Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lâm Tứ Nương (Lâm Tứ Nương)

Lâm Tứ Nương (Lâm Tứ Nương)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nói xong buồn rầu, ơng cũng rơi lệ. Bèn bày rượu cùng uống với nhau cho thật say, cô gái ngậm

ngùi cất tiếng hát, âm điệu đau xót, mỗi tiếng mỗi tiếng đều thay đổi cung bậc, tới chỗ thương tâm thì

nức nở, dừng lại mấy lần mới hát trọn khúc. Rượu cũng không sao uống say, đứng lên bồi hồi định từ

biệt. Ông cố giữ lại, nàng ngồi thêm một lúc, chợt nghe tiếng gà gáy bèn nói “Khơng thể ở lại lâu nữa

rồi. Chàng vẫn trách thiếp không chịu dâng lời thơ dở, nay sắp vĩnh biệt, xin viết qua một bài". Rồi

đòi giấy bút, viết xong nói “Lòng đau ý loạn, khơng thể cân nhắc câu chữ, tiếng dở luật sai xin cẩn

thận đừng đưa người khác xem” rồi lấy tay áo che mặt bước ra. Ông tiễn ra tới ngồi cổng, nàng tan đi

như làn khói mất dạng. Ơng đau xót hồi lâu, nhìn tới bài thơ thấy chữ viết ngay ngắn đẹp đẽ, trân trọng

cất đi. Thơ rằng:

Tĩnh tọa thâm cung thập thất niên,

Thùy tương cố quốc vấn thanh thiên.

Nhàn khan điện vũ phong kiều mộc,

Khấp vọng quân vương hóa đỗ quyên.

Hải quốc ba đào tà tịch chiếu,

Hán gia tiêu cổ tĩnh phong yên.

Hồng nhan lực nhược nan vi lệ.

Huệ chất tâm bi chỉ vấn thiên.

Nhật tụng Bồ đề thiên vạn cú,

Nhàn khan bối diệp lưỡng tam thiên.

Cao xướng Lê viên ca đại khốc,

Thỉnh quân độc thính diệc tàm nhiên.

(Mười bảy năm trời xót nỗi niềm

Lòng đau nước cũ trách trời nghiêng

Rảnh nhìn điện gác buồn cây cỏ

Khóc nhớ quân vương xót đỗ quyên

Sóng vỗ bể xa vầng nhật xế

Nhạc lừng cung Hán khói mây n

Má hồng sức yếu khơn làm quỷ

Chất huệ lòng đau chỉ hỏi thiền

Ngày đọc Bồ đề ngàn vạn chữ

Nhàn xem Bối diệp mấy mươi thiên

Cất khúc Lê viên thay tiếng khóc

Xin ơng giữ kín chút niềm riêng)

Lời thơ trùng lắp sai luật, ngờ là người chép lại bị lầm. Xét bộ Trì bắc ngẫu đàm của tiên sinh

Vương Ngư Dương cũng chép truyện này nhưng bài thơ thì là Đường luật, Lư Nhã Vũ tiên sinh ở Đức

Châu có đưa vào tập Sơn Tả thi sao, nên chép thêm vào đây để so sánh.

Trần Bảo Thược tự Lục Nhai người đất Mân, làm Quan sát Thanh Châu. Một hôm ngồi trong thư



trai, chợt có a hồn khoảng mười bốn mười lăm tuổi dung mạo rất đẹp vén rèm bước vào nói "Lâm

Tứ Nương yết kiến". Trần kinh ngạc, khơng biết nguyên do, đang ngần ngừ thì Tứ Nương đã tới trước

mặt nói câu vạn phúc, búi tóc mặc áo đỏ thêu nửa tay áo, mang hài mỏ phượng, lưng đeo song kiếm.

Trần ngờ là bậc hiệp khách tiên cô, bất đắc dĩ vái chào mời ngồi. Tứ Nương nói "Thiếp là cung tần cũ

trong phủ Hành, quê ở Kim Lăng. Xưa Hành vương đem ngàn vàng cưới thiếp về cho ở trong hậu

cung, sủng ái khác hẳn mọi người, không may chết sớm, chôn ở trong cung. Không đầy vài năm nước

mất, vương lên bắc. Hồn thiếp còn lưu luyến mộ cũ, nay cung điện hoang vu, muốn mượn đình qn

của ơng để tiếp khách, vốn khơng có ích gì cho ơng, nhưng cũng khơng có gì hại cho ơng", Trần dạ dạ.

