Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhiếp Tiểu Thiến (Nhiếp Tiểu Thiến)

Nhiếp Tiểu Thiến (Nhiếp Tiểu Thiến)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sáng hơm sau có người học trò ở huyện Lan Khê dẫn theo một người đầy tớ tới ở trọ chờ khảo

khóa, đến đêm đột nhiên chết, lòng bàn chân có một lỗ nhỏ như dùi đâm rỉ máu ra, khơng ai biết vì

sao. Qua đêm sau thì người đầy tớ chết, cũng có dấu vết như vậy.

Chiều tối Yến sinh về, Ninh hỏi về chuyện ấy, Yến cho là u tinh nhưng Ninh vốn chính trực cũng

khơng sợ sệt. Nửa đêm cơ gái lại tới, nói với Ninh rằng "Thiếp từng gặp qua nhiều người mà chưa

thấy ai cứng rắn như chàng. Chàng quả là bậc thánh hiền, thiếp không dám lừa dối. Thiếp họ Nhiếp tên

Tiểu Thiến, chết yểu năm mười tám tuổi, chôn ở cạnh chùa, bị yêu tinh bắt làm những việc hèn hạ, mặt

dày ôi gặp người, thật lòng rất khơng thích. Nay trong chùa khơng còn ai có thể giết được, sợ sẽ sai

quỷ Dạ Xoa tới hại chàng". Ninh hoảng sợ xin chỉ cách thốt thân, cơ gái nói “Chàng cứ ở chung một

phòng với Yến sinh thì thốt”. Ninh hỏi sao khơng dụ dỗ Yến sinh, nàng đáp "ông ta là bậc kỳ nhân

nên không dám tới gần".

Lại hỏi làm cách nào để dụ dỗ người ta, nàng đáp "Ai ôm ấp ta, ta sẽ lén đâm dùi vào chân cho

lập tức mê man rồi hút lấy máu dâng yêu tinh uống. Có khi đưa vàng cho họ, thật ra khơng phải là vàng

mà là xương quỷ La Sát, lưu lại để moi lấy tim gan. Hai cách ấy cùng làm được cả thì tốt nhất”. Ninh

cảm tạ, hỏi phải phòng bị vào lúc nào, nàng đáp là đêm mai. Khi từ biệt, nàng khóc nói “Thiếp rơi

xuống bể khổ, muốn tìm bờ lên mà khơng được. Chàng nghĩa khí xơng mây, ắt có thể cứu thiếp, nếu có

thể đem nắm xương tàn của thiếp về chôn cho mồ yên mả đẹp thì còn hơn cả ơn tái tạo". Ninh quả

quyết nhận lời, nhân hỏi mộ ở đâu, nàng đáp "Cứ ra chỗ cây bạch dương, trên ngọn có tổ quạ là đúng”

dứt lời bước ra cửa biến mất.

Hôm sau Ninh sợ Yến đi vắng, sáng sớm đã mời qua chơi, gần trưa thì sữa soạn cơm rượu mời

mọc, để ý quan sát Yến, kế hẹn tối ngủ chung phòng. Yến lấy cớ thích n tĩnh để từ chối, Ninh khơng

nghe, ép phải mang giường chiếu qua. Yến bất đắc dĩ theo lời, dặn rằng “Ta biết túc hạ là bậc trượng

phu nên rất kính mộ phong độ. Nhưng có chút niềm riêng khó thưa ngay được, vậy xin đừng nhìn vào

cái tráp của ta, nếu không cả hai chúng ta đều bất lợi”. Ninh kính cẩn vâng lời, kế đều đi nghỉ.

Yến để cái tráp trên cửa sổ, vừa ngả lưng một lát đã ngáy vang như sấm, Ninh thì khơng ngủ được.

