Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phán Quan Họ Lục (Lục Phán)

Phán Quan Họ Lục (Lục Phán)

Tải bản đầy đủ - 0trang

khiếu không thông, vừa rồi ta chọn được một quả tim tốt trong ngàn muôn quả dưới âm ty để thay cho

ơng, còn quả này để bù vào đó", rồi đứng dậy khép cửa đi.

Trời sáng Chu cởi áo xem thì vết rạch đã liền da, chỉ còn như vết chỉ đỏ, từ đó học hành tấn tới,

sách vở đọc qua là nhớ không quên. Vài hôm sau đưa văn cho Lục xem, Lục nói “Được rồi, nhưng ơng

phúc mỏng không hiển đạt lớn được, chỉ đỗ thi hương thôi". Chu hỏi bao giờ đỗ, Lục đáp "Năm nay ắt

đỗ đầu" Khơng bao lâu Chu thi khảo khóa đứng đầu, kế thi hương cũng lại đỗ đầu. Các bạn học vốn

coi thường Chu, đến lúc đọc bài thi của Chu đều nhìn nhau kinh ngạc, hỏi kỹ mới rõ chuyện lạ, bèn

nhờ Chu nói trước để xin làm quen với Lục.

Lục nhận lời, mọi người chuẩn bị tiệc rượu thịnh soạn để đợi, hết canh một thì Lục tới, hàm râu đỏ

lay động, mắt sáng quắc như chớp. Mọi người khiếp đảm, răng đánh vào nhau lập cập, dần dần rút lui

hết. Chu bèn dẫn Lục về nhà cùng uống rượu, khi đã ngà ngà say Chu nói "Được nhờ ơn lớn rửa ruột

thay tim, nay lại có việc muốn làm phiền, không biết được không". Lục xin cho biết, Chu nói "Đổi

được tim ruột thì trộm nghĩ mặt mũi cũng thay được. Vợ ta thì phần thân thể khơng đến nỗi xấu, duy

mặt mũi thì khơng được đẹp lắm, nếu muốn phiền đến lưỡi dao của ơng thì thế nào?". Lục cười đáp

"Được thơi, nhưng để ta tính".

Qua mấy hôm, nửa đêm Lục tới gọi cửa, Chu vội trở dậy mời vào, thắp đèn lên thấy có bọc một

vật trong vạt áo. Hỏi thì Lục đáp "Hơm trước ơng dặn kể cũng khó tìm, nhưng vừa may được cái đầu

mỹ nhân, xin đem tới để phụng mệnh”. Chu mở ra xem, thấy máu trên cổ còn ướt. Lục giục vào ngay

đừng để gà chó kinh động. Chu lo ban đêm vợ đóng cửa phòng nhưng Lục vào đẩy một cái thì cánh

cửa mở ra ngay. Chu dẫn vào giường, thấy vợ đang nằm nghiêng mà ngủ, Lục đưa cái đầu cho Chu

cầm rồi rút trong giày ra một lưỡi dao sáng loáng như thanh chủy thủ đặt lên cổ vợ Chu dùng sức ấn

xuống như bổ dưa, cái đầu theo lưỡi dao rơi xuống cạnh gối. Lục vội đỡ cái bọc từ tay Chu, lấy cái

đầu mỹ nhân ra gắn lên cổ, ướm cho thật ngay rồi xoa miết cho liền vết, kế đặt gối đỡ vào dưới vai vợ

Chu, bảo Chu đem đầu vợ chôn ở nơi sạch sẽ rồi đi. Vợ Chu tỉnh dậy thấy cổ hơi ngứa, sờ thấy vết

máu khô sợ quá sai đứa tỳ nữ múc nước rửa mặt, đứa tỳ nữ thấy mặt vợ Chu máu me bê bết cũng phát

hoảng, rửa xong nước trong chậu đỏ lòm, ngẩng đầu lên thấy mặt mày khác hẳn lại càng khiếp sợ. Vợ

Chu soi gương cũng ngơ ngác khơng hiểu vì sao, Chu vào kể lại mọi chuyện, nhân nhìn kỹ thì thấy lơng

mày dài tới gần chân tóc, nụ cười tươi tắn như người trong tranh. Nhìn tới cổ thấy còn một ngấn đỏ

vòng quanh, hai phần trên dưới màu da khác hẳn nhau.

Nguyên là quan Thị ngự họ Ngơ có người con gái rất xinh đẹp, có hai người hỏi xong chưa kịp

cưới đều chết nên mười chín tuổi vẫn chưa có chồng. Nhân tiết Thượng nguyên nàng đi chơi điện

Thập Vương, người đi chơi chen chúc, trong có một tên vơ lại thấy nàng xinh đẹp bèn ngầm hỏi nhà

cửa. Kế nhân đêm tối bắc thang leo vào, đào ngạch vào phòng ngủ, giết một tỳ nữ nằm dưới giường

rồi ép cô gái giao hoan. Cô gái cố sức chống cụ la lớn, y tức giận giết ln. Ngơ phu nhân thống nghe

tiếng, bảo tỳ nữ tới xem, thấy xác chết sợ mất vía. Cả nhà đều trở dậy, đem xác nàng đặt trên sảnh, để

cái đầu bên cạnh khóc lóc ầm ĩ suốt đêm. Đến sáng mở chăn ra thì thân vẫn còn mà đầu thì biến mất,

bọn tỳ nữ bị đánh đòn suốt lượt vì tội canh giữ bất cẩn để chó ăn mất cái đầu.



Thị ngự trình lên quận, quan ra nghiêm hạn tìm bắt hung thủ, qua ba tháng vẫn khơng tìm ra được.