Từ đó mỗi ngày tới một lần, mỗi khi bày tiệc, lúc đầu không thấy tân khách, nhưng nghe thấy tiếng

cười nói thù tạc. Lâu ngày bày tiệc mời Trần và mấy người Công xa đồng hương với Trần. Mười mấy

người trên tiệc chuốc rượu mừng, không khác gì người thường, nhưng cũng khơng biết là từ đâu tới.

Rượu say, Tứ Nương kể lại chuyện cũ trong cung, bi thương khôn xiết, gõ nhịp mà hát, âm thanh rất ai

oán, cả tiệc nước mắt đẫm áo mà tan. Như thế hơn năm, một hôm nàng buồn bã như sắp chia tay, nói

với Trần "Thiếp trần duyên đã hết, phải tới núi Chung Nam, vì ơng hậu tình, nên tới chia tay một lần",

từ đó khơng tới nữa. Có một quyển thơ, Tư khấu Lý Ngũ Huyền người Trường Sơn có bản sao, lại có

Hội nguyên Trần Chu Lượng ghi được một bài. Thơ rằng:

Tĩnh tọa thâm cung ức vãng niên,

Lâu đài tiêu cô biến phong yên.

Hồng nhan lực bạc nan vi lệ.

Hắc hải tâm bi chỉ học thiền.

Tế độc Liên hoa thiên bách kệ,

Nhàn khan bối diệp lưỡng tam thiên.

Lê viên cao xướng thăng bình khúc,

Qn thí thinh (thính) chi diệc võng nhiên.

(Ngồi lặng cung sâu xót nỗi niềm

Lâu đài ngày cũ khói mây nghiêng

Má hồng sức yếu khơn làm quỷ

Biển tối lòng đau chỉ học thiền

Khẽ đọc Liên hoa ngàn vạn chữ

Nhàn xem Bối diệp mấy mươi thiên

Lê viên cao khúc thanh bình trước

Ơng nếu nghe xong cũng sẽ quên)

Phụ: Bài Ký Về Lâm Tú Nương Của Lâm Tây Trọng (Vân Minh).

(Lâm Tây Trọng Vân Minh Lâm Tứ Nương Ký)

Ơng Ngơ Bảo Thược ở Tấn Giang (tỉnh Phúc Kiến) tự Lục Nhai, năm Khang Hy thứ 2 (1663) làm

quan Thiêm sự ở đạo Thanh Châu tỉnh Sơn Đơng, đêm cứ nghe có tiếng gõ cửa, lên tiếng hỏi thì khơng

ai đáp. Tên đầy tớ tức tối khơng chịu nổi cầm giáo rình đâm. Đêm ấy chỉ nghe tiếng chửi mắng, xơ cửa



giữa xơng ra thì là một con quỷ mặt xanh nanh dài cởi trần đứng sừng sững, đầu cao tới tận chái nhà, y

hoảng sợ vứt giáo ngã lăn ra đất. Trần vội bước ra quát "Đây là cơng thự của triều đình, ngươi là u

qi ở đâu dám tới quấy nhiễu?". Quỷ cười nói "Nghe quý nô bộc định giết nên tới chịu chết". Trần

tức giận định gọi quân bắt giết, vừa nghĩ thì quỷ đã cười nói "Gọi quân bắt ta, sao mưu kế kém cỏi

thế?”.