Khoảng gần hết canh một thì có bóng người thấp thống ngồi cửa sổ, giây lát tới gần cửa sổ nhìn vào,

mắt sáng rừng rực. Ninh khiếp sợ đang định gọi Yến, chợt có một vật sáng lống như giải lụa xé cái

tráp bắn ra tiện đứt chấn song cửa sổ bằng đá, lóe sáng một cái rồi quay ngay vào tráp như ánh chớp

tắt ngấm. Yến biết trở dậy, Ninh giả ngủ nhìn ra thấy Yến bưng cái tráp lấy vật ấy ra vừa săm soi dưới

ánh trăng vừa hít ngửi, ánh sáng lóng lánh, dài khoảng hai tấc, mỏng như lá hành, kế bọc lại mấy lớp

cho vào cái tráp thủng, lẩm bẩm "Không biết con quỷ già nào mà lớn mật làm hỏng cái tráp của ta” rồi

lại đi nằm.

Ninh lấy làm lạ trở dậy hỏi, kể những điều mình thấy. Yến đáp “Đã là bạn tri giao, sao còn dám

giấu diếm, ta là kiếm khách đây. Nếu khơng vướng cái chấn song đá thì u tinh phải chết ngay lập

tức, nhưng như thế cũng bị thương rồi”. Ninh hỏi vật cất đi là cái gì Yến đáp "Đó là thanh kiếm, vừa

ngửi thấy có yêu khí". Ninh muốn xem thử, Yến rút ra một thanh đoản kiếm lấp lánh, Ninh vì vậy càng

thêm kính phục.



Hơm sau Ninh xem ngồi cửa sổ thấy có vết máu, ra phía bắc chùa thấy một nấm mộ hoang, bên

cạnh quả có cây bạch dương trên ngọn có tổ quạ. Khi việc đã xong Ninh thu xếp hành trang trở về,

Yến sinh bày tiệc tiễn rất ân cần, tặng Ninh một cái bao da rách, dặn "Đây là cái bao kiếm, giữ kỹ thì

lũ yêu tinh phải tránh xa” Ninh muốn theo học đạo, Yến nói "Người tín nghĩa cương trực như ơng có

thể học được, nhưng ơng là người trong trường phú quý chứ không phải là người trong mạch đạo".

Ninh nói thác là có em gái chơn ở đó đào mộ cơ gái lấy hài cốt gói lại th thuyền đem về q.

Phòng sách của Ninh nhìn ra cánh đồng, nhân chơn cất nàng ngay phía ngồi, cúng tế khấn rằng

"Thương nàng hồn ma lẻ loi nên chôn cạnh nhà, khi ca khi khóc đều nghe cho khỏi bị lũ quỷ mạnh làm

nhục. Có bát nước mưa mời uống, chưa được ngọt trong cũng mong đừng trách". Khấn xong quay về

nghe phía sau có người gọi "Xin đợi cùng về", ngối nhìn thì là Tiểu Thiến. Nàng vui vẻ cảm tạ, nói

“Chàng là bậc tín nghĩa, thiếp có chết mười lần cũng không đủ đền đáp. Xin theo về ra mắt cha mẹ

chồng, dù làm đứa ở con đòi cũng cam lòng".

Ninh nhìn kỹ thấy nàng da ửng màu ráng hồng, chân thon như búp măng, nhìn ban ngày càng xinh

đẹp bèn dẫn về phòng sách, dặn ngồi đợi rồi vào trước thưa với mẹ. Mẹ ngạc nhiên, lúc ấy vợ Ninh

ốm đã lâu bèn bảo đừng nói ra vì sợ nàng kinh hãi. Vừa nói xong thì cơ gái nhẹ nhàng bước vào sụp

lạy, Ninh nói "Đây là Tiểu Thiến". Bà mẹ hoảng sợ nhìn nàng lo ngại, Tiểu Thiến nói "Con lênh đênh

một mình, xa cha mẹ anh em, nay đội ơn công tử che chở tái tạo, nguyện sửa túi nâng khăn để báo cao

nghĩa". Bà mẹ thấy nàng xinh xắn đáng yêu mới dám trò chuyện, nói "Nương tử ra ơn chiếu cố cho con

ta, già này rất mừng. Nhưng bình sinh chỉ có đứa con trai này để nối dõi tông đường, không dám cho

nó lấy vợ ma". Cơ gái nói "Con thật khơng dám hai lòng. Người đã chết khơng đủ để mẹ tin cậy thì xin

thờ chàng làmanh, nương tựa nơi mẹ để sớm hơm hầu hạ có được khơng?".

