Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



11



Học viện Tài chính



dụng để xây dựng hoặc trang bị các tài sản cố định trong khi vốn lưu động lại

là số vốn tiền tệ ứng trước để mua sắm, hình thành các tài sản lưu động như

nguyên vật liệu dự trữ sản xuất, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành

phẩm chờ tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán. Cách phân

loại này sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp có biện pháp tổ chức quản lý,

phân bổ sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp và hiệu quả.

Bên cạnh tài sản cố định, để quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp có thể vận hành và duy trì một cách bình thường, liên tục thì

cũng cần có các tài sản lưu động. Phạm vi sử dụng tài sản trải rộng và bao

qt trong tồn bộ các cơng đoạn của quy trình và thường được chia thành hai

bộ phận: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Tài sản lưu

động sản xuất bao gồm các loại như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên

liệu, phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ sản xuất và các loại sản

phẩm dở dang, bán thành phẩm. Còn tài sản lưu động lưu thơng bao gồm các

loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu thông như thành phẩm trong kho chờ

tiêu thụ thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền. Trong quá trình sản xuất kinh

doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông không ngừng

vận động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho q trình này

diễn ra nhịp nhàng, liên tục, do đó giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, mật

thiết, chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Và để hình thành các tài sản lưu

động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các

tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

Như vậy, trên cơ sở tổng hợp sự phân tích ở trên, ta có thể đưa ra khái niệm

cơ bản về vốn lưu động như sau:

“Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu

tư hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



12



Học viện Tài chính



sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Nói cách khác, vốn lưu động là biểu

hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp.

1.1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động

Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh. Vốn lưu động hồn thành một

vòng tuần hồn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Vốn lưu động trong doanh nghiệp ln thay đổi hình thái biểu hiện trong

q trình tuần hồn ln chuyển. Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ

sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được

chuyển dịch tồn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.

Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hồn, từ hình thái này sang hình

thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.

Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả sử

dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.2. Phân loại vốn lưu động của DN



Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải phân loại vốn lưu

động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu

quản lý

1.1.2.1. Căn cứ vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh

doanh

Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được phân thành 3

loại:

(1) Vốn lưu động trong khâu dự trữ

Bao gồm các khoản vốn sau:

- Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản xuất mà



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



13



Học viện Tài chính



khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm.

- Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất. Các

loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp

với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngồi

của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất sản phẩm thực hiện

được bình thường, thuận lợi.

- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản

xuất kinh doanh.

- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa

các tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào q

trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.

- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn

là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến

hành liên tục.

(2) Vốn lưu động trong khâu sản xuất

Bao gồm các khoản vốn:

- Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh

doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.

- Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị các

chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua những

công đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng

(thành phẩm).



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



14



Học viện Tài chính



- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng

cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản

phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số

kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây

dựng, lắp đặt các cơng trình tạm thời, chi phí về ván khn, giàn giáo phải lắp

dùng trong xây dựng cơ bản...

Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản

xuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp

lý.

(3) Vốn lưu động trong khâu lưu thông

Loại này bao gồm các khoản vốn:

- Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu

chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.

- Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang

chuyển. Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển

đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh

doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.

- Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn

hạn... Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh tốn

(do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư), mặt

khác tận dụng khả năng sinh lời của các tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

- Các khoản vốn trong thanh toán: các khoản phải thu, các khoản tạm ứng...

Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của khách hàng, thể

hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán



SV: Hồng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



15



Học viện Tài chính



hàng hố, dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau. Khoản mục vốn này liên

quan chặt chẽ đến chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một

trong những chiến lược quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị

trường. Ngoài ra, trong một số trường hợp mua sắm vật tư, hàng hố doanh

nghiệp còn phải ứng trước tiền cho người cung cấp từ đó hình thành khoản

tạm ứng.

Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên,

đều đặn theo nhu cầu của khách hàng. Việc phân loại vốn lưu động theo

phương pháp này giúp cho việc xem xét đánh giá tình hình phân bổ của vốn

lưu động trong từng khâu của q trình chu chuyển vốn lưu động. Thơng qua

đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn

lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn lưu động.

1.1.2.2. Theo các hình thái biểu hiện

(1) Tiền và các tài sản tương đương tiền

- Vốn bằng tiền

- Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.

Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi khả

năng thanh tốn nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt để

vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn lưu

động.

