Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trương Thành (Trương Thành)

Trương Thành (Trương Thành)

Tải bản đầy đủ - 0trang

chửi “Ngươi giết con ta, lại muốn chặt cổ để thốt tội à?" Nột rên rỉ nói "Xin mẹ đừng lo phiền, em

chết thì ta quyết khơng sống đâu”.

Đặt lên giường, vết thương đau đớn không ngủ được, ngày đêm cứ ngồi dựa vào tường mà khóc.

Cha sợ Nột cũng chết, lúc lúc tới cạnh giường đút cho ăn uống qua loa, Ngưu thị lại chửi rủa. Nột bèn

không chịu ăn nữa, ba ngày thì chết. Trong làng có thầy đồng xuống âm ty về, Nột gặp giữa đường bèn

kể lể nỗi khổ trước đây, nhân hỏi chỗ em ở. Thầy đồng nói khơng biết, rồi quay lại dẫn Nột đi. Tới

một nơi đô hội, thấy một người mặc áo đen trong thành ra, thầy đồng giữ lại hỏi thăm giùm, người áo

đen xem kỹ lại tập trát trong túi thấy có hơn một trăm đàn ơng đàn bà nhưng khơng có ai họ Trương.

Thầy đồng ngờ rằng ở tập trát khác, người áo đen nói “Con đường này thuộc về ta, làm sao có chuyện

bắt lầm?” Nột khơng tin, ép thầy đồng đưa vào thành. Trong thành ma cũ ma mới đi lại đơng đúc, cũng

có người quen cũ nhưng tới hỏi đều không ai biết.

Chợt mọi người cùng nhao nhao nói Bồ Tát tới, ngẩng nhìn thấy trong mây có một người to lớn,

ánh hào quang rực rỡ khắp trên dưới, chợt cảm thấy trời đất quang đãng. Thầy đồng chúc mừng nói

“Đại Lang có phúc thật! Bồ Tát mấy ngàn năm mới xuống âm ty một lần để rửa sạch khổ não, đúng

hôm nay lại được gặp”, rồi kéo Nột quỳ xuống. Bọn quỷ cũng nhao nhao quỳ xuống chắp tay cùng tụng

niệm, tiếng “Từ bi cứu khổ” vang rền. Bồ Tát lấy cành dương nhúng nước cam lộ rẩy khắp nơi, li ti

như bụi sương. Giây lát hơi mù tan đi, hào quang thu lại thì khơng thấy Bồ Tát ở đó nữa. Nột thấy trên

cổ thấm ướt cam lộ, chỗ búa chặt khơng còn đau nữa. Thầy đồng lại theo đường cũ đưa Nột về, khi

nhìn thấy cổng làng mới từ biệt mà đi.

Nột chết đã hai ngày chợt sống lại, kể lại nhũng việc đã gặp, nói Thành chưa chết, mẹ cho là bịa

đặt lại mắng chửi. Nột oan ức không biết làm sao giãi bày, sờ tới vết thương thì đã lành, cố gượng

đứng dậy chào cha, nói “Con sẽ băng mây vượt biển tìm em, nếu khơng thấy thì đừng mong con quay

về, xin cha cứ coi như con đã chết”. Cha đưa ra chỗ vắng cùng nhau khóc lóc, khơng dám giữ lại. Nột

bèn ra đi, cứ theo đường lớn hỏi thăm tin tức em. Giữa đường tiền ăn hết sạch, phải ăn mày mà đi.

Hơn một năm tới Kim Lăng, áo quần rách rưới lần mò trên đường, chợt thấy hơn mười kỵ mã đi qua

liền tránh sang vệ đường. Trong bọn có một người như quan lớn, tuổi khoảng bốn mươi, lính mạnh

ngựa khỏe xúm xít trước sau. Có một thiếu niên cưỡi con ngựa nhỏ, mấy lần nhìn Nột. Nột thấy là

công tử con quan chưa dám ngẩng nhìn, thiếu niên dừng roi ghìm ngựa, chợt xuống ngựa gọi to "Có

phải anh ta khơng?”. Nột ngước nhìn kỹ thì ra là Thành, nắm tay đau xót khóc lạc cả tiếng. Thành cũng

khóc nói "Sao anh phải lưu lạc đến thế này?”. Nột kể sự tình, Thành càng đau xót. Bọn kỵ mã đều

xuống hỏi duyên do rồi bẩm lại với quan lớn. Quan sai bớt ra một con ngựa chở Nột, cùng nhau về

nhà mới hỏi chuyện tường tận.