Trần càng tức giận, sáng ra điều hai ngàn quân tới giữ cổng. Đến đêm quỷ từ trong góc tường nhô

ra, cao chừng ba thước, đầu to như cái bánh xe, miệng há to như cái thúng, hai mắt lóe sáng, bò rạp

dưới đất, hơi lạnh tốt ra gai người. Quân sĩ quát tháo bắn túi bụi, đạn lửa đều khơng cháy, tên bắn

trúng thì khơng mũi nào cắm vào nó. Quỷ giật cung bắn trả, tên bay như mưa nhưng đều lướt qua đầu

chứ không làm ai bị thương, quân sĩ bỏ chạy tán loạn. Trần lại mời thầy pháp về làm phép xua đuổi,

đêm đến thầy pháp ngủ lại trong dinh. Lúc ấy là tháng chạp rất lạnh, Trần vừa đi nghỉ thì quỷ tới thẳng

chỗ thầy pháp ngủ lột sạch chăn nệm quần áo thầy pháp sợ hãi kêu cứu, Trần bất đắc dĩ phải tới năn

nỉ. Quỷ cười nói "Nghe nói thầy pháp cao tay lắm, nghĩ là có phép thuật mà tài nghề chỉ có bấy nhiêu

thơi sao?” rồi ném trả quần áo. Hơm sau thầy pháp xấu hổ từ biệt ra đi.

Từ đó trong dinh cứ bị ném đá liệng ngói sớm tối khơng n, có khi thấy tường sụp cột đổ mọi

người vội tránh xa thì lại khơng có chuyện gì, Trần lo lắm. Sau ta có người bạn đồng niên là Lưu Vọng

Linh lên kinh, đi ngang Thanh Châu hỏi biết chuyện bèn nói với Trần "Ơng tự chuốc lấy tai họa đó

thơi. Lý trong thiên hạ có dương ắt có âm, nếu khơng hấp tấp trừ yểm thì cũng khơng đến nỗi bị phá

phách như vậy", chưa dứt lời thì quỷ đã hiện ra lạy tạ. Lưu thấy hung ác đáng sợ bèn khuyên nên thay

đổi dung mạo, quỷ lập tức bước vào phòng kín, giây lát trở ra thì là một giai nhân tuyệt sắc, tóc mây

búi cao, y phục đẹp đẽ tha thướt đi tới. Quần áo của nàng đều bằng thứ lụa long sa trơn láng mềm mại,

cũng không thấy đường may, hương thơm sực nức không sao tả xiết. Nàng tự xưng là Lâm Tứ Nương,

có một tớ trai tên Quán Đạo, một tỳ nữ tên Đơng Cơ, đều có bóng khơng có hình, chỉ Tứ Nương là

khơng khác gì người sống.

Trần hàng ngày cùng nàng uống rượu làm vui, thân cận rất mực, chỉ không có chuyện kia nọ mà

thơi. Phàm các cơng văn trong dinh phần lớn đều do nàng thảo ra, những án ngục khó xét lâu năm thì

nàng dò xét rõ cả đầu đuôi, Trần ra xét một lần là ai cũng phục. Trần đi khảo thí thì nàng phẩm bình

văn chương, xếp hạng trên dưới đều xứng đáng nên rất nổi tiếng.

Trước kia Trần chờ bổ nhiệm ở Yên Kinh có vay một người nhà buôn hai ngàn quan tiền, lúc ấy

người nhà bn bất ngờ tới đòi khơng sao trả được, xin trả một nửa nhưng y không chịu. Tứ Nương ra

trách, nói "Trần cơng há phải là kẻ quịt nợ sao, chỉ vì nhất thời nên khơng đủ sức trả hết thơi. Người

cứ nằng nặc đòi bằng được để đẩy ơng vào chỗ mất danh dự thì có gì hay cho ngươi? Ta là ma đây,

nếu không nghe lời thì ta sẽ gieo tai họa cho ngươi đấy”.Người nhà bn vốn khơng tin chuyện ma quỷ

nên cười nói “Nàng là người đẹp mà lấy chuyện ma quỷ dọa ta, nếu quả là ma thì phải biết nhà cửa

nghề nghiệp của ta ở kinh” Tứ Nương nói “Nhà cửa nghề nghiệp của ngươi khó gì mà khơng biết.

Ngươi gần đây có làm một việc nhơ nhuốc ở nơi nọ, ta nói ra chỉ sợ ngươi phải chết thơi". Người nhà

bn hoảng sợ cáo từ ra về, Trần ngầm hỏi việc y làm nhưng rốt lại Tứ Nương vẫn không chịu nói ra,



giấu điều xấu cho người như thế đấy.

