Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LỄ HỘI ĐỀN NHÀ BÀ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CÁC LỄ HỘI GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI TỈNH PHÚ THỌ

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LỄ HỘI ĐỀN NHÀ BÀ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CÁC LỄ HỘI GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI TỈNH PHÚ THỌ

Tải bản đầy đủ - 0trang

59



Phải chăng vì di tích đền Mẫu Âu Cơ được xếp hạng là di tích lịch sử văn hố cấp

quốc gia nên sự chú trọng đầu tư của Nhà nước có phần ưu ái hơn so với các di

tích khác. Yêu cầu xã hội cùng với xu hướng phát triển của thời đại, chi phí phục

vụ cho lễ hội ngày càng lớn, trong khi đời sống của nhân dân ở nơi đây vẫn còn

gặp nhiều khó khăn. Đó là vấn đề bất cập đặt ra cho bất kì lễ hội nào.

3.1.2. Hiệu quả giáo dục

Dư luận đã dám mạnh dạn và thẳng thắn cho rằng hiệu quả giáo dục mà lễ

hội mang lại vẫn đang ở mức rất thấp. Cái chưa được rõ nhất và lớn nhất là tôn

vinh và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội, cũng như tác dụng của giáo dục

truyền thống cho thế hệ trẻ còn chưa đạt được.

Cụ thể khi tiến hành điều tra ngắn đối với một số thanh niên sau khi rời

khỏi lễ hội thì tác giả đã thu được một số kết quả đáng buồn. Từ những câu hỏi

đơn giản như: Lễ hội này tôn vinh ai? Người này sống ở thế kỉ nào? Hoàn cảnh

đất nước lúc ấy như thế nào? Người này có cơng lao gì? Giá trị văn hố gì đáng

để bạn học ở lễ hội này… Đa số những bạn trẻ trực tiếp tham gia trả lời những

câu hỏi này thì đều khơng trả lời được hoặc trả lời khơng đúng. Cũng khơng khó

hiểu về hiện tượng này vì đa phần thanh thiếu niên đi dự lễ hội chỉ với mục đích

đơn giản là đi chơi với bạn bè.

Khi chúng tôi tiến hành một số điều tra khác nhằm phân loại đối tượng

đến dự lễ hội thì phần đơng khách là nơng dân và những người bn bán nhỏ,

còn tỷ lệ trí thức sinh viên, học sinh trung học phổ thông, công nhân công

nghiệp, cán bộ cơng chức… thì ít hơn, tỷ lệ người trung tuổi và người nhàn rỗi

lại tương đối cao, tỷ lệ trẻ em nhỏ tới xem lễ hội cũng tương đối đơng, nhưng

mục đích chỉ là tò mò hoặc do ơng bà, bố mẹ đưa đi theo.

Như vậy đối tượng lớp trẻ và có học thức thì ít tham gia lễ hội hơn các đối

tượng khác, còn thực tế là đa phần người đến dự lễ hội khơng phải là tìm đến cái

giá trị văn hoá của lễ hội, để được trực tiếp hưởng thụ cái giá trị văn hoá đáng

quý ấy. Nếu như vẫn tiếp tục cách tổ chức một số lễ hội như hiện nay thì chúng

ta vơ hình chung đang làm dung tục hoá, tầm thường hoá hoạt động lễ hội vốn

tốt đẹp và cao quý của quá khứ, vơ tình hay cố ý làm mất đi giá trị văn hoá

truyền thống mà lịch sử để lại.



60



3.2. Giải pháp bảo tồn, phát huy lễ hội đền Nhà Bà tại xã Tiên Du, huyện

Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

3.2.1. Quan điểm về bảo tồn lễ hội

Bảo tồn và phát huy lễ hội Đền Nhà Bà là một vấn đề cần thiết, đó chính

là cơ sở để phát huy giá trị của các lễ hội truyền thống trên quê hương Đất Tổ

nhằm kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, khơi dậy những nét đẹp cổ

truyền và những mặt tích cực của lễ hội, góp phần xây dựng đời sống văn hoá

ngày càng phát triển.

Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là chúng ta nên bảo tồn theo mơ hình

nào? Thường có ba mơ hình bảo tồn lễ hội:

Thứ nhất là bảo tồn y nguyên: Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo

tồn văn hoá vật thể của các nhà bảo tàng học. Theo quan điểm này, các sản phẩm

của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có. Quan điểm này phát

triển từ năm 1850 và thịnh hành trong một thời gian dài. Đối với các lễ hội

truyền thống – một loại hình văn hố phi vật thể thì việc xác định đâu là yếu tố

nguyên gốc sẽ gặp phải những khó khăn. Một mặt những thay đổi lịch sử tác

động đến sự biến đổi về chức năng của các lễ hội dẫn đến biến đổi cấu trúc lễ

hội. Mặt khác, bất cứ một lễ hội nào cũng tự tích hợp những yếu tố văn hố của

thời đại hoặc ngoại lai (dù vơ tình hay hữu ý) để thích nghi với từng thời đại.

Điều quan trọng hơn là bản chất của lễ hội là sự lựa chọn và sáng tạo của từng

cộng đồng.