Trước là cọp tha Thành đi đặt ở vệ đường lúc nào không biết, nằm giữa đường suốt một đêm. Gặp

lúc Trương Thiên hộ từ kinh đô tới đi ngang qua, thấy Thành mặt mày nho nhã, thương xót vực lên vỗ

về. Thành dần sống lại, nói nhà cửa quê quán thì đã quá xa, nên chở Thành cùng về bó thuốc cho, vài

ngày thì khỏi. Thiên hộ khơng có con trai nên nhận Thành làm con, đại khái hôm đó là gặp lúc Thành

theo ơng dạo chơi. Thành kể lại với anh xong thì Thiên hộ vào, Nột lạy tạ không thôi. Thành vào trong



lấy áo lụa ra biếu anh rồi bày rượu trò chuyện.

Thiên hộ hỏi quý gia ở đất Dự có đơng người khơng, Nột nói “Khơng có mấy người. Cha ta lúc

nhỏ là người đất Tề, tới ngụ ở đất Dự” Thiên hộ “Ta cũng người Tề, quý quán thuộc hạt nào?”. Nột

đáp “Từng nghe cha ta nói thuộc huyện Đơng Xương (tỉnh Sơn Đơng)” Thiên hộ giật mình hỏi "Cùng

quê với ta rồi, thế tại sao lại tới ở đất Dự?”. Nột nói "Mẹ già bị quân bắt đi, cha ta gặp binh lửa mất

sạch cả gia sản, vì trước từng bn bán ở miền Tây, qua lại đã quen nên ở ln lại đó. Thiên hộ lại

giật mình hỏi lệnh tơn tên gì, Nột đáp rõ. Thiên hộ tròn mắt nhìn rồi cúi đầu như ngờ vực, bước mau

vào nhà trong.

Không bao lâu Thái phu nhân ra, mọi người lạy chào xong, bà hỏi Nột “Ngươi là cháu nội Trương

Bính Chi phải khơng?”. Nột thưa “Phải”. Thái phu nhân khóc lớn nói với Thiên hộ "Đây là em ngươi

đấy!”, anh em Nột không hiểu ra sao. Thái phu nhân nói "Ta lấy cha các ngươi ba năm, lưu lạc sang

Bắc, thuộc về quan Chỉ huy Mỗ, được nửa năm sinh anh ngươi. Lại nửa năm thì Chỉ huy chết, anh

ngươi nhờ phụ ấm thăng lên chức quan này, nay giải chức rồi vẫn canh cánh nhớ quê hương, đã lấy lại

họ cũ, nhiều lần cho người tới đất Tề hỏi thăm mà khơng có tin tức gì, có biết đâu là cha ngươi đã dời

sang miền Tây!”. Rồi nói với Thiên hộ “Ngươi ni em làm con thì giảm phúc mà chết thơi". Thiên hộ

nói "Trước có hỏi Thành, Thành thưa từng nói là người Tề, chắc là còn nhỏ dại nên khơng biết”. Bèn

theo tuổi xếp đặt lại, Thiên hộ bốn mươi mốt tuổi làm anh lớn, Thành mười sáu tuổi là út, Nột hai

mươi thì là anh lớn mà thành anh hai. Thiên hộ được hai em mừng lắm, ăn ngủ đều có nhau, biết hết

ngun do chia lìa lưu lạc, tính chuyện trở về. Thái phu nhân sợ bà vợ kế khơng dung, Thiên hộ nói

“Dung được thì ở chung, nếu khơng thì ở riêng, chứ trong thiên hạ có nước nào mà lại khơng có tình

cha con”.