Tính nàng ưa ngâm vịnh, thơ phú làm ra phần lớn có âm điệu thê lương cảm khái, người ta không

nỡ đọc. Phàm những người ở đất Mân (tỉnh Phúc Kiến) tới thăm Trần thì nàng ắt cùng họ uống rượu

vui đùa, khi chia tay là tặng thơ, trong có ẩn ngữ, về sau phần lớn đều nghiệm. Có một người học trò

thích nàng xinh đẹp nên động tà niệm, Tứ Nương tức giận nói “Thằng mán rừng này thật vơ lễ", rồi ra

lệnh "Phạt gậy!". Người học trò chợt ngã lăn xuống đất kêu gào xin tha, hai mơng đít đầy vết gậy đánh.

Mọi người xin tha cho y, Tứ Nương bèn gọi tỳ nữ Đông Cô lấy thuốc cho y uống, lập tức khơng còn

đau đớn gì nữa, rồi lại cùng nhau uống rượu vui vẻ như lúc đầu.

Trần hỏi đầu đuôi việc thành ma, Tứ Nương đáp "Ta là người huyện Bồ Điền (tỉnh Phúc Kiến)

trong niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh (1628 -1643). Trước cha ta làm quan giữ kho ở phủ Giang Ninh

(tỉnh Nam Kinh), ăn cắp của kho bị hạ ngục. Ta cùng người anh con cậu hết sức chạy vạy, suốt nửa

năm đi đâu cũng có nhau nhưng khơng hề có chuyện tư tình. Đến khi cha ta được tha lại nghi ngờ, ta

bèn thắt cổ tự tử để chứng tỏ là khơng có chuyện gì, hồn phách cứng cỏi nên khơng tan. Vì có tình đồng

hương với ơng nên tới đây, cũng khơng phải là ngẫu nhiên đâu. Tính lại nàng ở dinh thự được mười

tám tháng thì cáo từ, sau khi chia tay Trần nhớ tiếc mãi. Năm Khang Hy thứ 6 (1667) Trần được bổ

làm Truyền dịch đạo ở Giang Nam, kể cho nghe chuyện này, dặn ta ghi lại.



042. Con Gái Ông Lỗ (Lỗ Công Nữ)

Trương Ư Đán người huyện Chiêu Viễn (tỉnh Sơn Đơng) tính ngang tàng khơng chịu bị trói buộc,

tới học ở chùa Tiêu. Lúc ấy quan Tri huyện là ơng Lỗ người Tam Hàn (vùng đất phía nam Triều Tiên)

có cơ con gái thích đi săn, sinh tình cờ gặp nàng ngồi đồng, thấy phong tư lộng lẫy, mặc áo lông điêu

gấm, cưỡi con ngựa câu nhỏ, xinh đẹp như tranh vẽ, trở về nhớ nhung, băn khoăn tơ tưởng. Sau nghe

tin nàng mắc bạo bệnh mà chết, vơ cùng đau xót.

Lỗ vì nhà ở xa nên gởi quan tài nàng trong chùa, tức nơi sinh ở. Sinh kính cẩn như đối với thần

minh, sáng ra thì thắp hương, đến bữa thì cúng vái, cứ rưới rượu khấn rằng "Thấy mặt một lần mộng

hồn vương vấn, không ngờ người ngọc chợt qua đời, nay thì tuy gần gũi trong gang tấc mà xa xôi như

núi sông, thật hận làm sao. Nhưng nàng còn sống thì còn có điều trói buộc chứ chết rồi khơng còn gì

ngăn cấm, dưới chín suối có thiêng thì xin nhẹ nhàng về đây cho vơi niềm mong nhớ!” sớm tối cứ thế

khấn khứa suốt nửa năm.