Mẹ thương nàng thành tâm bèn bằng lòng, nàng muốn vào lạy chào chị dâu nhung mẹ lấy cớ con

dâu đang ốm từ chối. Nàng liền xuống bếp thay mẹ lo cơm nước, lên xuống ra vào như người trong

nhà. Tối đến bà mẹ e sợ, từ chối về phòng ngủ, khơng đặt giường cho nàng. Cô gái biết ý bà liền trở

ra, ngang qua phòng sách định vào nhưng cứ ngập ngừng ngồi cửa như có điều sợ sệt. Ninh gọi vào,

nàng nói “Trong phòng có kiếm khí ghê người, nãy giờ qua lại khơng dám vào gặp chàng là vì thế".

Ninh biết là vì cái bao da, liền đem qua phòng khác treo, cơ gái mới vào, tới ngồi cạnh đèn một lúc

khơng nói gì. Hồi lâu mới hỏi "Tối đến chàng có đọc sách khơng? Lúc nhỏ thiếp có học kinh Lăng

nghiêm, nay đã quên quá nửa. Xin cho mượn một quyển, tối rảnh nhờ chỉ cho", Ninh nhận lời.

Nàng lại ngồi im lặng, gần hết canh hai vẫn khơng đi, Ninh giục thì buồn rầu nói "Hồn cơi ở xứ lạ

sợ nấm mồ hoang lắm". Ninh nói “Trong phòng sách khơng có giường nằm, vả lại anh trai em gái cũng

nên tránh hiềm nghi". Cô gái đứng dậy, mặt ủ mày chau như muốn khóc, ngần ngừ bước ra cửa, xuống

tới thềm thì biến mất. Ninh thầm thương xót, muốn lưu nàng lại ngủ giường khác nhưng lại sợ mẹ

mắng. Từ đó cơ gái sớm chiều tới hầu mẹ, bưng chậu múc nước rồi ra làm việc nhà, không việc nào

không theo ý mẹ, chập tối cáo lui qua phòng sách thắp đèn tụng kinh, đến khi Ninh sắp đi ngủ mới

buồn rầu trở ra.

Trước là vợ Ninh ốm nặng bỏ hết việc nhà, bà mẹ vất vả không sao chịu nổi, từ khi cô gái tới mới



được thong thả nên trong lòng biết ơn nàng. Lâu dần thì u q như con ruột, qn ln việc nàng là

ma, chiều tối không nỡ bắt nàng phải ra khỏi nhà nên giữ lại ngủ cùng. Cô gái lúc mới tới khơng ăn

uống gì, nửa năm mới dần dần hớp qua canh cháo, mẹ con Ninh đều rất thương yêu, kiêng nói tới

chuyện ma quỷ nên mọi người cũng khơng ai biết. Không bao lâu vợ Ninh chết, bà mẹ ngầm có ý cưới

Tiểu Thiến cho con trai nhưng lại sợ mang hại. Nàng biết ý, nhân lúc rảnh rỗi nói với bà “Con ở đây

đã hơn một năm, chắc mẹ đã hiểu lòng con khơng muốn hại người nên một lòng theo cơng tử khơng có

ý khác. Chỉ vì thấy công tử quang minh lỗi lạc, trời người đều phục nên thật lòng muốn nương tựa giúp

đỡ để vài ba năm nữa nhờ cậy được chút sắc phong cho vẻ vang dưới suối vàng". Bà mẹ cũng biết

nàng không độc ác nhưng còn lo khơng có cháu nối dõi, cơ gái nói "Con cái là do trời cho, tên chàng

đã được ghi trong sổ phúc, có ba con trai, khơng vì lấy vợ ma mà bị cắt giảm".