Rồi đó bán nhà đất sắm hành lý lập tức lên đường. Tới đầu làng Nột và Thành chạy về trước báo

tin cho cha. Cha từ lúc Nột bỏ đi, vợ cũng chết, chỉ còn một ơng già góa vợ một mình một bóng. Chợt

thấy Nột vào, mừng đến thảng thốt, đang còn giật mình lại nhìn thấy Thành, mừng q khơng nói nên

lời, nước mắt giàn giụa. Hai người nói mẹ con Thiên hộ tới, ơng nín khóc ngạc nhiên khơng biết là vui

hay buồn, đứng ngẩn người ra.

Không bao lâu Thiên hộ vào, lạy chào xong Thái phu nhân nắm lấy tay ơng nhìn nhau cùng khóc.

Kế thấy tơi tớ trai gái đứng đầy trong ngồi, người ngồi kẻ đứng, khơng còn biết làm gì nữa. Thành

khơng thấy mẹ liền hỏi mới biết mẹ đã chết, gào khóc muốn đứt hơi, một lúc mới tỉnh lại. Thiên hộ lấy

tiền ra xây dựng lầu gác, đón thầy về dạy hai em học, ngựa hí ran trong tàu, người ồn ào trong nhà,

nghiễm nhiên là một đại gia.

Dị Sử thị nói: Ta nghe hết chuyện này, mấy lần sa lệ. Thấy đứa trẻ hơn mười tuổi đốn củi giúp

[36]



anh, cảm khái nói “Lại thấy lại Vương Giám

chăng?", đó là một lần. Tới đoạn cọp tha Thành đi

khơng kìm được bật kêu ầm lên “Đạo trời mịt mờ như thế sao!”, đó là một lần. Tới đoạn anh em bất

ngờ gặp nhau thì mừng mà cũng sa lệ. Tới đoạn thêm được một người anh, lại thêm một nỗi đau lòng,

thì sa lệ vì Thiên hộ. Tới đoạn một nhà sum họp, kinh ngạc bất ngờ, mừng rỡ bất ngờ, bỗng dưng sa lệ

vì người cha. Khơng biết đời sau có ai mau nước mắt như ta hay khơng!



032. Xảo Nương (Xảo Nương)

Quảng Đơng có nhà thế gia họ Phó hơn sáu mươi tuổi sinh được một trai tên Liêm, rất thông minh

nhưng bị trời hoạn, mười bảy tuổi mà dương vật chỉ mới bằng con tằm. Xa gần biết chuyện, không nhà

nào chịu gả con gái cho, tự nghĩ dòng dõi đã tuyệt, ngày đêm lo lắng nhưng không biết làm sao. Liêm

theo thầy đọc sách, thầy ngẫu nhiên đi vắng, gặp lúc ngoài cửa có gánh xiếc khỉ, Liêm ra xem bỏ cả

học. Đến chừng đoán thầy sắp về, sợ hãi bèn bỏ trốn.

Rời nhà được mấy dặm thấy một nữ lang áo trắng dắt đứa tỳ nữ nhỏ đi phía trước, một lần nàng

quay lại, thấy xinh đẹp không ai sánh được. Nàng đi chậm lại, Liêm đi vượt lên thì nàng quay qua nói

với đứa tỳ nữ "Thử hỏi xem lang qn có tới Quỳnh Châu (huyện thuộc Quang Đơng) khơng". Đứa tỳ

nữ gọi lại hỏi, Liêm hỏi có việc gì. Cơ gái đáp “Nếu đi Quỳnh Châu thì có lá thư phiền chàng tiện

đường đưa giúp về nhà. Mẹ già ta ở nhà cũng là người hiếu khách". Liêm lúc ra đi vốn cũng chưa định

đi đâu, nghĩ ra biển cũng hay, bèn nhận lời. Cô gái rút thư đưa tỳ nữ trao cho sinh. Hỏi họ tên quê

quán thì nàng đáp là họ Hoa, ở làng gái Tần cách phía bắc thành ba bốn dặm.

