Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vị Tiên Họ Thành (Thành Tiên)

Vị Tiên Họ Thành (Thành Tiên)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thành lại tới Hình viện tố cáo sự khuất khúc, Chu được gia ơn đem ra hỏi cung thì đã đói lả khơng

dậy nổi. Quan Hình viện tức giận cho đánh chết người coi ngục, Hoàng khiếp đảm phải bỏ ra mấy

ngàn lượng vàng chạy chọt nên được mập mờ xóa tội, quan huyện thì vì làm trái pháp luật bị đi đày.

Chu được thả về, càng phục Thành là can đảm.

Thành sau vụ kiện tụng thì tình đời nguội lạnh bèn rủ Chu cùng đi ở ẩn, nhưng Chu còn đắm đuối

vợ trẻ nên nghe nói thì cười là viễn vông, Thành tuy không đáp song đã quyết ý. Sau khi chia tay, mấy

ngày không thấy tới, Chu sai qua nhà thăm dò thì người nhà nghĩ rằng đang ở nhà Chu, cả hai nơi đều

không thấy mới nghi ngờ. Chu biết là có chuyện lạ, sai người đi dò hỏi khắp các chùa quán hang động,

thỉnh thoảng lại đem vàng lụa chu cấp cho con Thành.

Tám chín năm sau Thành chợt tìm về, đội khăn vàng mặc áo lông, rõ ràng là đạo sĩ. Chu cả mừng

nắm tay hỏi "Anh đi đâu làm ta tìm khắp nơi?", Thành cười đáp “Mây ngàn hạc nội không ở nơi nào

nhất định, nhưng sau khi chia tay may vẫn mạnh khỏe”.

Chu sai bày tiệc, nói qua nỗi niềm xa cách, muốn Thành hồn tục nhưng Thành chỉ cười khơng nói.

Chu bảo "Ngu thay! Sao có thể bỏ vợ con như đơi giày rách được?”. Thành cười nói "Khơng phải thế,

người định bỏ ta chứ ta đâu bỏ được ai?". Hỏi nơi ở, Thành đáp là trên cung Thượng Thanh núi Lao

Sơn. Kế nằm gác chân ngủ, Chu mơ thấy Thành trần truồng đè lên người mình nặng muốn tức thở, kinh

ngạc hỏi làm gì nhưng Thành khơng đáp.

Giật mình tỉnh dậy gọi khơng thấy Thành lên tiếng, nhỏm dậy mò thì đã đi đâu mất. Lát sau định

thần mới biết đang trên giường của Thành, hoảng sợ nói "Tối qua khơng say mà sao lẫn lộn đến thế

này?". Bèn gọi người nhà, người nhà thắp đèn lên thì thấy rõ ràng là Thành. Chu vốn nhiều râu bèn lấy

tay sờ thì thấy cằm lơ thơ chỉ có vài sợi, liền cầm gương soi rồi ngạc nhiên nói "Thành sinh ở đây thì

ta đi đâu?". Kế sực hiểu ra, biết Thành dùng ảo thuật gọi mình đi ở ẩn, muốn vào phòng vợ nhưng em

trai thấy mặt mũi khác hẳn nên ngăn lại khơng cho. Chu cũng khơng có cách nào làm rõ liền sai sắp

ngựa và đầy tớ đi tìm Thành.

Mấy ngày thì tới núi Lao, ngựa chạy nhanh nên đầy tớ theo không kịp, Chu dừng lại dưới gốc cây

chờ. Thấy khách mặc áo lông qua lại rất đông, trong có một đạo nhân đưa mắt nhìn, Chu nhân hỏi

Thành thì đạo sĩ cười đáp “Cũng có nghe tên, hình như ở cung Thượng Thanh”, nói xong bỏ đi. Chu

nhìn theo thấy ông ta đi xa khoảng hơn một tầm tên lại dừng lại chuyện trò với một người, cũng chỉ vài

câu rồi đi. Người kia dần dần tới gần thì ra là một người bạn học, thấy Chu kinh ngạc hỏi “Bao nhiêu

năm khơng gặp, nghe người ta nói ông lên non học đạo mà nay còn dạo chơi ở nhân gian sao?". Chu kể

lại chuyện lạ, người kia giật mình nói “Thế thì ta vừa gặp Thành sinh mà tưởng là ông. Mới đi chưa

bao lâu, chắc cũng khơng xa đâu”.

