Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hồng Ngọc (Hồng Ngọc)

Hồng Ngọc (Hồng Ngọc)

Tải bản đầy đủ - 0trang

tới chúc Ngự sử, phạm tội ăn hối lộ bị cách chức về nhưng vẫn cậy oai lộng hành. Hôm ấy Tống cũng

đi tảo mộ về, thấy cô gái đẹp, hỏi người trong thôn biết là vợ sinh, nghĩ Phùng là học trò nghèo, lấy

nhiều tiền dụ dỗ có thể xiêu lòng, liền sai người nhà bắn tin. Sinh vừa nghe thấy tức giận ra mặt, kế lại

nghĩ thế không địch nổi bèn nén giận tươi cười rồi về nói với cha. Ông Phùng cả giận chạy ra gặp tên

người nhà của Tống chỉ trời vạch đất chửi mắng thậm tệ. Tên người nhà trốn về, Tống cũng tức giận,

sai mấy người xông vào nhà sinh đánh nhau, hai cha con sinh chửi ầm lên. Cô gái nghe thấy, bỏ con

xuống giường, xõa tóc chạy ra kêu cứu, bọn kia liền bắt lấy khiêng lên rầm rộ bỏ đi. Cha con bị

thương nằm rên rỉ dưới đất, đứa nhỏ thì khóc oa oa trong phòng. Láng giềng cùng thương xót vực cha

con lên giường, qua hôm sau sinh chống gậy đứng lên được, ơng Phùng thì tức giận bỏ ăn, thổ huyết

mà chết.

Sinh khóc lớn, bế con đi kiện lên tới tỉnh, kiện tụng khắp nơi rốt lại vẫn không được xét. Sau nghe

nói vợ khơng chịu khuất mà chết lại càng đau xót, căm giận đầy bụng khơng làm sao phát tiết. Thường

nghĩ muốn đón đường đâm chết Tống, nhưng lo đầy tớ y đông, con lại không gửi ai được, ngày đêm

đau xót nghĩ ngợi khơng hề chợp mắt. Chợt một người đàn ông tới nhà thăm hỏi, râu quăn cằm bạnh,

chưa từng gặp qua. Sinh mời ngồi, vừa định hỏi họ tên quê quán, khách đã nói ngay "Ơng có cái thù

giết cha, mối hận cướp vợ mà không báo à?". Sinh ngờ là người của Tống sai tới dò xét nên chỉ giả

vâng dạ. Khách nổi giận trợn mắt muốn rách khóe, bước ngay ra, nói "Ta cho rằng ông là người, nay

mới biết là đồ hèn không đáng đếm xỉa”. Sinh thấy lạ liền quỳ xuống kéo lại nói "Thật là sợ người nhà

họ Tống tới dò la, nay xin bày tỏ gan ruột. Ta ôm lòng báo thù lâu rồi, nhưng thương đứa nhỏ trong

[39]



bọc này, sợ bị tuyệt tự. Ông là bậc nghĩa sĩ, có thể vì ta mà làm Chử Cữu khơng?”.

Khách nói "Đó là việc của đàn bà con gái, ta không làm được. Việc ông muốn nhờ người xin tự

làm lấy, còn việc ơng muốn tự làm thì ta xin làm thay cho". Sinh nghe nói dập đầu lạy, khách bỏ ra

khơng thèm nhìn. Sinh đuổi theo hỏi họ tên, khách đáp "Việc khơng xong khơng nhận ốn, việc xong

khơng nhận ơn", rồi đi. Sinh sợ tai vạ tới, bế con bỏ trốn.

Đến đêm, cả nhà họ Tống đang ngủ, có người vượt qua mấy lần tường vào giết ba cha con Ngự sử

và một tỳ nữ, một con dâu. Nhà họ Tống làm báo quan, quan cả sợ. Nhà họ Tống cứ vu cho Tương

Như nên quan sai lính bắt sinh, vì sinh trốn khơng biết đi đâu nên càng tin là thật. Đầy tớ nhà họ Tống

cùng lính quan đi lùng khắp nơi, đêm đến núi Nam nghe tiếng trẻ khóc, tìm tới nơi gặp sinh bèn trói

giải về. Đứa nhỏ càng khóc dữ, chúng liền giật lấy vứt đi, sinh căm hòn muốn chết.

Khi gặp quan huyện, quan hỏi vì sau giết người, sinh nói "Thật oan quá! Họ chết ban đêm mà ta ra

đi từ ban ngày, vả lại bế đứa nhỏ khóc oa oa thì làm sao vượt tường giết người?". Quan huyện hỏi

“Không giết người tại sao bỏ trốn?", sinh nghẹn lời không đáp được, quan liền sai giam vào ngục.