Sinh đáp thuyền đi, tới phía bắc huyện thành Quỳnh Châu thì trời đã tối, hỏi thăm thôn gái Tần lại

không ai biết. Đi về hướng bắc bốn năm dặm thì trăng sao hiện sáng, cỏ dại mút mắt, đồng khơng

chẳng có qn trọ, rất là mệt mỏi. Nhìn thấy một ngơi mộ bên đường, muốn nghỉ lại nhưng sợ thú dữ

bèn leo lên cây ngồi. Nghe tiếng thông reo xào xạc, côn trùng tỉ tê, trong lòng thảng thốt, hối hận vơ

cùng. Chợt nghe có tiếng người phía dưới, cúi nhìn thì rõ ràng là một nơi đình viện, có một cơ gái

xinh đẹp ngồi trên phiến đá, hai tỳ nữ xõa tóc cầm đèn lồng đứng hai bên. Người đẹp quay qua bên

trái nói “Đêm nay trăng sáng sao thưa, gói trà cơ Hoa vừa tặng có thể đem pha một ấm uống ngắm

cảnh đêm thanh”. Sinh nghĩ là ma quỷ, rùng mình sởn ốc khống dám thở mạnh. Chợt đứa tỳ nữ ngẩng

nhìn nói "Trên cây có người” Cơ gái giật mình đứng vụt dậy nói “Đứa lớn mật nào dám tới đây nhìn

trộm thế!". Sinh cả sợ, khơng còn chỗ trốn đành tụt xuống, phục xuống đất xin tha. Cô gái tới gần nhìn

qua chợt đổi giận làm vui, kéo dậy cùng ngồi. Sinh liếc nhìn, thấy nàng khoảng mười bảy mười tám,

vẻ người xinh đẹp cómột, nghe giọng nói cũng không phải người ở đây. Nàng hỏi chàng đi đâu, sinh

đáp có người nhờ đưa giúp lá thư. Nàng nói "Đồng hoang nhiều người xấu, nằm sương rất đáng lo,

nếu không hiềm nhà tranh, mời vào nghỉ tạm", rồi đưa sinh vào nhà.

Chỉ có một chiếc giường, nàng sai con hầu sắp hai tấm chăn lên. Sinh thẹn mình xấu xa xin nằm

dưới đất, nàng cười đáp “Khách quý đến nhà, con gái đâu dám nằm cao". Sinh bất đắc dĩ phải nằm

chung giường, nhưng trong lòng sợ sệt khơng dám trở mình. Giây lát cơ gái luồn tay qua chăn xoa nhẹ

vào đùi sinh, sinh giả như ngủ say không biết. Lát sau nàng lại mở chăn ra chui qua lay, sinh vẫn nằm

yên không động. Nàng bèn sờ xuống chỗ kín rồi dừng tay buồn bã, lạng lẽ giở chăn trở dậy, kế nghe

tiếng khóc thút thít. Sinh xấu hổ không sao chịu nổi, chỉ giận trời bắt mình phải khuyết tật mà thơi. Cơ

gái gọi tỳ nữ thắp đèn, tỳ nữ thấy ngấn lệ kinh ngạc hỏi buồn khổ chuyện gì, nàng lắc đầu đáp “Ta tự

xót phận mình thơi!”



Đứa tỳ nữ đứng trước giường nhìn chằm chằm, nàng nói "Gọi y dậy bảo đi đi!". Sinh nghe thế

càng thêm xấu hổ, lại lo đêm hôm tối tăm khơng biết đi đâu. Đang nghĩ ngợi thì một người đàn bà đẩy

cửa bước vào, đứa tỳ nữ nói “Cơ Hoa đã về”. Sinh hé mắt nhìn trộm thấy bà ta tuổi khoảng năm mươi

nhưng còn phong vận. Bà thấy cô gái chưa ngủ liền hỏi duyên cớ, nàng chưa đáp, lại thấy trên giường

có người nằm, bèn hỏi ai nằm cùng giường. Đứa tỳ nữ đáp thay là lúc tối có một chàng trai tới xin ngủ

nhờ, bà ta cười nói “Khơng biết là Xảo Nương vui đuốc hoa” Chợt thấy cô gái nước mắt chưa khô, bà

giật mình nói “Đêm hợp cẩn mà buồn khóc thì khơng hợp, không lẽ lang quân thô bạo sao?”. Cô gái

không đáp, càng thêm buồn bã.