Dần dần có người đem việc đổi đầu kỳ lạ ở nhà họ Chu kể cho ông Ngô nghe, Ngô ngờ vực sai người

vú già tới thăm dò, bà ta vào nhà Chu nhìn thấy phu nhân hoảng sợ chạy về báo với. Ơng Ngơ thấy xác

con gái vẫn còn, kinh nghi khơng hiểu vì sao, nghĩ là Chu dùng tà thuật giết chết con gái bèn tới cật

vấn. Chu nói “Vợ ta nằm mơ thấy đổi đầu, thật cũng khơng hiểu vì sao, nếu nói là ta giết tiểu thư thì

oan lắm". Ngơ khơng tin bèn kiện lên quan, quan bắt người nhà Chu tra vấn thì họ đều khai như lời

Chu nói, quận thú không sao xét xử được.

Chu trở về hỏi kế Lục, Lục nói "Khơng khó gì, để bảo con gái y tự nói ra". Ban đêm Ngơ mơ thấy

con gái về nói “Con bị tên Dương Đại Niên ở Tơ Khê giết chứ khơng can gì tới Hiếu liêm họ Chu, vì

ơng ta thấy vợ khơng đẹp nên Phán quan họ Lục lấy đầu con thay vào, thế thì tuy thân con chết mà đầu

vẫn sống, xin đừng thù oán họ”. Ngô tỉnh dậy kể cho phu nhân, phu nhân cũng mơ thấy như thế bèn lên

thưa với quan. Hỏi ra quả có tên Dương Đại Niên bèn bắt lên tra khảo, y liền nhận tội. Ngô bèn tới

nhà Chu xin gặp phu nhân, từ đó coi Chu như con rể rồi đem đầu vợ Chu về chôn với xác con gái.

Chu ba lần vào kinh thi hội nhưng đều phạm trường quy bị đánh rớt, từ đó cơng danh nguội lạnh,

suốt ba mươi năm. Một đêm Lục nói “Ơng khơng còn thọ lâu nữa đâu”, Chu hỏi đến lúc nào, Lục đáp

trong năm ngày nữa. Chu hỏi có thể cứu nhau được khơng, Lục đáp "Đó là mệnh trời, ai mà thiên vị

riêng tư được. Vả lại lấy con mắt đạt nhân mà xem thì sống chết cũng như nhau, cần gì phải sống thì

vui mà chết thì buồn".

Chu cho là đúng, liền cho chuẩn bị quần áo quan quách rồi ăn mặc chỉnh tề mà chết. Hôm sau phu

nhân đang khóc ở bên quan tài bỗng Chu từ ngồi đi nhanh vào, phu nhân hoảng sợ, Chu nói "Ta đúng

là ma nhưng cũng khơng khác gì lúc sống, nghĩ tới nàng mẹ góa con cơi nên quyến luyến thơi". Phu

nhân đau lòng chảy nước mắt ròng ròng, Chu cố gắng an ủi. Phu nhân nói "Xưa có việc hồn hồn sống

lại, chàng đã linh thiêng sao khơng làm thế”. Chu nói “Số trời khơng thể trái được”. Phu nhân lại hỏi

làm việc gì dưới âm ty, Chu đáp "Phán quan họ Lục tiến cử ta giữ chức đôn đốc việc án, được trao

quan tước cũng chẳng có gì khổ". Phu nhân còn muốn hỏi chuyện thì Chu nói "Ông Lục cùng về với ta,

nàng dọn cho mâm rượu”, rồi rảo bước đi ra. Phu nhân theo lời dọn rượu, chỉ nghe nhà ngồi có tiếng

cười nói uống rượu, ăn to nói lớn hệt như lúc sống, nửa đêm ra nhìn thì đã đi mất.

Từ đó cứ vài ba ngày Chu lại về một lần, có khi ở lại gần gũi với vợ, chỉ vẽ cho các việc trong

nhà. Con trai là Vĩ lúc ấy mới năm tuổi, Chu về là bế ẵm, năm bảy tám tuổi đêm đêm vẫn được cha

dạy học cho. Đứa con cũng thông minh, chín tuổi đã biết làm văn, mười lăm tuổi được vào học trường

huyện nhưng vẫn khơng biết mình mồ cơi cha. Nhưng từ đó Chu về cũng thưa dần, có khi cả tháng mới

về. Một đêm về nói với phu nhân “Từ nay thì cùng nàng vĩnh biệt". Phu nhân hỏi đi đâu, Chu đáp “Ta

được Thượng đế cho làm Thái Hoa khanh, sắp phải đi xa, việc bận đường xa nên không thể về được

nữa". Hai mẹ con ôm Chu khóc lóc, Chu nói "Đừng thế! Con trai đã khơn lớn, gia sản cũng đủ sống,

mà có ai sau trăm tuổi khơng phải loan phượng chia lìa”, kế nhìn con nói “Con sống đừng làm hư sự

nghiệp của cha, mười năm nữa sẽ có lần gặp nhau”, rồi ra cửa đi thẳng, từ đó khơng về nữa.

Về sau Vĩ hai mươi lăm tuổi thi đỗ Tiến sĩ, làm quan tới chức Hành nhân, phụng mệnh ra tế Tây



Nhạc, đường đi ngang qua Hoa âm bỗng có tốn xe kiệu cờ lọng rong ruổi xơng vào giữa đồn nghi

trượng. Kinh ngạc nhìn kỹ thì người trong xe là cha, bèn xuống ngựa khóc lạy bên đường. Cha dừng xe

nói "Con làm quan có tiếng tốt, ta nhắm mắt được rồi!". Vĩ quỳ rạp không đứng lên, Chu giục xe đi

như bay khơng ngoảnh lại, được mấy bước quay nhìn rồi cởi thanh bội đao sai người cầm lại cho con,

từ xa nói "Đeo vào thì sẽ được q hiển”. Vĩ muốn chạy theo thì thấy xe kiệu người ngựa lướt đi như

gió, trong chớp mắt đã mất hút, đau xót hồi lâu. Rút thanh đao ra xem thấy chế tác rất tinh xảo, khắc

một hàng chữ "Hành sự cần quả quyết, suy xét cần thận trọng, kiến thức cần đầy đủ, đức hạnh cần trọn

[29]



vẹn”.