Mẹ tin lời bàn với con trai, Ninh mừng lắm bày tiệc báo cho thân thích bè bạn. Có người xin nhìn

mặt cô dâu mới, cô gái thản nhiên trang điểm lộng lẫy bước ra, cả tiệc đều tròn mắt nhìn, khơng nghĩ

là ma mà ngờ là tiên. Vì vậy họ hàng nội ngoại đều mang lễ vật tới đến mừng, tranh nhau làm quen. Cô

gái giỏi vẽ hoa lan hoa mai, cứ vẽ ra đưa tặng để đáp lễ, người được tặng đều trân trọng cất kỹ, lấy

làm vinh dự.

Một hôm cơ gái cúi đầu đứng bên song cửa sổ có vẻ lo lắng buồn bã, kế chợt hỏi cái bao da để

đâu Ninh đáp “nàng sợ hãi nên ta gói cất ở chỗ khác". Nàng nói "Thiếp nhận được sinh khí người sống

đã lâu nên khơng còn sợ nữa, chàng nên đem ra treo ở đầu giường". Ninh hỏi làm thế là có ý gì nàng

đáp "Ba hơm nay trong lòng thiếp cứ hồi hộp khơng n, có lẽ bọn yêu tinh ở Kim Hoa hận thiếp bỏ

trốn đi xa, e sớm chiều sẽ tìm tới đây". Ninh đem cái bao da ra, cơ gái lật đi lật lại nhìn kỹ rồi nói

"Cái này là bậc kiếm tiên dùng để bắt ma quỷ, rách nát đến thế này không biết đã giết bao nhiêu rồi.

Hơm nay thiếp nhìn thấy còn rợn cả người", rồi đem treo lên.

Hôm sau nàng lại bảo Ninh đem treo trên cửa, đến tối ra ngồi bên đèn, dặn Ninh đừng ngủ. Chợt

có một vật như con chim bay rơi xuống, nàng hoảng sợ nép vào sau tấm rèm, Ninh nhìn ra thấy hình

dáng nó như quỷ Dạ Xoa, mắt lóe như chớp, miệng đỏ như máu, tay quờ quạng như sắp chộp bắt ai

tiến thẳng tới trước cửa, dừng lại hồi lâu rồi tới gần cái bao da, quờ móng giật lấy như muốn xé rách.

Cái bao chợt kêu soạt một tiếng, thấp thoáng như có nửa mình quỷ bên trong nhơ ra nắm Dạ Xoa kéo

vào, tiếng động tắt ngay mà cái bao cũng co lại như cũ. Ninh hoảng sợ, cô gái cũng bước ra mừng rỡ

nói “Hết lo rồi!". Cùng nhìn vào bao, chỉ thấy có vài đấu nước trong mà thơi.

Vài năm sau quả nhiên Ninh thi đỗ Tiến sĩ, sinh được một con trai. Sau khi Ninh lấy vợ lẽ, mỗi vợ

lại sinh một trai nữa, ba con sau đều làm quan, rất có danh tiếng.



020. Cỏ Thủy Mãng (Thủy Mãng Thảo)

Thủy mãng là loài cỏ độc, mọc như dây leo, hoa tím như đậu ván, ai lầm ăn vào là chết ngay, hóa

thành ma thủy mãng. Tục truyền ma ấy khơng được ln hồi, phải có người khác trúng độc chết thay

vào mới được thác sinh, vì vậy suốt một dải sông Đào Hoa ở đất Sở Trung (vùng Hồ Nam) có rất

nhiều ma ấy.

Người Sở nếu sinh cùng năm thì gọi là đồng niên, đưa thiếp ra mắt gọi nhau là canh huynh canh

đệ, hàng con cháu thì gọi bề trên là canh bá, quen lệ thành như thế. Có Chúc sinh đi thăm bạn đồng

niên, trên đường khát nước, chợt thấy bên đường có bà già bày qn thí nước liền rảo bước tới. Bà

già đón vào rót nước mời mọc ân cần, sinh thấy có mùi lạ không giống mùi trà bèn đặt xuống không

uống mà đứng dậy đi ra. Bà già vội giữ khách lại rồi gọi “Tam Nương, pha một chén trà ngon đem ra

đây”. Giây lát có một thiếu nữ bưng trà từ sau quán bước ra, tuổi khoảng mười bốn mười lăm, nhan

sắc tuyệt đẹp, ngón tay đeo nhẫn, cổ tay đeo xuyến sáng loáng. Sinh đỡ lấy chén trà, tâm thần ngây

ngất, ngửi thấy thơm phức liền uống cạn, lại xin chén nữa. Thừa lúc bà già đi ra bèn đùa nắm tay cô

gái, tháo một chiếc nhẫn. Nàng đỏ mặt mỉm cười, sinh càng mê mệt bèn hỏi qua nhà cửa. Cơ gái nói

“Tối chàng tới thì thiếp còn ở đây".