(2) Các khoản phải thu

Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nắm bắt chặt chẽ và đưa

ra những chính sách tín dụng thương mại hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của

khách hàng, nâng cao doanh số bán cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



16



Học viện Tài chính



(3) Hàng tồn kho

Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể bao

gồm:

- Vốn nguyên, nhiên vật liệu

- Vốn nguyên vật liệu chính

- Vốn vật liệu phụ

- Vốn nhiên liệu

- Cơng cụ, dụng cụ trong kho

- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

- Thành phẩm tổn kho

- Hàng gửi bán

- Hàng mua đang đi trên đường

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm

đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ

- sản xuất - lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải

lúc nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản

xuất và bộ phận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động

sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế

hoạch sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanh nghiệp tự

bảo vệ trước những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối

với các sản phẩm của doanh nghiệp.

(4) Tài sản lưu động khác

- Tạm ứng

- Chi phí trả trước



SV: Hồng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



17



Học viện Tài chính



- Chi phí chờ kết chuyển

- Các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn

1.1.2.3. Theo nguồn hình thành của vốn lưu động

Theo cách phân loại này, vốn lưu động được chia làm 2 loại:

(1) Nguồn vốn chủ sở hữu

Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy

đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt. Tuỳ

theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn

chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn lưu động được ngân sách nhà

nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanh nghiệp

nhà nước); số vốn do các thành viên (đối với loại hình doanh nghiệp công ty)

hoặc do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; số vốn lưu động tăng thêm từ lợi

nhuận bổ sung; số vốn góp từ liên doanh liên kết; số vốn lưu động huy động

được qua phát hành cổ phiếu.

(2) Nợ phải trả

- Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay

các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thơng qua

phát hành trái phiếu.

- Nguồn vốn trong thanh tốn: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp

khác trong q trình thanh tốn.

Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình

thành nên vốn lưu động của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ

động và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu

quả hơn.



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



18



Học viện Tài chính



1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp



Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho

việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.Để

biến những ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, doanh nghiệp

cần phải có một lượng vốn nhằm hình thành nên các tài sản cần thiết cho hoạt

động của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra. Điều này đặt ra yêu cầu

doanh nghiệp trong quá trình quản trị vốn cần phải có sự cân nhắc lựa chọn

hình thức huy động vốn phù hợp và tổ chức nguồn vốn của mình một cách

hợp lý. Chính vì vậy việc phân loại nguồn vốn theo các tiêu thức khác nhau sẽ

là cơ sở quan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể tiếp tục nâng cao hiệu quả

sử dụng và phân bổ nguồn lực của mình. Thơng thường trong cơng tác quản

lý, nguồn vốn của doanh nghiệp được phân loại theo ba phương pháp cơ bản

tương ứng với ba tiêu thức đó là: Phân loại dựa vào quan hệ sở hữu vốn, Phân

loại dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn và Phân loại dựa vào phạm vi

huy động vốn. Trong đó, phương pháp phân loại dựa vào tiêu thức thời gian

huy động và sử dụng vốn là phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả vì

tiêu thức này phù hợp với việc phân chia tài sản thành hai bộ phận gồm tài

sản ngắn hạn và tài sản dài hạn do đó sẽ cho phép doanh nghiệp xem xét và

đánh giá được sự tương thích giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản. Căn cứ

vào tiêu thức này, nguồn vốn của doanh nghiệp có thể được phân chia thành

hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và Nguồn vốn tạm thời.

- Nguồn vốn tạm thời:Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn có tính chất ngắn

hạn (dưới 1 năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các u cầu có tính

chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn tạm thời

thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản

nợ ngắn hạn khác.



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



19



Học viện Tài chính



- Nguồn vốn thường xuyên: Nguồn vốn thường xuyên là tổng thế các nguồn

vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động sản

xuất kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình

thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại

một thời điểm có thể được xác định bằng công thức:

Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn

Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng TS của doanh nghiệp – Nợ ngắn hạn

Như vậy, xuất phát từ đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động, nguồn hình

thành vốn lưu động có thể bao gồm cả nguồn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời)

và nguồn dài hạn (nguồn vốn thường xuyên). Do đó, khi xem xét ở góc độ

nguồn vốn lưu động thì nguồn vốn này cũng được chia thành hai bộ phận là

nguồn vốn lưu động lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời.

+ Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Nguồn vốn lưu động thường xuyên là

nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho TSLĐ

thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là

một phần hay tồn bộ tài sản lưu động thường xuyên tùy thuộc vào chiến lược

tài chính của doanh nghiệp) nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và ổn định.