Vĩ sau làm quan tới chức Tư mã, sinh năm con trai là Trầm, Tiềm, Vẫn, Hồn, Thâm. Một đêm mơ

thấy cha về nói "Thanh bội đao nên cho thằng Hồn”. Vĩ theo lời. Hồn sau làm quan tới chức Tổng

đốc, có tiếng về chính tích tốt.

Dị Sử thị nói: Cắt ngắn cổ hạc, nối dài chân le là lời gian dối, nhưng Dời đổi hoa lá, nối thêm

gốc rễ thì thật kỳ lạ, huống hồ là việc đem rìu búa mổ gan ruột, lấy dao cưa cắt đầu cổ sao? Như

ơng Lục có thể nói là người diện mạo xấu xí mà lòng dạ đẹp đẽ vậy Từ cuối thời Minh đến nay

năm tháng chưa xa, ơng Lục ở Lăng Dương còn khơng? Khơng biết có còn linh thiêng khơng? Ta

muốn cầm roi theo hầu, vì rất hâm mộ ơng ta.



Quyển II



018. Anh Ninh (Anh Ninh)

Vương Tử Phục người đất La Điếm huyện Lữ (tỉnh Sơn Đông) mồ côi cha sớm, rất thông minh,

mười bốn tuổi được vào học trường huyện. Mẹ rất thương yêu, bình thường khơng cho đi chơi ra

ngồi đồng ruộng. Đã dạm hỏi Tiêu thị nhưng chưa cưới thì nàng chết sớm nên chưa thành gia thất.

Gặp tiết Thượng nguyên có con trai ông cậu là Ngô sinh tới rủ đi chơi, vừa ra tới đầu làng thì đầy tớ

nhà cậu tới gọi Ngô về, sinh thấy con gái đi chơi rất đơng cũng cao hứng đi chơi một mình. Có một cô

gái dắt tỳ nữ theo, cầm một cành hoa mai, dung mạo tuyệt thế, tươi cười rạng rỡ, sinh nhìn chằm chằm

qn cả việc giữ ý. Cơ gái đi vượt lên mấy bước, ngoảnh lại nói với tỳ nữ “Anh chàng này mắt nhìn

chòng chọc cứ như giặc” rồi vứt cành hoa xuống đất, cười nói đi mất.

Sinh nhặt cành hoa buồn bã, thần hồn ngơ ngẩn thẫn thờ quay về. Tới nhà cất cành hoa dưới gối,

gối lên mà ngủ, khơng nói năng cũng khơng ăn uống. Mẹ lo lắng khấn vái cầu cúng nhưng bệnh sinh

càng nặng, chỉ còn da bọc xương. Thầy thuốc thăm bệnh, cắt cho thang phát tán nhưng sinh cứ thất thần

như người mê. Mẹ dỗ dành hỏi vì sao thì lặng im không đáp, gặp lúc Ngô sinh tới bà bèn nhờ kín đáo

hỏi giùm. Ngơ tới trước giường, sinh nhìn thấy thì rơi nước mắt, Ngơ ngồi lên giường an ủi, lân la hỏi

han. Sinh bèn kể thật rồi nhờ lo giùm, Ngơ cười nói "Ơng thật ngây q, chuyện đó thì có gì là khó

toại nguyện chứ, để ta hỏi giúp cho. Đi bộ trên đồng ắt không phải là con nhà thế gia, nếu chưa hứa gả

cho ai thì thế nào cũng xong, còn nếu khơng cứ bỏ nhiều tiền ra thì muốn sao cũng được. Chỉ cốt là

ơng khỏi bệnh, ta sẽ lo cả cho".

Sinh nghe thế bất giác tươi cười, Ngơ ra nói với mẹ sinh tìm hỏi làng xóm của cơ gái, nhưng hỏi

han khắp nơi vẫn khơng thấy tung tích. Mẹ lo lắm khơng biết tính sao, nhưng sau khi Ngơ về thì sinh có

vẻ tươi tỉnh, ăn uống khá hơn. Vài hôm sau Ngô lại tới, sinh hỏi đã lo giúp tới đâu, Ngô đáp bừa “Đã

tìm ra rồi, tưởng ai hóa ra là con cơ ta, tức là hàng em con dì của anh, hiện vẫn còn chờ người mai

mối. Tuy là có họ hàng kết thơng gia khơng tiện, nhưng cứ nói thật ra thì thế nào cũng xong". Sinh

mừng rỡ tươi rói cả mặt mày, hỏi Ngơ nàng ở đâu, Ngơ bịa rằng "ở trong núi phía tây nam, cách đây

hơn ba mươi dặm". Sinh lại dặn dò năm lần bảy lượt, Ngơ sốt sắng nhận lời rồi về.