Chu rất lạ lùng, nói “Qi thật, sao mặt mũi của mình mà nhìn thấy lại khơng nhận ra được thế?".

Người đầy tớ cũng vừa tới, vội đuổi theo nhưng khơng thấy bóng dáng Thành đâu, nhìn lên chỉ thấy

mịt mù xa tắp, không biết nên đi hay về. Kế tự nghĩ không biết về đâu bèn quyết ý đuổi theo tới cùng,

nhưng đường cheo leo hiểm trở không đi ngựa được bèn đưa ngựa cho đầy tớ dắt về, lần mò đi tiếp.

Thấy xa xa có đứa tiểu đồng ngồi một mình vội rảo bước tới gần hỏi đường, nói rõ duyên cớ. Tiểu



đồng tự xưng là đệ tử của Thành rồi mang giúp khăn gói dẫn Chu cùng đi, dãi gió dầm sương lặn lội

rất xa, ba ngày mới tới lại không phải nơi thế gian vẫn gọi là cung Thượng Thanh.

Bấy giờ là giữa tháng mười mà hoa rừng nở đầy lối đi, không giống như đầu mùa đông. Tiểu đồng

vào báo tin khách tới, Thành lập tức ra đón, Chu mới nhận ra hình dáng của mình. Thành cầm tay dắt

vào bày tiệc trò chuyện, Chu thấy có nhiều chim chóc màu sắc lạ lùng dạn dĩ, tiếng như đàn sáo cứ tới

đậu ngay chỗ ngồi mà hót, rất lấy làm lạ nhưng lòng trần còn tha thiết khơng có ý ở lại. Dưới đất trải

hai tấm bồ đoàn, Thành kéo cùng ngồi, đến q canh hai thì mn mối lo nghĩ đều lặng xuống, chợt

như chớp mắt bỗng thấy mình và Thành lại đổi thân hình cho nhau, ngờ vực đưa tay sờ cằm thì thấy

rậm râu như cũ.

Sáng ra Chu muốn về ngay, Thành cố giữ lại, qua ba ngày thì nói "Xin cứ nghỉ một lúc, sáng sớm

sẽ đưa ông về”. Vừa thiu thiu thì nghe Thành gọi "Hành trang đã sẵn rồi?”, bèn trở dậy theo đi, thấy

đường khác hẳn lối cũ.

Khơng bao lâu thì thấy làng q hiện ra trước mắt, Thành ngồi đợi bên đường bảo cứ tự về. Chu

lôi kéo không được đành lủi thủi đi, về tới cổng nhà gõ không thấy thưa, đang định trèo tường vào thì

cảm thấy thân nhẹ như chiếc lá, nhảy một cái đã qua khỏi, vượt mấy lớp tường thấp thì tới phòng ngủ.

Thấy bên trong đèn đuốc sáng trưng, vợ còn chưa ngủ mà đang rì rầm trò chuyện với người khác. Chu

nhấm nước bọt chọc thủng giấy dán cửa sổ nhìn vào thì ra vợ đang uống rượu với một tên đầy tớ, bộ

dạng rất lả lơi. Chu giận sơi lên toan xơng vào bắt nhưng sợ có một mình khơng thắng nổi bèn lặng lẽ

lui lại mở cửa chạy ra nói với Thành nhờ giúp sức. Thành hăng hái đi theo thẳng tới phòng ngủ, Chu

vác đá đập cửa, bên trong hoảng sợ nháo nhác. Chu càng đập gấp nhưng cửa đóng rất chặt, Thành rút

gươm đưa một nhát, cánh cửa toác ra. Chu sấn vào, tên đầy tớ lao ra cửa chạy, bị Thành đứng ngoài

vung gươm chém đứt cánh tay tới tận vai. Chu bắt vợ tra vấn mới biết lúc mình bị giam thì nàng đã tư

thông với tên đầy tớ, bèn mượn gươm chặt đầu vợ, khoét ruột treo lên cành cây trước sân rồi theo

Thành trở ra.