Sinh khóc nói “Ta chết cũng không tiếc, nhưng đứa nhỏ mồ côi kia có tội gì?” Quan huyện nói "Ngươi

giết con người ta đã nhiều, thì con ngươi bị giết còn ốn gì?". Sinh bị lột áo mũ nhà nho, lại nhiều lần

bị tra tấn tàn khốc nhưng rốt lại không hề nhận tội.

Đêm ấy quan huyện nằm ngủ nghe có vật gì dập vào giường rung lên thành tiếng, cả sợ kêu lớn. Cả

nhà giật mình thức dậy, xúm lại đốt đuốc soi, thấy một lưỡi đoản đao sáng loáng cắm vào giường sâu



hơn một tấc, chặt cứng không rút ra được. Quan huyện nhìn thấy khiếp vía, cầm giáo đi lùng khắp nơi

khơng thấy gì, trong lòng lo thầm. Lại vì họ Tống đã chết khơng đáng sợ nữa, bèn trình lên quan tỉnh

giải oan cho sinh rồi tha về.

Sinh về nhà, trong hủ khơng một đấu gạo, một mình với bốn bức vách, may được láng giềng

thương xót cho ăn uống, sống đỡ qua ngày. Nghĩ tới mối thù lớn đã trả thì tươi cười vui vẻ nhưng nhớ

lại tai họa thảm khốc st chết tồn gia thì buồn bã sa lệ, lại nghĩ mình nửa đời nghèo thấu xương,

khơng người nối dõi, thì khi vắng người bật tiếng khóc thất thanh khơng sao kìm được. Cứ thế nửa

năm, việc bắt bớ lơi lỏng dần, bèn xin quan huyện cho mang hài cốt Vệ thị về. Chôn cất xong trở về,

đau đớn chỉ muốn chết, trằn trọc trên giường nghĩ khơng còn cách gì để sống.

Bỗng có người gõ cửa, sinh lắng tai nghe thấy ngồi cửa có tiếng một người đang nựng nịu trẻ

con. Sinh vội dậy ra nhìn thì như là một cơ gái, cửa vừa mở đã hỏi “Nỗi oan lớn đã rửa, may không

sao chứ?” giọng rất quen nhưng lúc vội vàng không sao nhớ ra được. Đánh lửa soi thì ra là Hồng

Ngọc, dắt một đứa nhỏ cười đùa dưới chân. Sinh không kịp hỏi han, ơm nàng khóc nức nở, cơ gái

cũng buồn bã. Kế đẩy đứa nhỏ nói "Con quên cha rồi sao?” Đứa nhỏ nắm áo cơ gái nhìn sinh chằm

chằm, sinh nhìn kỹ thì là Phúc Nhi, cả kinh khóc hỏi "Sao con về đây được?". Cơ gái nói "Nói thật

với chàng, trước kia thiếp nói là con gái láng giềng là nói dối. Thiếp thật là hồ, nhân đi đêm thấy con

khóc trong hang liền bế về ni ở đất Tần (tỉnh Thiểm Tây). Nghe nạn lớn đã yên nên đem con về

cùng chàng đoàn tụ”, sinh lau nước mắt lạy tạ. Đứa nhỏ nép vào lòng cơ gái như nương tựa mẹ ruột,

không nhận ra cha nữa.

Trời chưa sáng, cơ gái đã trở dậy, hỏi thì nàng đáp "Nơ tỳ muốn đi," Sinh cởi trần quỳ ở đầu

giường khóc khơng ngẩng lên được. Cơ gái cười nói “Thiếp lừa chàng thôi. Nay nhà đang gầy dựng,

không thức khuya dậy sớm không được". Rồi nhổ cỏ dọn dẹp, làm lụng như đàn ông. Sinh lo nhà

nghèo không đủ ăn, nàng nói "Xin chàng cứ bng rèm học hành, đừng hỏi chuyện thiếu đủ, may cũng

khơng chết đói đâu”. Rồi bỏ tiền ra sắm khung dệt, thuê vài mươi mẫu ruộng mướn người cày cấy, vác

bừa làm ruộng, kéo tranh lợp nhà, hàng ngày làm lụng.