Sinh từ đó ăn uống nhiều hơn, ngày càng khỏe lại, mò lấy cành hoa dưới gối ra xem thì hoa khơ

nhưng vẫn chưa rụng, cứ mân mê ngắm nghía như nhìn người đẹp. Lấy làm lạ vì Ngơ khơng tới, viết

thư mời thì Ngơ tìm cớ lần lữa khơng qua. Sinh bực dọc không vui, mẹ lo con lại ngã bệnh vội bàn

chuyện cưới vợ cho, nhưng cứ nói động tới là sinh lại lắc đầu không chịu, chỉ ngày ngày đợi Ngô. Lâu

ngày Ngô vẫn bặt tăm, sinh càng bực tức, chợt nghĩ ba mươi dặm đường không phải là xa, cần gì nhờ

vả người khác? Bèn giấu cành mai vào tay áo, giận dữ ra đi, người nhà không ai hay biết. Lủi thủi đi

một mình khơng biết đâu mà hỏi đường, chỉ nhắm hướng núi Nam đi tới.

Khoảng hơn ba mươi dặm thì thấy núi mọc ngổn ngang xanh biếc mát lạnh, vắng vẻ khơng một

bóng người, chỉ có đường núi cheo leo. Nhìn xuống khe núi xa xa, trong chỗ cây hoa um tùm thấp

thống như có một thôn nhỏ. Xuống núi vào thôn thấy nhà cửa thưa thớt, toàn là nhà tranh nhưng dáng



cách rất thanh nhã. Có một gian nhà quay về hướng bắc, trước cổng tơ liễu buông mành, trong tường

đào hạnh tươi tốt chen lẫn với tre trúc, chim rừng kêu ríu rít.

Sinh cho là nơi vườn cảnh nên không dám đường đột bước vào, quay nhìn thấy trước cổng có tảng

đá lớn trơn bóng sạch sẽ bèn ngồi xuống nghỉ. Giây lát nghe trong tường có tiếng con gái gọi "Tiểu

Vinh” thanh âm nhẹ nhàng êm ái, đang lắng nghe thì có một nữ lang từ phía đơng đi tới, tay cầm đóa

hoa hạnh, cúi đầu cài lên tóc, vừa ngẩng đầu thấy sinh liền khơng cài nữa, mỉm cười cầm đóa hoa đi

vào. Nhìn kỹ lại thì đúng là người đã gặp dọc đường hôm tiết Thượng nguyên, mừng rơn chỉ nghĩ

không biết lấy cớ gì bước tới, muốn gọi cơ em con dì nhưng trước nay chưa từng qua lại nên sợ lầm.

Trong cửa lại khơng có ai để hỏi, đành quanh quẩn đứng ngồi đến tận trưa, đăm đăm trông ngóng

qn cả đói khát. Lâu lâu lại thấy cơ gái hé nửa mặt ra nhìn như lấy làm lạ sao khơng đi. Bỗng có một

bà già chống gậy đi ra nhìn sinh hỏi “Chàng trai ở đâu, nghe như tới từ giờ Thìn đến giờ chưa đi là

cần gì vậy, khơng đói bụng sao?". Sinh vội đứng dậy vái chào, đáp "Định tìm thăm người họ hàng". Bà

già nghễnh ngãng nghe khơng rõ, sinh nói to lần nữa, bà bèn hỏi "Vậy q thân thích họ gì?", sinh

khơng đáp được. Bà già cười nói "Lạ thật, tên họ cũng khơng biết thì biết họ hàng nào mà hỏi? Ta thấy

chàng cũng chỉ là con mọt sách thôi. Thôi vào trong này ăn ít cơm hẩm, nhà có chiếc giường con cũng

ngả lưng được, đợi sáng mai về hỏi lại tên họ rồi trở lại tìm cũng chưa muộn".

Sinh đang lúc bụng đói muốn ăn, lại thấy sẽ được làm quen với người đẹp thì mừng quá bèn theo

bà già vào. Thấy trong cổng lối đi lát đá trắng, hai bên lối đi hoa hồng từng cánh từng cánh rụng trên

thềm, quanh co đi về phía tây lại mở một cánh cửa nữa, luống đậu giàn hoa đầy trong sân. Bà già kính

cẩn dẫn khách vào nhà, tường qt vơi sáng như gương, hoa hải đường ngồi song thò cả vào phòng,

đệm chiếu bàn ghế đều bóng lống sạch sẽ. Vừa ngồi xuống đã thấy ngồi cửa sổ thấp thống có người

nhìn trộm, bà già gọi “Tiểu Vinh làm cơm mau”, bên ngồi có tiếng tỳ nữ dạ lớn.

Ngồi n xong bèn nói rõ tên họ dòng dõi, bà già hỏi "Ơng ngoại chàng họ Ngơ phải khơng?", sinh

đáp phải. Bà già ngạc nhiên nói "Thế thì chàng là cháu ta, mẹ chàng là em gái ta. Mấy năm nay ta vì

nhà nghèo lại khơng có con trai nên bỏ bẵng việc thăm hỏi, cháu đã khôn lớn thế này mà vẫn không

biết”. Sinh đáp “Lần này cháu tới đây là để thăm dì, mà lúc vội vàng quên mất cả họ”. Bà già nói

“Lão thân người nhà họ Tần, khơng sinh nở lần nào, chỉ có một con gái cũng là vợ lẽ sinh ra. Mẹ nó đi

bước nữa, để nó lại cho ta ni nấng, cũng khơng phải dần độn nhưng ít được dạy dỗ nên cứ cười đùa

chẳng biết buồn lo gì, lát nữa sẽ gọi ra chào".

Giây lát tỳ nữ dọn cơm lên, thức ăn đầy đĩa. Bà già ngồi tiếp sinh, ăn xong tỳ nữ lại ra dọn, bà già

nói "Gọi cơ Ninh ra đây!” Tỳ nữ dạ đi vào hồi lâu nghe ngoài cửa như có tiếng cười, bà già gọi "Anh

Ninh, anh con dì ngươi đây này!". Ngồi cửa tiếng cười khúc khích vẫn khơng ngừng, tỳ nữ đẩy cơ gái

vào, nàng còn che miệng cười khơng nín được. Bà già trừng mắt nói "Đang có khách mà cứ khúc kha

khúc khích là lối gì thế?”, nàng nín cười đứng n.