Một đêm khêu đèn đọc sách, chợt ngẩng đầu thì thấy cơ gái đang đứng trước đèn tươi cười. Sinh

giật mình đứng lên hỏi, nàng đáp "Cảm vì tình của chàng, khơng cầm lòng được nên khơng sợ mang

tiếng tư tình". Sinh cả mừng kéo nàng ngồi xuống rồi cùng nhau ân ái, từ đó đêm nào nàng cũng tới. Cơ

gái nói với sinh “Lúc thiếp còn sống thích cung ngựa, lấy việc bắn hươu giết nai làm vui, tội nghiệt rất

sâu, chết khơng có nơi về, nếu chàng thật lòng thương yêu xin phiền tụng kinh Kim cương cho đủ số

[41]



một tạng thì đời đời kiếp kiếp khơng dám qn ơn". Sinh kính cẩn nghe lời, cứ sáng ra là lập tức

tới trước quan tài lần tràng hạt đọc kinh.

Gặp lúc cuối năm, muốn cô gái cùng về nhà với mình, cơ gái lo chân yếu không thể lặn lội. Sinh

xin cõng đi, nàng cười nghe theo, thấy như cõng trẻ con khơng có chút gì nặng nhọc mỏi mệt. Từ đó

lấy thế làm thường, đi khảo thí cũng đưa nàng theo, nhưng chỉ ban đêm mới đi. Sinh sắp đi thi hương,

cơ gái nói “Chàng phúc mỏng, vất vả làm gì”, sinh nghe lời bèn thôi.

Được bốn năm năm, Lỗ bãi chức nghèo quá không thể đưa quan tài con gái cùng về quê, định

chôn ở đó nhưng ngặt khơng có đất. Sinh bèn tự trần rằng "Ta có khoảnh đất xấu gần chùa, xin cứ chơn

cất tiểu thư ở đó". Lỗ mừng lắm, sinh lại hết sức giúp đỡ việc chôn cất, Lỗ rất biết ơn nhưng khơng

hiểu vì sao. Lỗ đi rồi, hai người lại khắng khít như trước.

Một đêm nàng nép vào lòng sinh nước mắt lã chã nói "Gắn bó được năm năm, nay phải chia tay

rồi. Thiếp chịu ơn của chàng mấy kiếp cũng không báo đáp được," Sinh ngạc nhiên hỏi, nàng đáp

“Đội ơn tới tận suối vàng, kinh sấm đã tròn một tạng, nay được đi đầu thai vào nhà quan Hộ bộ họ Lư

ở Hà Bắc. Nếu chàng khơng qn tình hơm nay thì đúng ngày Trung thu mười lăm năm sau xin tới gặp

nhau”. Sinh rơi nước mắt nói "Ta đã hơn ba mươi tuổi rồi, thêm mười lăm năm nữa thì sắp vào quan

tài, gặp nhau có làm được gì?". Cơ gái cũng khóc nói "Thiếp xin làm nô tỳ để đền ơn", lát sau lại nói

"Chàng đưa thiếp đi giùm sáu bảy dặm với, từ đây ra đó đường nhiều gai góc, thiếp sợ rách hết quần

áo". Rồi ôm cổ sinh, sinh cõng nàng ra tới đường cái, thấy ven đường có một dãy xe ngựa, trên ngựa



hoặc một hoặc hai người, trên xe hoặc ba bốn người hoặc mười mấy người không như nhau.

Có một chiếc xe bng màn thêu treo rèm ngọc, chỉ có một bà già ngồi trên, thấy cơ gái tới bèn

gọi "Tới rồi đấy à?". Cô gái đáp "Tới rồi đây”, rồi ngoảnh nhìn sinh nói “Tới đây thì thiếp xin đi,

đừng quên lời thiếp dặn", sinh vâng dạ. Cô gái bước tới cạnh xe, bà già đưa tay kéo lên, rồi đó lăn

bánh lên đường, xe ngựa rầm rập phóng đi.

Sinh buồn bã trở về, ghi lại ngày hẹn lên vách, nhưng lại nghĩ tới công hiệu của kinh Phật, lại càng

chuyên cần tụng niệm. Nằm mơ thấy thần nói “Lòng thành của ngươi rất đáng khen, nhưng cũng phải

[42]



tới Nam Hải

nữa”. Sinh hỏi "Nam Hải cách đây xa không?” thần đáp “Chỉ trong gang tấc”. Sinh

tỉnh dậy hiểu ý, bèn tụng kinh Quan âm, tu hành càng nghiêm cẩn.