Làng xóm nghe sinh có vợ hiền càng vui lòng giúp đỡ, khoảng nửa năm trong nhà ăn uống sung túc

như nhà giàu. Sinh nói “Sau lúc tro tàn, nhờ nàng một tay gầy dựng lại, nhưng còn một việc chưa xong,

biết làm sao?". Nàng hỏi việc gì, sinh đáp "Kỳ thi sắp tới mà khăn áo chưa lấy lại được". Cơ gái cười

nói "Trước đây thiếp đã đem bốn lượng vàng gửi Học quan, ghi lại tên chàng vào sổ rồi, đợi tới

chàng nhắc thì trễ lắm", sinh càng cho là thần. Khoa ấy sinh đỗ Cử nhân, năm ấy ba mươi sáu tuổi,

ruộng tốt liền bờ, nhà cửa cao rộng. Cô gái mảnh khảnh như gió thổi là bay mà làm lụng còn hơn con

nhà nông, mùa đông rét buốt vẫn làm việc mà bàn tay vẫn mềm mại, tự nói ba mươi tám tuổi nhưng

nhìn chỉ như hơn hai mươi.

Dị Sử thị nói: Con giỏi mà cha có đức nên được báo đáp hào hiệp, mà chẳng riêng gì người

hào hiệp, tự mình cũng giống kẻ hào hiệp nên tao ngộ cũng lạ lùng. Nhưng quan huyện mù mờ

khiến người ta căm hờn, lưỡi đao sắc cắm vào giường, còn tiếc gì mà khơng phóng qua cách đó

nửa thước? Nếu Tơ Tử Mỹ



[40]



đọc truyện này ắt sẽ hào hùng nói "Tiếc là đánh mà khơng trúng".



041. Lâm Tứ Nương (Lâm Tứ Nương)

Ơng Trần Bảo Thược làm quan ở đạo Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) là người đất Mân (tỉnh Phúc

Kiến) đêm ngồi một mình, có cơ gái vén rèm bước vào. Nhìn ra thì khơng quen mà rất đẹp, tay áo dài

như lối trong cung cười nói "Đêm thanh ngồi một mình khơng buồn à?". Ơng giật mình hỏi là ai, nàng

đáp "Nhà thiếp khơng xa, chỉ bên xóm tây". Ơng đốn là ma nhưng lòng u thích bèn kéo áo mời

ngồi, thấy trò chuyện rất phong nhã. Ơng thích lắm ơm lấy, cũng khơng kháng cự gì lắm, chỉ ngoảnh lại

hỏi "Ở đây khơng có ai khác sao?”. Ơng vội khép cửa đáp khơng. Giục cởi áo xiêm, nàng có vẻ thẹn

thùng sợ sệt, ông phải ân cần cởi giúp cho. Nàng nói “Thiếp nay hai mươi tuổi, vẫn còn là xử nữ,

mạnh bạo q thì khơng chịu nổi". Giao hoan xong thấy máu đỏ vấy ra chiếu, kế dựa gối cùng trò

chuyện, tự nói là Lâm Tứ Nương. Ơng hỏi kỹ, nàng nói “Một tấm kiên trinh đã để cho chàng khinh bạc

mà mất hết, nếu yêu thương thiếp thì chỉ cần tính chuyện lâu dài với nhau là được, hỏi lằng nhằng làm

gì?”

Khơng bao lâu gà gáy, nàng trở dậy ra đi. Từ đó đêm nào cũng tới, thường đóng cửa uống rượu,

nói tới âm luật thì nàng hiểu hết cung bậc. Ơng đốn chắc hát rất hay, nàng nói “Lúc còn nhỏ vốn được

học". Ơng xin hát cho nghe một khúc, nàng nói "Đã lâu khơng đụng tới âm nhạc, cung bậc quên mất

quá nửa, sợ người hiểu biết cười cho". Ông cố nài ép, nàng bèn cúi đầu gõ nhịp, hát khúc châu Y châu

Lương, giọng rất thê thiết, hát xong rơi nước mắt. Ơng cũng chua xót, ôm nàng an ủi "Nàng đừng vì cái

âm nhạc mất nước ấy mà buồn khiến người ta mất vui". Cô gái nói "âm thanh là để tỏ ý, người buồn

khơng thể bắt vui, cũng như người vui không bắt buồn được". Hai người thân thiết còn hơn cả vợ

chồng, lâu ngày người nhà nghe trộm, nghe thấy tiếng hát đều rơi nước mắt. Phu nhân nhìn trộm dung

mạo, nghi là trên đời khơng có người đẹp đến như thế, khơng phải ma ắt là hồ, sợ sẽ gieo tai họa bèn

khun ơng dứt tình.