Sinh vái chào, bà già nói "Đây là Vương lang con dì của ngươi. Người nhà mà khơng biết nhau,

có buồn cười khơng". Sinh hỏi "Em đây bao nhiêu tuổi?". Bà già chưa hiểu, sinh bèn nhắc lại cô gái

lại rũ ra cười không ngẩng lên được nữa. Bà già nói với sinh “Ta vừa nói nó ít được dạy dỗ, giờ thì



thấy rồi đấy. Tuổi đã mười sáu mà cứ ngu dại như trẻ con". Sinh nói "Kém cháu một tuổi". Bà già hỏi

“Cháu mười bảy tuổi, là sinh năm Canh ngọ tuổi ngựa à?". Sinh gật đầu, bà lại hỏi vợ là ai, sinh đáp

chưa có. Bà già nói “Tài mạo như cháu, sao mười bảy tuổi rồi còn chưa cưới vợ? Anh Ninh cũng

chưa thành gia thất, kể sánh với nhau thật xứng đơi, tiếc là có chút họ hàng với nhau”.

Sinh khơng đáp, mắt nhìn dán vào Anh Ninh khơng chớp, đứa tỳ nữ quay qua cơ gái nói nhỏ "Con

mắt nhìn chòng chọc như giặc vẫn chưa đổi". Cơ gái lại cười lớn, quay qua nói với nó "Ra xem bích

đào nở chưa đi!", rồi vụt đứng ngay dậy, lấy tay áo che miệng rón rén bước nhanh ra, khỏi cửa thì

cười phá lên. Bà già cũng đứng dậy, gọi tỳ nữ mang chăn đệm xếp đặt chỗ nghỉ cho sinh, nói "Cháu tới

đây khơng phải dễ, cứ ở chơi năm ba hôm, thong thả ta sẽ tiễn về. Nếu thấy vắng vẻ buồn chán thì sau

nhà có mảnh vườn con cũng đủ tiêu khiển, cũng có sách để đọc".

Hơm sau sinh ra sau nhà quả có mảnh vườn rộng nửa mẫu, cỏ mịn như trải thảm, hoa dương đầy

lối đi, có ba gian nhà tranh cây hoa phủ kín bốn bề. Sinh đang lách trong đám cây hoa chợt nghe trên

cây có tiếng khúc khích, ngẩng lên nhìn thì ra Anh Ninh đang ở trên cây, thấy sinh tới cười rộ muốn

ngã. Sinh kêu "Đừng thế, ngã đấy”, cô gái vừa tụt xuống vừa cười không nhịn được, gần tới đất thì tuột

tay ngã xuống mới thơi cười. Sinh đỡ dậy, lén nắm vào cổ tay, nàng lại bật tiếng cười, dựa vào thân

cây không bước đi được, hồi lâu mới thôi.

Sinh chờ nàng dứt tiếng cười bèn rút cành hoa trong tay áo ra cho xem. Cô gái cầm lấy nói “Khơ

rồi còn giữ làm gì?” Sinh nói "Đây là cành hoa em bỏ lại hơm tiết Thượng nguyên, nên mới giữ,"

Nàng hỏi giữ làm gì, sinh đáp "Để tỏ rằng yêu nhau không quên được. Kể từ hôm tiết Thượng nguyên

được gặp gỡ, cứ tơ tưởng đến thành bệnh, cứ nghĩ là đã chết rồi, nào ngờ lại còn được thấy mặt, xin

hãy rủ lòng thương xót". Cơ gái đáp “Việc đó rất nhỏ, chỗ họ hàng thì có tiếc gì. Đợi hơm nào anh đi,

các thứ hoa trong vườn sẽ gọi lão bộc bẻ một ôm lớn mang theo tiễn anh". Sinh nói "Em ngây đấy à?",

nàng hỏi "Thế nào là ngây?", sinh đáp “Ta chẳng phải yêu hoa mà là yêu người cầm hoa thơi” Nàng

nói "Họ hàng thân thiết thì thương u nhau cần gì phải nói”. Sinh nói “Ta nói u chẳng phải là tình

họ hàng mà là tình vợ chồng kia!". Cơ gái nói "Có gì khác nhau nào?", sinh đáp “Đêm thì cùng chung

chăn chung gối”. Cơ gái cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói "Em khơng quen ngủ với người lạ”.

Đang còn trò chuyện thì đứa tỳ nữ đã khẽ khàng đi tới, sinh hoảng sợ lẩn đi. Lát sau cùng hội họp

chỗ bà già, bà hỏi đi đâu, cơ gái đáp nói chuyện với nhau trong vườn. Bà già nói “Cơm chín lâu rồi,

có chuyện gì hay mà nói lâu thế ", nàng đáp "Anh muốn ngủ chung với con”. Sinh nghe chưa hết câu đã

phát hoảng vội trợn mắt nhìn, nàng mỉm cười im bặt, may mà bà già khơng nghe rõ, còn khẽ khàng hỏi

lại thì sinh vội nói lảng qua chuyện khác, nhân đó khẽ trách nàng. Cô gái hỏi "Thế chuyện ấy không

nên nói ra à?”, sinh đáp “Đó là chuyện phải giấu người khác". Nàng nói “Giấu người khác chứ sao lại

giấu mẹ già, vả lại ngủ chung là chuyện thường có gì phải sợ”. Sinh bực vì ngu ngơ nhưng khơng biết

làm sao cho nàng hiểu được.