Người đàn bà định kéo áo ra nhìn sinh, vừa kéo thì lá thư rơi ra giường, bà ta cầm lấy nhìn rồi

hoảng sợ nói "Có lẽ là chữ con gái ta” kế mở đọc rồi thở dài. Cô gái hỏi, bà ta đáp “Đây là thư của

con Ba báo tin chàng Ngơ chồng nó đã chết, nay nó trơ trọi khơng nơi nương tựa, biết làm thế nào".

Cơ gái nói “Y có nói là đưa thư giúp ai đó, may mà ta chưa đuổi đi". Bà già gọi sinh dậy, hỏi rõ

nguyên ủy lá thư, sinh kể rõ, bà nói "Làm phiền lặn lội xa xơi, biết lấy gì báo đáp”. Lại ngắm kỹ sinh

rồi cười hỏi sao lại làm trái ý Xảo Nương, sinh đáp khơng biết mình có tội gì. Bà lại hỏi cơ gái, nàng

than "Chỉ thương cho mình lúc sống lấy phải thằng chồng liệt dương, khi chết lại ngủ với đứa bị thiến,

vì thế mà buồn thơi”.

Bà già nhìn sinh nói “Chú nhỏ thơng minh lanh lợi này là trống mà hóa ra lại là mái sao? Đây là

khách của ta, không nên làm lụy người ta lâu”. Liền dẫn sinh qua phòng phía đơng, sờ xuống đũng

quần khám rồi cười nói “Chẳng trách Xảo Nương lại khóc lóc. Nhưng may vẫn có cuống rễ, còn chữa

được". Bèn khêu đèn tìm khắp rương hòm lấy ra một viên thuốc màu đen trao cho sinh bảo nuốt ngay,

lại dặn nhỏ rằng đừng cử động, rồi đi ra. Sinh nằm một mình nghĩ ngợi khơng biết thuốc chữa bệnh gì.

Khoảng canh năm tỉnh dậy, thấy dưới rốn có một luồng hơi nóng xơng thẳng vào chỗ kín, lại lủng lẳng

như có vật gì treo giữa hai đùi, tự sờ xem thì mình đã là đàn ơng hẳn hoi, trong lòng mừng qnh như

[37]



vị quan chợt được ban cửu tích.

Khi ngồi song cửa sổ đã sáng thì người đàn bà bước vào đem bánh hấp cho sinh, dặn cố ngồi yên

rồi khóa cửa ra ngồi nói với Xảo Nương "Y vất vả mang thư tới, hãy giữ lại gọi Tam Nương về cho

nó kết nghĩa chị em, nên phải đóng cửa cho người ta khỏi buồn chán” kế ra cửa đi. Sinh quanh quẩn

trong phòng buồn q, cứ tới khe cửa nhìn ra như con chim ngóng ra ngồi lồng, nhìn thấy Xảo Nương

cũng muốn gọi để nói rõ sự tình, nhưng thẹn vì khó nói lại thơi. Chờ đến khuya người đàn bà mới dẫn

con gái về, mở cửa nói "Để lang quân buồn chết mất rồi. Tam Nương vào cám ơn đi". Cô gái gặp trên

đường trước kia rụt rè bước vào khép nép nhìn sinh, người đàn bà bảo gọi nhau bằng anh em. Xảo

Nương cười nói "Gọi là chị em gái cũng được”. Rồi cùng ra phòng khách ngồi quây quần uống rượu.

Uống được một lúc, Xảo Nương hỏi đùa người hoạn thấy sắc có động lòng khơng, sinh đáp

“Người q khơng qn giày, người lòa khơng qn ngó” mọi người cười rộ. Xảo Nương vì Tam

Nương đi đường mệt nhọc ép phải đi nghỉ. Người đàn bà quay nhìn Tam Nương bảo nằm chung với

sinh. Tam Nương đỏ bừng mặt khơng chịu. Người đàn bà nói “Đây là trượng phu đội khăn mặc yếm

thơi, sợ gì chứ?”. Rồi giục hai người đi ngủ, ngầm dặn sinh rằng "Trong thì làm rể nhưng ngồi làm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trương Thành (Trương Thành)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×