Ba năm sau con thứ là Minh, con trưởng là Chính nối nhau thi đỗ. Sinh quý hiển nhưng vẫn giữ

thiện hạnh, đêm mơ thấy một người áo xanh mời đi, tới một nơi cung điện, trong điện có một người

ngồi, hình dáng như Quan âm Bồ tát đứng lên đón, nói "Ơng làm điều lành đáng khen, tiếc không được

sống lâu, may ta đã xin được Thượng đế cho thêm tuổi thọ rồi". Sinh lạy rạp dập đầu, Bồ tát gọi đứng

lên, cho ngồi uống trà, thấy mùi vị thơm ngát như hoa lan. Lại sai đồng tử dẫn đi, bảo xuống ao tắm,

nước ao trong suốt có thể đếm được cá đang bơi, bước xuống thấy ấm áp, vốc lên thấy có mùi hương

sen. Lát sau dần ra tới chỗ sâu, hụt thân chìm nghỉm, giật mình tỉnh dậy lấy làm lạ lùng.

Từ đó thân thể càng khỏe mạnh, mắt càng sáng, vuốt râu thì những sợi râu trắng đều lả tả rơi

xuống, lâu sau thì râu đen cũng rụng xuống, những nếp nhăn trên mặt cũng giãn ra. Vài tháng sau thì

cằm khơng còn sợi râu nào mà mặt như trẻ con giống lúc mười lăm mười sáu tuổi. Lại thích những trò

nghịch ngợm phá phách, có khi làm điều bậy bạ, hai con trai phải xin lỗi che chở cho. Không bao lâu,

phu nhân già mắc bệnh chết, hai con trai muốn hỏi cưới vợ kế con nhà thế tộc cho cha, sinh nói "Chờ

ta tới Hà Bắc trở về rồi sẽ cưới vợ".

Bấm đốt ngón tay tính đã tới ngày hẹn, bèn sai đầy tớ thắng ngựa tới Hà Bắc, hỏi thăm quả có nhà

quan Hộ bộ họ Lư. Trước là ông Lư sinh được một con gái, sinh ra đã biết nói, lớn lên càng thông

minh xinh đẹp, cha mẹ rất yêu dấu. Các nhà giàu sang tới dạm hỏi thì nàng cứ chối từ không chịu, cha

mẹ lấy làm lạ hỏi, nàng kể lại lời hẹn kiếp trước. Cha mẹ cùng tính lại tuổi tác sinh, cười lớn nói

“Con nhãi ngây ngốc, Trương lang tính ra đã gần năm mươi tuổi, nếu việc người thay đổi thì xương đã

mục nát, mà nếu còn sống cũng thì đã đầu hói răng rụng rồi". Cô gái không nghe, mẹ thấy nàng quyết ý

bèn bàn với ông Lư sai người giữ cửa không được đưa tin sinh tới, chờ qua kỳ hẹn để nàng không

mong đợi nữa.

Không bao lâu sinh tới, người giữ cửa từ chối không cho vào, sinh quay lại nhà trọ buồn bã khơng

biết làm sao. Lúc nhàn rỗi đi dạo ngồi đồng, nhân ngầm tìm cách nghe ngóng tin tức trong nhà họ Lư.

Cơ gái cho rằng sinh phụ ước, khóc lóc bỏ ăn, mẹ nói "Y khơng tới, chắc đã chết rồi, nếu khơng thì cái

lỗi phụ ước khơng phải là do con” nàng khơng nói gì, chỉ nằm cả ngày. Lư lo sợ, cũng nghĩ muốn gặp

sinh một lần xem sao bèn lấy cớ ra ngoài dạo chơi, gặp sinh ngồi đồng, nhìn thấy là một thiếu niên

lấy làm kinh ngạc. Bèn trải chiếu xuống đất cùng ngồi trò chuyện, thấy rất hợp ý, mừng rỡ mời về nhà.

Sinh đang định hỏi chuyện, Lư lập tức đứng lên dặn khách ngồi đợi một lúc rồi vội vào nói với



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lâm Tứ Nương (Lâm Tứ Nương)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×