Ăn vừa xong thì người nhà dắt hai con lừa tới tìm sinh. Trước là mẹ sinh đợi lâu khơng thấy con

về sinh nghi, tìm kiếm khắp làng khơng thấy dấu vết bèn tìm tới Ngơ. Ngơ nhớ lại lời mình nói trước

đây liền bảo tới núi phía tây nam tìm, qua mấy thơn mới tới. Sinh ra cửa thì vừa gặp bèn trở vào nói



với bà già, lại xin đưa cơ gái cùng về. Bà già mừng rỡ nói "Ta vẫn có ý ấy từ lâu, nhưng vì già yếu

khơng đi xa nổi, được cháu dẫn em nó về nhận dì thì hay lắm”. Bèn gọi Anh Ninh, Ninh cười ra gặp,

bà già nói "Có gì vui mà cười mãi thế? Nếu khơng cười thì cũng ra dáng con người rồi đấy”, nhân

trừng mắt nhìn rồi nói "Anh cả muốn ngươi đi cùng, vào sắp sửa hành trang đi!".

Lại dọn cơm rượu thết đãi người gia nhân rồi đưa ra cổng, nói "Nhà dì có nhiều ruộng vườn, đủ

sức ni người ăn khơng, tới đó thì đừng về, học lấy chút lễ nghĩa cho biết cách thờ phụng cha mẹ

chồng, rồi sẽ nhờ dì tìm cho một tấm chồng tốt". Hai người bèn lên đường, tới dưới núi quay nhìn còn

thấy rõ bóng dáng bà già dựa cửa nhìn theo. Tới nhà, mẹ sinh thấy có cơ gái xinh đẹp ngạc nhiên hỏi

là ai, sinh đáp là con bà dì. Mẹ nói "Lời Ngơ lang nói với con trước đây là dối đấy. Mẹ chưa từng có

chị, làm sao có cháu gọi bằng dì được?”.

Hỏi cô gái, nàng đáp “Cháu không phải là do mẹ đẻ ra. Cha vốn họ Tần, mất lúc cháu còn trong tã

nên cháu khơng nhớ gì”. Mẹ nói “Ta có một người chị lấy chồng họ Tần thật, nhưng mất đã lâu, làm

sao còn sống được?". Nhân hỏi kỹ mặt mũi nốt ruồi, nhất nhất đều đúng, lại ngờ vực nói "Đúng rồi,

nhưng chị ấy đã chết từ lâu, làm sao còn sống kia chứ?” Đang lúc suy nghĩ ngờ vực thì Ngơ sinh tới,

cơ gái lánh vào nhà trong. Ngô hỏi biết chuyện ngẩn ra hồi lâu rồi chợt hỏi “Cô gái này tên Anh Ninh

phải không?” sinh đáp phải. Ngô than thở là chuyện kỳ lạ, hỏi vì sao biết, Ngơ đáp “Sau khi cơ Tần

mất thì dượng ở góa, bị hồ ám mang bệnh mà chết. Hồ sinh một gái tên là Anh Ninh, vẫn quấn tã đặt

trên giường, người nhà đều nhìn thấy. Dượng mất rồi, thỉnh thoảng hồ vẫn tới, sau xin bùa của Thiên

sư dán trên vách mới ôm con gái bỏ đi có lẽ là đây chăng?”.

Người này người nọ bàn tán xơn xao, chỉ nghe trong phòng có tiếng khúc khích, đều là tiếng Anh

Ninh cười. Mẹ sinh nói “Con bé này cũng ngớ ngẩn quá”. Ngô xin cho gặp mặt, mẹ vào phòng thì nàng

còn rũ ra cười khơng ngoảnh lại, mẹ giục bảo ra nàng mới cố nín cười, lại quay mặt vào vách một lúc

mới ra được. Vừa vái chào xong đã xoay mình trở vào rồi cười phá lên, đàn bà con gái trong phòng

đều vui thích.

Ngơ xin đi dò xét sự lạ, nếu tiện thì làm mối ln, nhưng tìm tới đó thì khơng thấy xóm làng nhà

cửa gì cả, chỉ có hoa rừng rơi tả tơi mà thôi. Ngô ngờ ngợ nhớ lại nơi chôn bà cơ cũng gần đó nhưng

mộ cũ đã mất dấu không nhận ra được đành than thở quay về. Mẹ sinh ngờ bà là ma, vào kể lại lời

Ngô cho nghe nhưng cô gái không hề tỏ vẻ sợ sệt lại thương cho nàng khơng có nhà cửa cũng khơng hề

tỏ vẻ đau xót, cứ ngơ ngẩn cười khúc khích mà thôi, mọi người đều không hiểu ý tứ ra sao. Mẹ bảo

cùng ngủ với con gái út, sáng sớm nàng đã tới vấn an. Việc nữ cơng thì nàng vơ cùng khéo léo nhưng

hay cười, có cấm cũng khơng nhịn được, có điều cười rất tươi, dù cười như phát điên cũng không mất

vẻ xinh đẹp, ai thấy cũng vui thích, đàn bà con gái láng giềng cứ giành nhau mời đón.

Mẹ chọn ngày tốt cho làm lễ hợp cẩn nhưng vẫn sợ là ma, rình lúc nàng đứng dưới bóng mặt trời

nhìn thì thấy cũng có bóng khơng khác gì người thường. Đến ngày cưới bảo nàng trang sức đẹp đẽ làm

lễ, nàng cười quá không thể vái lạy đành thôi. Sinh thấy nàng ngu ngơ sợ lại nói lộ chuyện kín trong

phòng ra nhưng cơ gái hết sức kín đáo, một câu cũng khơng nói.