Đang tìm đường về núi chợt giật mình tỉnh dậy thì thấy vẫn còn nằm trên giường, hoang sợ nói

“Mộng mị bậy bạ làm rợn cả người”. Thành cười nói “Mơ thì ơng cho là thật, thật thì lại cho là mơ”.

Chu ngạc nhiên hỏi, Thành đưa gươm ra cho xem thì vết máu vẫn còn, Chu sợ phát khiếp nhưng thầm

ngờ là Thành dùng ảo thuật lừa dối. Thành biết ý bèn sắp sửa hành trang đưa Chu về. Phút chốc tới

đầu làng, Thành nói "Đêm ấy chẳng phải là ta chống kiếm đợi ở đây sao! Ta đã chán cuộc đời nhơ

đục, xin lại đợi ông ở đây. Nếu quá trưa mà ông không ra, ta sẽ đi”.

Chu tới nhà thấy cổng ngõ tiêu điểu như khơng có người ở, bèn vòng qua nhà em. Em Chu thấy anh

thì sa nước mắt kể “Sau khi anh đi, đang đêm cướp vào giết chị rồi khoét ruột bỏ đi, vô cùng thê thảm,

đến nay quan lùng bắt chưa được". Chu như chợt tỉnh mộng bèn kể lại tình thật, dặn đừng truy cứu

nữa, em Chu sững sờ hồi lâu. Chu hỏi thăm con trai mình, em gọi bà vú bế tới, Chu nói “Đứa nhỏ còn

bọc tã lót này quan hệ tới việc nối dõi tơng đường, em nên cố chăm sóc chứ anh nay muốn từ giã cõi

trần rồi”.

Rồi đứng lên đi ra, em trai nước mắt giàn giụa đuổi theo giữ lại, Chu chỉ cười đi thẳng khơng



ngối lại. Ra tới ngồi làng gặp Thành liền cùng đi, đi xa mới quay lại dặn “Ở đời thì việc nhẫn nhục

là vui nhất”. Em còn muốn nói thì Thành khốt tay một cái, lập tức không thấy đâu nữa, bèn ngẩn ra

hồi lâu rồi khóc lóc trở về.

Em Chu là người chất phác vụng về, khơng biết coi sóc người nhà làm ăn nên qua vài năm nhà

càng nghèo, con Chu dần lớn lên khơng thể đón thầy nên phải tự mình dạy cháu học.

Một hơm sáng sớm tới phòng sách, thấy trên bàn có một phong thư dán kín, ngồi đề gởi em trai.

Cầm xem thì đúng là nét chữ của anh, mở ra thì trong khơng chẳng có gì, chỉ thấy một cái móng tay dài

khoảng hai đốt tay, lấy làm kỳ quái. Bèn đặt cái móng lên nghiên mục rồi bước ra hỏi người nhà thư từ

đâu tới nhưng không ai biết, quay vào nhìn thì cái nghiên đá đã biến thành vàng lóng lánh, vơ cùng

ngạc nhiên, đem thử lên đồng sắt đều như thế.

Từ đó giàu to, đem ngàn vàng cho con Thành, vì thế người ta đồn rằng hai nhà này có thuật điểm

kim.



012. Vương Thành (Vương Thành)

Vương Thành là con nhà thế tộc cũ ở Bình Nguyên (phủ thành Tế Nam tỉnh Sơn Đơng), tính rất

lười biếng nên sinh sống ngày càng chật vật, chỉ còn mấy gian nhà nát, vợ chồng ngủ trong ổ xơ gai,

oán trách nhau thậm tệ.

Gặp lúc giữa mùa hè nóng nực, trong làng có cái vườn của họ Chu, tường vách đổ nát chỉ còn một

ngơi đình, người làng nhiều kẻ tới ngủ nhờ, Vương cũng trong số đó. Sáng ra mọi người đã đi cả, mặt

trời lên cao ba con sào Vương mới dậy, dùng dằng định về thì nhặt được chiếc thoa vàng trong đám

cỏ, trên có khắc hàng chữ nhỏ "Phủ Nghi tân chế tạo".