Sinh xin một nắm trà, lại cất luôn chiếc nhẫn ra đi. Tới nhà bạn đồng niên thì thấy bụng đau quặn,

ngờ là vì nước trà bèn kể cho bạn nghe. Bạn hoảng sợ nói “Chết rồi, đó là ma thủy mãng. Cha ta ngày

xưa cũng chết vì nó, khơng thể cứu được, làm sao bây giờ”. Sinh cả sợ dưa gói trà cho bạn xem thì

đúng là cỏ thủy mãng. Lại đưa chiếc nhẫn ra, tả lại hình dáng cơ gái, người bạn ngẫm nghĩ rồi nói "Đó

ắt là Khấu Tam Nương". Sinh thấy đúng tên liền hỏi vì sao biết, bạn đáp "Cô ta là con gái họ Khấu ở

thôn Nam, nổi tiếng xinh đẹp, mấy năm trước ăn lầm cỏ thủy mãng mà chết, ắt đã làm ma. Có người

nói ai bị ma ấy hại, nếu biết được tên họ mà tới nhà xin được cái quần cũ nó mặc đem về nấu nước

uống thì có thể khỏi".

Bạn vội tới nhà họ.

Khấu kể rõ tình thật, lạy lục năn nỉ. Khấu nghĩ Chúc sinh chết thì con gái mình sẽ được đầu thai

nên khơng cho, người bạn tức giận về kể lại. Sinh cũng nghiến răng căm hờn nói "Ta chết rồi quyết

khơng cho con gái y đi đầu thai". Người bạn cáng sinh về, gần tới cổng nhà thì chết, mẹ sinh khóc lóc

chơn cất con trai. Sinh để lại một con trai vừa đầy năm, vợ không thủ tiết được, nửa năm sau bỏ đi lấy

chồng khác. Mẹ sinh giữ cháu nội lại nuôi nấng, vất vả khơng sao chịu nổi, sớm tối đau xót khóc lóc.

Một hơm bà đang bế cháu khóc lóc trong phòng chợt sinh sừng sững bước vào. Mẹ cả sợ gạt nước

mắt hỏi, sinh nói "Con ở dưới đất nghe mẹ khóc rất đau xót nên trở về để sớm hôm hầu hạ mẹ thôi.

Con tuy chết nhưng đã lấy vợ, nay cũng về cùng để giúp đỡ mẹ, mẹ đừng buồn nữa". Mẹ hỏi vợ là ai,

sinh nói "Họ Khấu để mặc cho con chết, con rất căm hận, sau khi chết muốn tìm Tam Nương nhưng

khơng biết nàng ở đâu. Mới rồi gặp canh bá Mỗ chỉ cho, con tới thì Tam Nương đã đầu thai vào nhà

quan Thị lang họ Nhiệm. Con đuổi theo bắt nàng trở lại, nay đã làm vợ con, cũng tâm đầu ý hợp khơng



có gì khổ". Giây lát có một cơ gái ăn mặc lộng lẫy bước vào quỳ xương lạy mẹ, sinh nói “Đây là Khấu

Tam Nương". Tuy hai vợ chồng khơng phải là người sống nhưng mẹ nhìn thấy cũng được an ủi, sinh

bèn sai Tam Nương làm việc nhà. Tam Nương khơng quen làm lụng nhưng rất ngoan ngỗn với mẹ

chồng, từ đó vào ở ln phòng sinh cũ không đi. Cô gái xin mẹ báo tin cho nhà mình biết, sinh khơng

muốn nhưng mẹ chiều ý con dâu nên báo cho họ Khấu.