Mỗi khi mẹ có điều lo lắng tức giận, nàng tới cười một tiếng là lập tức ngi hết, tơi tớ có lỗi sợ



bị đòn cứ xin nàng tới nói chuyện với mẹ rồi vào ra mắt là được tha. Nhưng nàng có tật mê hoa, tìm

kiếm trong khắp thân thích láng giềng, lén bán cả đồ trang sức để mua giống hoa đẹp, vài tháng thì bờ

tường bậc thềm chuồng lợn nhà xí chỗ nào cũng đầy những hoa.

Sân sau có một giàn mộc hương sát nhà láng giềng phía tây, cơ gái vẫn vin cây trèo lên hái hoa cài

đầu, mẹ bắt gặp là mắng nhưng nàng vẫn không chừa. Một hơm con trai nhà ấy trơng thấy nàng, say mê

nhìn sững. Cô gái không tránh mặt lại cười, y cho rằng nàng đã ưng thuận, lòng càng khao khát. Nàng

chỉ vào chân tường cười rồi leo xuống. Y nghĩ rằng nàng chỉ nơi hò hẹn mừng lắm, đến tối mò ra, quả

nhiên nàng đã ở đó, liền sấn tới hành dâm thì chỗ kín như bị dùi đâm, đau buốt tận tim gào lớn ngã lăn

ra. Nhìn kỹ lại thì không phải cô gái mà là một cây khô nằm dưới tường, chỗ mình chọc vào là một cái

hốc cây đọng nước.

Cha y nghe tiếng vội chạy ra hỏi, y thì rên rĩ khơng nói, khi vợ tới mới thú thật. Đốt đuốc soi vào

hốc cây thấy có một con bò cạp to bằng con cua con. Cha y chẻ cây ra bắt con bò cạp giết đi rồi vực

con trai về, nửa đêm thì chết. Nhà ấy kiện sinh, tố cáo Anh Ninh là yêu quái. Quan huyện vốn ngưỡng

mộ tài học của sinh, lại biết sinh là kẻ sĩ đức hạnh nên cho rằng nhà láng giềng kiện bậy toan phạt

đánh đòn, sinh xin cho mới được tha về.

Mẹ sinh nói với cơ gái “Cứ ngây dại thế mãi, ta lã biết trước là vui quá hóa lo mà. May là quan

huyện thần minh nên mới không liên lụy, chứ gặp phải hạng quan hồ đồ ắt đã đòi đàn bà con gái lên

cơng đường đối chất, thì con trai ta còn mặt mũi nào nhìn thấy họ hàng làng xóm nữa?". Cơ gái nghiêm

trang thề khơng cười nữa, mẹ nói "Người ta ai mà khơng cười nhưng phải có lúc", nhưng từ đó nàng

quả khơng cười nữa, dù cố chọc ghẹo cũng khơng cười, có điều khơng lúc nào có vẻ mặt nhăn nhó.

Một đêm nàng nhìn sinh ứa nước mắt, sinh lấy làm lạ thì nàng nghẹn ngào nói “Trước đây theo

chàng chưa lâu, nói ra e sẽ hoảng sợ. Nay thấy mẹ và chàng đều u thương khơng có ý khác nên xin

thưa thật, may ra không sao chăng? thiếp vốn do hồ sinh ra, lúc mẹ thiếp ra đi đem gởi cho bà mẹ ma,

nương tựa nhau hơn mười năm mới có ngày nay. Thiếp lại khơng có anh em, chỉ trơng cậy vào chàng.

Mẹ già cơ quạnh nơi góc núi, khơng ai thương xót hợp táng cho, dưới chín suối vẫn còn sầu tủi. Nếu

chàng không tiếc công tiếc của giúp cho người nằm dưới đất tiêu tan được mối oán hận ấy thì ngõ hầu

những kẻ sinh con gái sẽ khơng nỡ dìm nước vứt bỏ nữa".

Sinh ưng thuận nhưng lo phần mộ bị lẫn trong cỏ rậm, cơ gái chỉ nói đừng lo. Bèn định ngày rồi

vợ chồng chở quan tài tới, cơ gái chỉ mộ phần giữa đám gai góc khói mây, quả đào được thi thể bà

già, da thịt vẫn còn. Nàng vỗ về khóc lóc thảm thiết, đưa về tìm mộ ơng Tần hợp táng. Đêm ấy sinh

mơ thấy bà già về tạ ơn, tỉnh dậy thuật lại. Cơ gái nói "Đêm qua thiếp có gặp, nhưng mẹ dặn đừng làm

chàng kinh động thôi”. Sinh ân hận không giữ bà lại, nàng nói "Bà là ma, nơi đây người sống nhiều,

khí dương thịnh, làm sao ở được". Sinh hỏi Tiểu Vinh, nàng đáp "Nó là hồ, rất lanh lợi, mẹ hồ lưu lại

để trông nom thiếp, vẫn đút bánh trái cho thiếp ăn nên nhớ ơn nó khơng lúc nào qn. Đêm qua hỏi

mẹ, thì nói đã gả chồng cho nó rồi". Từ đó cứ gặp tiết Hàn thực hàng năm vợ chồng lại đi thăm mộ

ông bà Tần, khấn vái qt dọn khơng hề sơ sót. Được hơn năm cơ gái sinh được một trai, lúc còn bế

ẵm đã không sợ người lạ, thấy người là cười cũng rất giống phong thái của mẹ.



