con lớn như mười lăm mười sáu tuổi”. Mẹ cười, nhưng Đại Nam

sức học và vóc dáng đều tăng nhanh, đến năm mười tuổi đã như mười ba mười bốn, làm văn thì thầy

học cũng khơng thể thêm bớt sửa đổi. Một hơm nói với mẹ “Trước mẹ nói lúc nào con lớn mẹ sẽ cho

biết cha ở đâu, nay đã đến lúc rồi!". Mẹ nói "Chưa đâu, chưa đâu!". Lại hơn một năm nữa, đã như

người lớn hẳn hoi, càng gạn hỏi luôn luôn. Mẹ bèn thuật lại ngành ngọn. Đại Nam nghe kể vô cùng

thương cảm, muốn đi tìm cha. Mẹ nói "Con còn nhỏ lắm, mà cha con sống chết ra sao chưa rõ, làm

sao tìm được?".

Đại Nam khơng đáp đi ra, đến trưa khơng về, mẹ tới trường hỏi thì thầy nói sau giờ cơm sớm

chưa trở lại trường. Mẹ cả kinh, th người đi tìm kiếm khắp nơi mà khơng thấy tung tích. Đại Nam ra

cửa, khơng biết nên đi đâu, cứ theo đường mà đi. Gặp một người đang đi Quỳ Châu (huyện thuộc Tứ

Xuyên), tự nói là họ Tiền, bèn xin đi theo. Tiền thấy đi chậm chán quá, thuê cho con lừa đỡ chân, tiền

lưng cạn hết. Tới Quỳ Châu cùng ăn cơm, Tiền ngầm bỏ thuốc mê vào, Đại Nam mê man bất tỉnh. Tiền

chở tới một chùa lớn nói là con mình, đi đường bị ốm hết cả tiền ăn, muốn bán cho sư. Các sư thấy

mặt mũi khôi ngô tranh nhau mua, Tiền được vàng ra đi.

Các sư đổ nước cho, Đại Nam dần tỉnh lại, sư ông mới biết bèn tới xem, thấy tướng mạo lấy làm

lạ, hỏi biết được ngọn ngành càng thương, trách phạt các sư rồi cho Đại Nam tiền bảo đi. Có Tú tài

họ Tưởng ở huyện Lơ Châu (tỉnh Tứ Xuyên) thi trượt trở về trên đường gặp hỏi biết chuyện khen là

hiếu, bèn dắt cùng đi. Tới Lô Châu ở lại nhà Tưởng hơn một tháng, tìm hỏi khắp nơi. Có người nói

trong các thương nhân đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) có người họ Hề, bèn chào Tưởng để đi Mân. Tưởng

tặng tiền áo giày, làng xóm cũng góp tiền giúp đỡ.



Trên đường có hai khách bn vải đi Phúc Thanh (tỉnh thành Phúc Kiến) rủ đi cùng. Đi được vài

ngày, họ nhìn thấy tiền trong túi Đại Nam bèn đưa tới chỗ vắng trói tay chân cướp sạch rồi bỏ đi. Gặp

lúc có ơng Trần người huyện Vĩnh Phúc (tỉnh Tứ Xuyên) đi ngang đó cởi trói cho chở về nhà. Nhà

Trần giàu có, khách bn các trấn trong vùng phần lớn đều xuất thân từ nhà ông. Ông dặn các khách

buôn Nam Bắc hỏi giùm tin Hề, giữ Đại Nam lại cho học với các con mình. Đại Nam bèn ở lại khơng

đi đâu nữa, nên quê càng xa, tin nhà càng vắng.