Ơng khơng nghe, chỉ hỏi kỹ gốc tích cơ gái. Nàng buồn rầu nói “Thiếp là Cung nhân trong Hành

phủ, gặp tai biến mà chết mười bảy năm rồi. Nghĩ chàng cao nghĩa nên gửi thân kết tình, thật khơng

dám làm hại chàng. Nếu nghi ngờ thì xin giã biệt từ đây”. Ơng nói "Ta khơng hiềm nghi gì, nhưng đã

yêu thương nhau như vậy thì phải biết rõ sự thật thôi". Bèn hỏi việc trong cung thuở trước, cô gái kể

rành rọt nghe rất thú vị, kể tới lúc suy vi thì nức nở nói khơng nên lời. Cơ gái ít ngủ, hàng đêm cứ trở

dậy tụng kinh Chuẩn đề, Kim cang. Ơng hỏi "Ở chín suối cũng có thể tự sám hối sao?” nàng đáp “Cũng

như nhau cả, thiếp nghĩ trọn đời luân lạc nên muốn kiếp sau được giải thốt thơi".

Lại cùng ơng phẩm bình thi từ, chỗ nào dở là chê, gặp câu hay thì cất tiếng ngâm nga, ý khí phong

lưu khiến người nghe qn mỏi mệt. Ơng hỏi có hay thơ khơng thì đáp "Lúc sống ngẫu nhiên cũng có

làm” ơng đòi viết tặng cho mình, nàng cười nói “Lời thơ của đàn bà con trẻ đâu đủ đến tai bậc cao

nhân?". Được ba năm, một đêm chợt nàng buồn rầu từ biệt. Ơng giật mình hỏi, nàng cười đáp "Diêm

Vương nói thiếp kiếp trước khơng có tội mà vẫn khơng quên tụng kinh nên cho thác sinh làm con vua,

đêm nay là vĩnh biệt, khơng còn gặp lại nhau nữa đâu”.



Nói xong buồn rầu, ơng cũng rơi lệ. Bèn bày rượu cùng uống với nhau cho thật say, cô gái ngậm

ngùi cất tiếng hát, âm điệu đau xót, mỗi tiếng mỗi tiếng đều thay đổi cung bậc, tới chỗ thương tâm thì

nức nở, dừng lại mấy lần mới hát trọn khúc. Rượu cũng không sao uống say, đứng lên bồi hồi định từ

biệt. Ông cố giữ lại, nàng ngồi thêm một lúc, chợt nghe tiếng gà gáy bèn nói “Khơng thể ở lại lâu nữa

rồi. Chàng vẫn trách thiếp không chịu dâng lời thơ dở, nay sắp vĩnh biệt, xin viết qua một bài". Rồi

đòi giấy bút, viết xong nói “Lòng đau ý loạn, khơng thể cân nhắc câu chữ, tiếng dở luật sai xin cẩn

thận đừng đưa người khác xem” rồi lấy tay áo che mặt bước ra. Ông tiễn ra tới ngồi cổng, nàng tan đi

như làn khói mất dạng. Ơng đau xót hồi lâu, nhìn tới bài thơ thấy chữ viết ngay ngắn đẹp đẽ, trân trọng

cất đi. Thơ rằng:

Tĩnh tọa thâm cung thập thất niên,

Thùy tương cố quốc vấn thanh thiên.

Nhàn khan điện vũ phong kiều mộc,

Khấp vọng quân vương hóa đỗ quyên.

Hải quốc ba đào tà tịch chiếu,

Hán gia tiêu cổ tĩnh phong yên.

Hồng nhan lực nhược nan vi lệ.

Huệ chất tâm bi chỉ vấn thiên.

Nhật tụng Bồ đề thiên vạn cú,

Nhàn khan bối diệp lưỡng tam thiên.

Cao xướng Lê viên ca đại khốc,

Thỉnh quân độc thính diệc tàm nhiên.

(Mười bảy năm trời xót nỗi niềm

Lòng đau nước cũ trách trời nghiêng

Rảnh nhìn điện gác buồn cây cỏ

Khóc nhớ quân vương xót đỗ quyên

Sóng vỗ bể xa vầng nhật xế

Nhạc lừng cung Hán khói mây n

Má hồng sức yếu khơn làm quỷ

Chất huệ lòng đau chỉ hỏi thiền

Ngày đọc Bồ đề ngàn vạn chữ

Nhàn xem Bối diệp mấy mươi thiên

Cất khúc Lê viên thay tiếng khóc

Xin ơng giữ kín chút niềm riêng)

Lời thơ trùng lắp sai luật, ngờ là người chép lại bị lầm. Xét bộ Trì bắc ngẫu đàm của tiên sinh

Vương Ngư Dương cũng chép truyện này nhưng bài thơ thì là Đường luật, Lư Nhã Vũ tiên sinh ở Đức

Châu có đưa vào tập Sơn Tả thi sao, nên chép thêm vào đây để so sánh.

Trần Bảo Thược tự Lục Nhai người đất Mân, làm Quan sát Thanh Châu. Một hôm ngồi trong thư



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hồng Ngọc (Hồng Ngọc)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×