Dị Sử thị nói: Xem dáng cười ngặt nghẽo giống như vô tâm, nhưng chơi ác dưới tường thì rõ

ra là rất biết việc đời vậy. Đến như thương xót bà mẹ ma thì khơng cười mà khóc, nàng Anh Ninh

của ta là người tự che giấu bằng tiếng cười đấy. Nghe nói trong núi có một thứ cỏ gọi là cỏ cười,

ngửi thì cười không dừng lại được, trong nhà mà trồng thứ cỏ ấy thì các loại cỏ Hợp hoan, Vong

ưu đều khơng ra gì. Còn như hoa biết nói



[30]



thì chỉ là có dáng vẻ bề ngồi thơi.



019. Nhiếp Tiểu Thiến (Nhiếp Tiểu Thiến)

Ninh Thái Thần người đất Chiết (tỉnh Chiết Giang), tính hào sảng, ngay thẳng tự trọng, thường nói

với người ta rằng bình sinh khơng biết tới người đàn bà thứ hai. Gặp lúc có việc tới huyện Kim Hoa

(tỉnh Chiết Giang), tới cổng bắc huyện thành vào nghỉ trong một ngôi chùa. Thấy trong chùa điện tháp

nguy nga tráng lệ nhưng cỏ tranh cao lút đầu như khơng có người qua lại, thiền phòng hai bên đơng tây

cửa chỉ khép hờ, duy gian nhà nhỏ phía nam thì then khóa như còn mới. Nhìn qua góc đơng điện có

rặng tre to hàng chét tay, bên dưới có cái ao lớn, sen dại đã nở hoa, có ý thích cảnh u nhã.

Gặp lúc quan Học sứ về khảo khóa, giá thuê nhà trong thành đắt đỏ nên Ninh quyết ở lại, nhân tản

bộ đợi sư về. Trời sẩm tối có người sĩ nhân tới mở cửa gian nhà phía nam. Ninh bước tới chào hỏi rồi

ngỏ ý. Sĩ nhân nói “Nhà này khơng có chủ, ta cũng chỉ ở ngụ, nếu không chê là hoang vắng, sớm tối chỉ

giáo cho thì may lắm!” Ninh mừng rỡ bèn rải cỏ làm giường, ghép ván làm ghế, tính kế ở lâu. Đêm ấy

trăng sáng vằng vặc, trời trong như nước, hai người nằm gác vế dưới hiên chuyện trò, hỏi han tên họ.

[31]



Sĩ nhân tự nói họ Yến tên Xích Hà, Ninh tưởng là Chư sinh chờ khảo khóa nhưng nghe giọng nói

khơng phải là người đất Chiết, hỏi thì đáp là người đất Tần (tỉnh Thiểm Tây), ăn nói rất chất phác thật

thà. Kế chuyện vãn đã cạn, hai người chia tay đi nghỉ.

Ninh lạ nhà nằm mãi không ngủ được, chợt nghe gian phía bắc có tiếng rì rầm như người nói

chuyện bèn trở dậy tới núp dưới song cửa sổ bằng đá dưới vách tường phía bắc nhìn qua. Thấy sau

tường có một khu nhà nhỏ, có người đàn bà khoảng hơn bốn mươi tuổi và một bà vú già mặc chiếc áo

hồng bạc màu, trên tóc cài cái lược to, lưng gù già sọm đang trò chuyện dưới trăng. Người đàn bà nói

“Tiểu Thiến sao mãi khơng tới?", bà vú già nói "Thế nào nó cũng tới mà”. Người đàn bà hỏi “Nó có

ốn thán gì với bà không?", bà vú già đáp "Ta không nghe thấy, nhưng nó có vẻ buồn rầu”. Người đàn

bà nói "Con nhãi ấy thì khơng cần phải tử tế đâu”. Chưa dứt lời thì một cơ gái khoảng mười bảy mười

tám tuổi tới, nhìn phảng phất có vẻ xinh đẹp.

Bà vú cười nói “Đừng nói chuyện người vắng mặt, hai người bọn ta chỉ trò chuyện thơi, mà con

tiểu u lẻn tới khơng một tiếng động. May là bọn ta khơng nói gì xấu” Lại nói "Tiểu nương tử thật là

xinh đẹp như trong tranh, giả như già này là đàn ông cũng bị bắt mất hồn rồi”. Cơ gái nói “Bà mà

khơng khen ta thì còn ai khen chứ”. Kế khơng rõ họ nói với nhau những gì, Ninh cho rằng đó là gia

đình nhà láng giềng nên bỏ vào ngủ khơng buồn nghe nữa, hồi lâu tiếng trò chuyện mới tắt. Ninh vừa

thiu thiu sắp ngủ chợt thấy như có người tới chỗ mình nằm, vội trở dậy nhìn thì ra là cơ gái bên gian

nhà phía bắc. Ninh ngạc nhiên hỏi, cô gái cười đáp “Đêm trăng không ngủ được, xin tới vui vầy" Ninh

nghiêm sắc mặt nói “Nàng phải đề phòng điều dị nghị còn ta thì sợ tiếng chê cười, lỡ chân một bước

thì hết cả liêm sỉ”. Cơ gái nói "Đêm hơm đâu có ai biết", Ninh xì khinh bỉ nhưng cơ gái cứ lần lữa như

còn muốn nói gì nữa, Ninh qt “Đi mau đi, nếu không ta kêu to cho người bên kia biết đấy” Cơ gái sợ

lui ra ngồi cửa nhưng lại trở vào đặt một nén vàng lên nệm, Ninh cầm lấy ném ra thềm nói "Của phi

nghĩa chỉ làm bẩn túi ta” Cơ gái thẹn thùng quay ra nhặt vàng nói một mình “Người này sắt đá thật”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phán Quan Họ Lục (Lục Phán)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×