Hà Chiêu Dung sống cơ đơn ba bốn năm, Thân thị chu cấp ít đi, ép phải tái giá nhưng Hà tự làm

lụng mà sống, khơng chịu đổi lòng. Thân bán bừa cho một khách buôn ở Trùng Khánh (tỉnh Tứ

Xuyên), người ấy bắt cóc Hà mang đi. Đến đêm Hà lấy dao tự cứa cổ, người khách buôn không dám

ép, chờ vết thương lành bán lại cho một khách bn ở Diêm Đình. Tới Diêm Đình, Hà tự rạch bụng

thấy cả ruột gan, người khách bn sợ bó thuốc cho, khi lành rồi Hà chỉ xin cho làm ni cơ. Người

khách bn nói "Ta có người bạn bn khơng có ngọc hành thường muốn tìm một người để may vá, ở

với y cũng như làm ni cơ, mà cũng có thể bù lại cho ta ít tiền", Hà nghe theo. Người khách bn cho

kiệu đưa đi, tới cửa chủ nhân bước ra thì là Hề sinh. Nguyên Hề đã bỏ nghiệp nho đi bn, người

khách bn thấy khơng có vợ nên đem Hà tặng cho. Hai người gặp nhau kinh ngạc đau xót, cùng kể nỗi

khổ, Hề mới biết là có con trai đi tìm cha chưa về. Hề bèn nhờ các quán trọ dò hỏi tin tức Đại Nam,

còn Chiêu Dung từ chỗ là thiếp trở thành chính thất.

Nhưng nàng trải nhiều tai nạn nên đau yếu lắm bệnh không làm được việc nhà, bèn khuyên chồng

lấy vợ lẽ. Hề nhớ lại tai họa trước đây nên khơng nghe, Hà nói "Nếu thiếp là kẻ tranh giành nơi

giường chiếu thì mấy năm nay đã theo người sinh con rồi, làm sao còn đồn tụ với chàng như hơm

nay! Vả lại việc người ta đối xử với mình nay còn thầm đau trong lòng, lẽ nào mình lại đối xử như thế

với người khác". Hề bèn dặn bạn khách buôn mua cho một người thiếp già hơn ba mươi tuổi. Qua nửa

năm, khách quả mua được người về, vào tới cửa thì ra là Thân thị, ai cũng lạ lùng kinh sợ. Trước đó

Thân thị ở một mình thêm được hơn năm thì anh là Bao khuyên tái giá. Thân nghe theo, duy ruộng

nương thì bị họ hàng nhà chồng cản trở khơng cho bán, liền bán các vật dùng được mấy trăm lượng

vàng về nhà anh ở. Có người khách bn ở huyện Bảo Ninh (tỉnh Tứ Xuyên) nghe nói có nhiều của hồi

mơn bèn đút lót nhiều tiền cho Bao để lừa cưới. Nhưng người khách bn già nua khơng còn sức làm

đàn ơng, Thân ốn anh khơng chịu ở n, hết thắt cổ lại nhảy xuống giếng, phiền nhiễu không chịu nổi.

Người khách bn giận, lục sốt tiền bạc lấy hết, định đem bán làm thiếp, nhưng ai nghe cũng chê đã

quá ba mươi rồi.

Người khách buôn đi Quỳ Châu đưa Thân cùng đi, người bạn buôn với Hề gặp bèn mua về. Thân

gặp mặt Hề thì vừa thẹn thùng sợ sệt khơng nói một câu. Hề hỏi người bạn bn biết rõ đầu đi bèn

nói "Nếu gặp được người đàn ơng mạnh khỏe thì đã ở lại Bảo Ninh, đâu có gặp nhau ở đây, cũng là số

trời. Nhưng nay ta mua thiếp chứ không phải cưới vợ, nên cứ vào lạy Chiêu Dung cho đúng lễ vợ cả

vợ bé đã”. Thân lấy làm nhục, Hề nói "Trước kia ngươi làm vợ cả thì sao?". Hà khun thơi nhưng Hề

không chịu, cầm gậy đe dọa cưỡng ép, Thân bất đắc dĩ phải lạy, nhưng trước sau vẫn không chịu hầu

hạ, chỉ làm lụng ở phòng khác. Hà đều bỏ qua hết, cũng không nỡ xét nét siêng năng hay lười biếng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hương Ngọc (Hương Ngọc)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×