+ Nguồn vốn lưu động tạm thời: Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn

ngắn hạn cho TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đáp ứng những biến động tăng

giảm theo chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khi lựa chọn nguồn tài trợ nào doanh nghiệp cũng cần phải

cân nhắc tới các yếu tố khác như: tỷ lệ chiết khấu, dòng tiền chiết khấu, chi

phí huy động nguồn tài trợ và chi phí cơ hội để từ đó có thể đưa ra những

quyết định tài chính phù hợp.



SV: Hoàng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



20



Học viện Tài chính



1.2. QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP



1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp



1.2.1.1. Khái niệm quản trị vốn lưu động

Trên cơ sở định hướng kết hợp giữa nền tảng lý luận về quản trị tài chính

doanh nghiệp được đặt trong mối tương quan với đặc điểm và tính chất của

vốn lưu động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản trị vốn lưu động như sau:

“ Quản trị vốn lưu động là q trình phân tích, hoạch định, lựa chọn, ra

các quyết định, tổ chức thực hiện song song với việc kiểm soát, điều chỉnh

một cách hợp lý các quyết định tài chính ngắn hạn liên quan trực tiếp tới vốn

lưu động trong doanh nghiệp để qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản

xuất kinh doanh cũng như thực hiện được mục tiêu tối đa hóa giá trị cho

doanh nghiệp”.

1.2.1.2. Mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp

Nghiên cứu khái niệm tổng quan về quản trị vốn lưu động, chúng ta có thể

nhận thấy rằng hoạt động quản trị vốn lưu động luôn luôn gắn liền và có mối

quan hệ chặt chẽ với quyết định tài chính ngắn hạn. Chính vì vậy mà mục tiêu

quản trị vốn lưu động cũng có sự tương quan mật thiết với yêu cầu của quyết

định tài chính ngắn hạn và mục tiêu quản trị tài chính doanh nghiệp đó là: tối

ưu hóa khả năng sinh lời, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị. Các mục

tiêu quản trị vốn lưu động không tách bạch riêng rẽ mà có sự bổ sung hồn

thiện cho nhau. Từ nền tảng quan điểm kinh tế học xác định mục tiêu của một

doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động kinh doanh là nhằm tối đa hóa lợi

nhuận thì khi phân tích trên góc độ tài chính doanh nghiệp mục tiêu này được

điều chỉnh với yếu tố thời gian sinh lời để chuyển hóa thành định hướng tối

ưu hóa khả năng sinh lời. Đến lượt mục tiêu tối ưu hóa khả năng sinh lời có



SV: Hồng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Luận văn tốt nghiệp



21



Học viện Tài chính



sự phối hợp hiệu quả cùng mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro trong điều kiện môi

trường kinh doanh tiềm ần biến động, nhà quản trị sẽ thực hiện được mục tiêu

tổng quát xuyên suốt và cũng đồng thời là mục tiêu quan trọng nhất là tối đa

hóa giá trị cho doanh nghiệp cũng như chủ sở hữu. Hoạt động quản trị vốn

lưu động - một bộ phận thống nhất không tách rời trong tổng thể cơng tác

quản trị tài chính của doanh nghiệp do đó tất yếu cũng sẽ phát huy hiệu quả

khi thực hiện được mục tiêu mang tính tồn diện này trong quá trình xây dựng

và phát triển doanh nghiệp.

1.2.2. Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp



1.2.2.1. Xác định nhu cầu vốn lưu động và tổ chức nguồn vốn lưu động

Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động

của doanh nghiệp

 Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp: Nhu cầu vốn lưu động thường

xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường,

liên tục và có thể xác định nhu cầu vốn lưu động theo công thức:

Nhu cầu =

VLĐ



Vốn hàng

tồn kho



+



Khoản nợ



-



phải thu



Khoản nợ phải trả

nhà cung cấp



 Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

a. Phương pháp trực tiếp

Nội dung phương pháp là xác định trực tiếp nhu cầu vốn cho hàng tồn kho,

các khoản phải thu, các khoản phải trả nhà cung cấp rồi tập hợp lại thành tổng

nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp

- Xác định nhu cầu vốn hàng tồn kho: Bao gồm vốn hàng tồn kho trong các

khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và khâu lưu thơng.



SV: Hồng Kim Tuấn Anh



Lớp: CQ50/11.15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×