[26]



Ông nội Vương là Nghi tân Hành phủ , vật cũ trong nhà phần nhiều đều có dấu hiệu ấy, vì vậy

Vương cầm chiếc thoa ngần ngừ. Chợt có một bà già tới tìm chiếc thoa, Vương tuy rất nghèo nhung

không tham vặt bèn đưa ra trả lại.

Bà già mừng rỡ cảm tạ, nói "Chiếc thoa không đáng bao nhiêu nhưng đây là kỷ vật của ông nhà ta

để lại”, Vương hỏi “Cụ nhà là ai?”, bà già đáp là Nghi tân Vương Giản Chi trước kia. Vương giật

mình nói “Đó là ơng nội ta, sao bà gặp gỡ được?”. Bà già cũng giật mình nói "Ngươi là cháu nội

Vương Giản Chi sao? Ta là hồ tiên, một trăm năm trước có gần gũi với ơng nội ngươi, sau khi ơng mất

thì lão thân ở ẩn, qua ngang đây đánh rơi chiếc thoa lại vào tay ngươi, không phải là số trời sao?”.

Vương cũng từng nghe nói ơng nội có vợ hồ nên tin lời, nhân mời tới nhà chơi, bà già bèn đi theo.

Vương gọi vợ ra chào, bà già thấy áo rách đầu bù, mặt mày xanh xao hốc hác bèn than rằng "Ôi, con

cháu Vương Giản Chi lại nghèo khổ đến thế này ư!”. Lại nhìn gian bếp hư nát khơng nổi lửa mà nói

“Gia cảnh thế này lấy gì để sống?". Vợ Vương bèn kể hết nỗi khổ, nghẹn ngào rơi lệ, bà già đưa chiếc

thoa cho nàng bảo đem cầm lấy tiền đong gạo, ba ngày nữa sẽ tới thăm. Vương cố giữ lại, bà nói

"Ngươi chỉ có một vợ mà ni khơng nổi, ta ở lại đây thì chỉ ngồi ngắm xà nhà chứ có ích gì?" rồi đi

thẳng.

Vương kể lại đầu đuôi, vợ sợ lắm nhưng Vương ca tụng ơn nghĩa của bà già, dặn phải thờ bànhư

mẹ, vợ vâng dạ. Ba ngày sau quả nhiên bà già tới, đưa mấy đồng vàng bảo đong gạo và bột mì mỗi thứ

một thạch, tối đến cùng vợ Vương nằm chung trên một cái giường nhỏ. Vợ Vương lúc đầu sợ sệt

nhưng xét tình ý thấy bà rất trìu mến nên cũng khơng ngờ vực gì nữa. Hơm sau bà nói với Vương

"Cháu đừng lười, nên tìm một nghề mọn mà làm chứ ngồi ăn không làm sao lâu dài được?”. Vương

thưa là khơng có vốn, bà nói “Lúc ơng nội ngươi còn sống thì vàng lụa cứ mặc ý mà lấy, nhưng vì ta

khơng phải là người trần, không cần tới các thứ ấy nên không lấy nhiều, chỉ để dành bốn mươi lượng

vàng làm tiền phấn sáp. Đến nay vẫn còn, cất lâu cũng chẳng làm gì, ngươi cứ đem đi mua hết vải cát

rồi mang gấp vào kinh, có thể lãi chút ít”.

Vương vâng lời, mua hơn năm mươi tấm mang về, bà già bảo thu xếp hành trang, tính độ đường

khoảng sáu bảy ngày là tới Yên Kinh, dặn rằng “Phải siêng đừng lười, phải gấp đừng hoãn, chậm mất

một ngày, ăn năn đã muộn”. Vương kính cẩn vâng dạ, xếp hàng vào bọc lên đường.



Dọc đường gặp mưa, áo giày ướt sũng, Vương bình sinh chưa trải sương gió nên mệt quá bèn nghỉ

tạm lại quán trọ, không ngờ mưa cứ tầm tã đến tối, nước trên máng xối rót xuống như dây thừng. Qua

đêm đường càng lầy lội, thấy người đi đường bùn ngập lút cổ chân, trong lòng rất nản. Chờ đến trưa

đường mới hơi mới hơi khô ráo, nhưng mây đen lại kéo tới, lại đổ mưa lớn, phải ngủ qua đêm nữa

mới đi được.