Ông bà Khấu nghe tin cả sợ, thắng xe kiệu tới ngay, vào thấy đúng là Tam Nương, nhìn nhau khóc

lạc cả giọng, cơ gái khun mãi mới nín. Bà Khấu thấy nhà sinh nghèo quá có ý thương xót con gái,

nàng nói “Con đã là ma thì sợ gì nghèo. Huống hồ mẹ con Chúc lang đối xử với con rất có tình nghĩa,

con đã yên phận rồi". Bà Khấu nhân hỏi bà già bán trà là ai, nàng đáp "Bà ta họ Nghê, tự thẹn già nua

không dụ dỗ được khách đi đường nên nhờ con giúp cho thôi, nay đã thác sinh vào một nhà bán rượu

trong thành". Kế quay lại nhìn sinh nói "Chàng đã làm rể mà khơng lạy cha mẹ vợ thì thiếp còn lòng dạ

nào?", Sinh liền lạy chào. Cô gái bèn vào bếp giúp mẹ chồng nấu cơm đãi thơng gia. Họ Khấu thấy thế

thương xót, khi trở về liền sai hai tỳ nữ tới hầu hạ, gởi thêm trăm cân vàng, vài mươi tấm lụa, thỉnh

thoảng lại tặng biếu rượu thịt, mẹ Chúc sinh trở nên dư dật. Họ Khấu cũng thỉnh thoảng gọi nàng về

thăm nhà, nhưng cứ ở vài ngày thì nàng nói "ở nhà khơng có ai, nên để con về sớm", nếu cố giữ lại thì

nàng lãng đãng tự về. Ơng Khấu xây cất nhà cửu cho Chúc sinh rất tươm tất, nhưng rốt lại sinh vẫn

không hề tới nhà cha mẹ vợ.

Một hơm trong làng có người trúng độc cỏ thủy mãng chết nhưng lại sống lại, người ta đồn là

chuyện lạ. Sinh nói "Đó là ta cứu sống đấy, y bị con ma Lý Cửu làm hại, ta đã đuổi nó đi giúp". Mẹ

hỏi "Sao con khơng tìm người khác thay thế cho mình?", sinh đáp "Con rất căm thù bọn ấy đang định

diệt trừ cho bằng hết, đâu lại làm như chúng. Vả lại con được thờ mẹ là vui lắm rồi, khơng muốn đầu

thai nữa".

Từ đó về sau, những người trúng độc thường bày cỗ bàn giữa sân khấn vái sinh, đều thấy hiệu

nghiệm. Trải hơn mười năm, bà mẹ qua đời, vợ chồng cũng để tang nhưng không ra tiếp khách, chỉ sai

con mặc sô chống gậy làm lễ chôn cất mà thôi. Chôn cất mẹ xong, lại ở hơn hai năm rồi cưới vợ cho

con, nàng dâu là cháu nội Thị lang họ Nhiệm. Trước là người thiếp của ông Nhiệm sinh được đứa con

gái vài tháng thì chết, sau nghe chuyện lạ của vợ Chúc bèn sai thắng kiệu tới nhà nhận sinh làm con rể.

Đến lúc ấy lại gả cháu nội cho con sinh, hai nhà qua lại nhau khơng dứt.

Một hơm sinh nói với con "Thượng đế xét ta có cơng với người đời nên phong làm Tứ độc Mục

Long quân, nay ta đi đây” Giây lát thấy giữa sân có bốn con ngựa tháng xe mui vàng, chân ngựa đều

mọc vảy, hai vợ chồng ăn mặc đẹp đẽ bước ra cùng lên xe. Vợ chồng con trai khóc lạy đưa tiễn, trong

chớp mắt đều biến mất. Hôm ấy nhà họ Khấu thấy con gái về từ giã cha mẹ, cũng nói như lời sinh. Bà

Khấu khóc giữ lại nàng nói "Chúc lang đi trước rồi", rồi bước ra cửa biến mất. Con trai sinh tên

Ngạc, tự Ly Trần, tới xin ông Khấu cho lấy hài cốt Tam Nương về hợp táng với sinh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhiếp Tiểu Thiến (Nhiếp Tiểu Thiến)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×