Gần tới kinh nghe đồn vải cát đang có giá, trong lòng mừng thầm nhưng vào tới kinh thành ghé lại

quán trọ thì chủ trọ rất tiếc vì Vương tới chậm. Trước đó đường giao thơng với phía Nam mới mở, vải

cát tới rất ít, các nhà giàu sang trong kinh lại thường mua nhiều nên giá đắt gấp ba, nhưng trước đó

một ngày thì những người buôn vải cát đổ tới đông nghẹt nên giá sụt hẳn, những người tới sau đều thất

vọng.

Chủ trọ nói rõ cho Vương biết, Vương ưu uất không vui. Qua một ngày vải cát tới càng nhiều, giá

càng sụt, Vương thấy khơng có lãi nên khơng chịu bán. Nấn ná hơn mười ngày, tiền ăn ở tính ra đã tốn

khá nhiều, càng thêm lo buồn. Chủ trọ khuyên nên bán rẻ để tính cách khác, Vương nghe theo bán tháo

hết, lỗ hơn mười lượng. Sáng dậy sớm định ra về, mở túi ra xem thì tiền đã mất sạch, phát hoảng nói

với chủ trọ, chủ trọ cũng khơng biết làm sao.

Có người khuyên lên kêu với quan bắt chủ trọ bồi thường, Vương than “Đó là số phận của ta chứ

chủ trọ có lỗi gì?”. Chủ trọ nghe thế rất cám ơn Vương, tặng năm lượng vàng rồi an ủi khuyên về.

Vương nghĩ khơng còn mặt mũi nào gặp lại bà nội, loanh quanh ra vào khơng biết tính sao.

Chợt thấy có bọn chọi chim thuần, mỗi lần chọi đặt cuộc tới mấy ngàn, mua một con chim thuần có

khi hơn trăm quan tiền. Vương chợt động tâm, tính lại tiền túi thì chỉ đủ bn chim thuần, bèn bàn với

chủ trọ. Chủ trọ hết súc vun vào, lại hứa cho ăn ở không phải trả tiền. Vương mừng bèn đi, mua một

gánh chim thuần trở lại kinh thành, chủ trọ cũng mừng, chúc cho bán đắt hàng.

Đến đêm mưa to đến sáng sớm, khi trời sáng nước trên đường chảy như sông mà mưa vẫn chưa

ngớt, Vương ngồi chờ tạnh mà mưa liên tiếp mấy ngày khơng ngớt. Dậy nhìn thì thấy chim thuần trong

lồng chết dần. Vương sợ lắm mà không biết làm sao. Đến hôm sau thuần chết càng nhiều, chỉ còn vài

con bèn dồn chung vào một lồng, qua đêm lại ra xem thì chỉ còn một con sống. Bèn vào nói với chủ

trọ, bất giác sa lệ, chủ trọ cũng ái ngại. Vương tự liệu hết tiền khơng về được chỉ muốn tìm đường

chết, chủ trọ khuyên giải an ủi, kế cùng ra xem con thuần, ngắm kỹ rồi nói "Hình như là một con chim

hay, những con kia biết đâu khơng phải do bị nó chọi chết? ông đang rảnh rỗi cứ tập luyện cho nó, nếu

quả là chim hay thì mang đi đánh cuộc cũng mưu sinh được", Vương theo lời.

Khi con chim đã thuần, chủ trọ bảo đem ra phố đánh cuộc lấy rượu thịt. Con thuần rất khỏe, chọi

lần nào cũng thắng, chủ trọ mừng rỡ đưa tiền cho Vương bảo đánh cuộc với đám con em nhà giàu, ba

lần chọi ba lần thắng. Khoảng nửa năm thì tích cóp được hai mươi lượng vàng, trong lòng cũng được

an ủi, coi con thuần như tính mạng của mình.

Trước đó có thân vương nọ thích chọi chim thuần, hàng năm cứ đến tiết Thượng nguyên lại cho

những người chơi chim thuần trong dân gian đem tới vương phủ để chọi. Chủ trọ nói với Vương "Nay

thì có thể trở thành đại phú ngay, có điều khơng biết vận số của ơng ra sao”. Bèn nói rõ sự tình rồi dắt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vị Tiên Họ Thành (Thành Tiên)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×