Thứ hai là bảo tồn trên cơ sở kế thừa: Quan điểm này thừa nhận sự biến

đổi của di sản, nhưng lại cực đoan cho rằng mỗi di sản có nhiệm vụ lịch sử ở

những không gian và thời gian cụ thể, những mặt tích cực của chúng phải được

phát huy cho phù hợp với nhu cầu của thời đại. Mặt khác những những mặt tiêu

cực phải được loại bỏ. Di sản, nhất là di sản văn hoá phi vật thể luôn là một thực

thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực hay tiêu cực, tiến bộ

hay lạc hậu, tốt hay xấu… Vì thế, khi chúng bị chia cắt thành một thực thể siêu

hình thì lập tức bị biến dạng và tiêu vong. Thực tiễn ở Việt Nam đã cho thấy, với

quan điểm bảo tồn này, lễ hội chỉ còn lại phần “hội”, nhiều hình thái văn hố gắn

với tín ngưỡng cổ xưa, nhiều diễn xướng dân gian có giá trị bị coi là dị đoan. Rõ

ràng bảo tồn di sản theo quan điểm này sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là nhiều



61



hình thái văn hoá cổ truyền mà dưới con mắt của người đương thời là không phù

hợp sẽ bị gỡ bỏ, di sản sẽ khơng còn tồn vẹn nữa.

Thứ ba là bảo tồn – phát huy: Đây là quan điểm đang giữ vị trí chủ đạo

trong giới học thuật cũng như giới quản lý văn hoá ở nhiều nước phát triển trên

thế giới. Quan điểm này không bận tâm với việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên

như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm là làm thế nào để di

sản sống và phát huy được giá trị của nó trong đời sống đương đại. Hạt nhân của

quan điểm này là kinh nghiệm “tính chân thực”. Nếu như các quan điểm truyền

thống cho rằng độ chân thực là cốt lõi của di sản thì ngày nay người ta lại đánh

giá thấp vai trò của tính chân thực này. Chân thực hay không, không phải là một

giá trị khách quan mà độ chân thực được đo bằng trải nghiệm.

Nhiều năm qua, Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam đã cũng với các địa

phương tiến hành bảo tồn một số lễ hội truyền thống theo quan điểm và lý thuyết

“bảo tồn – phát triển”. Lễ hội Kiếp Bạc năm 2006, lễ hội Tịch Điền năm 2009,

lễ hội Lảnh Gian năm 2009 là những thể nghiệm khá thành cơng khi áp dụng mơ

hình bảo tồn này. Những lễ hội này không chỉ thu hút giới truyền thông quảng

bá cho di sản, không chỉ làm tăng lượng khách tham quan du lịch cho di sản, qua

đó tăng nguồn doanh thu cho các khu di tích, mà còn là niềm tự hào của địa

phương, của các cộng đồng dân cư sở tại về những nét văn hoá độc đáo mà chỉ

lễ hội của họ mới có. Đó chính là những cơ sở vững chắc để di sản được bảo tồn

trong xã hội đương đại. Vậy chăng, lễ hội đền Nhà Bà cũng nên được bảo tồn và

phát triển theo mô hình này.

3.2.1. Nhóm giải pháp về đổi mới cơng tác tổ chức và quản lí

Có thể khẳng địng rằng cơng tác quản lý và tổ chức lễ hội ngày càng có

nhiều chuyển biến tiến bộ, vừa giữ gìn và phát triển những nét đẹp văn hoá

truyền thống, vừa kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố hiện đại, phát huy tác

dụng tích cực của lễ hội, nêu cao ý thức giáo dục truyền thống. Lễ hội đã đáp

ứng một cách thiết thực, hiệu quả đời sống văn hoá tinh thần, tâm linh của nhân

dân, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hố làng q.

Tuy nhiên để cơng tác tổ chức và quản lý lễ hội hiệu quả, ban tổ chức lễ

hội và chính quyền địa phương cần bảo đảm trật tự, tiết kiệm, phát huy tốt các

giá trị văn hố, góp phần khai thác tiềm năng kinh tế du lịch. Trong quá trình

điều hành và tổ chức lễ hội cần chú ý một số biện pháp sau:



62



Tính toán, cân nhắc kĩ lưỡng để đề ra kế hoạch chi tiết, cụ thể khi tổ chức

lễ hội. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu và các bước thể nghiệm định hình các

bước tiến trình của phần nghi lễ và các hoạt động của phần hội. Chính quyền địa

phương các cấp kết hợp chặt chẽ các hoạt động vui chơi giải trí, khơng để nảy

sinh các hoạt động tiêu cực, đánh mất bản sắc văn hố và mục đích tốt đẹp của

lễ hội.

Việc chú trọng bảo tồn, giữ gìn phát huy giá trị truyền thống và làm phong

phú hơn các giá trị mới trong lễ hội là một vấn đề có ý nghĩa lâu dài. Để đạt

được điều này lễ hội phải đảm bảo những yêu cầu sau, thứ nhất phải “Tinh”: nội

dung phải phù hợp với đặc điểm của địa phương; thứ hai phải “Giản”: tổ chức

gọn nhẹ, an toàn và chu đáo; thứ ba phải “Kiệm”: tiết kiệm thời gian, sức người,

sức của và tiền bạc, tránh phơ trương hình thức lãng phí; thứ tư phải Lạc: vui

tươi lành mạnh thiết thực và bổ ích.

Cần nghiên cứu tổ chức lễ hội ngày càng khoa học, có ý nghĩa như: phục

hồi những trò chơi dân gian truyền thống gắn với việc xây dựng nông thôn mới,

xây dựng gia đình văn hố, bảo vệ cơng trình di tích văn hố, giữ gìn vệ sinh

mơi trường đặc biệt coi trọng tính đặc thù, tính độc đáo riêng của lễ hội.

Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành, bổ sung và hoàn

thiện các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn,

theo hướng phân công, phân cấp, phân quyền rõ ràng. Tăng cường vai trò trách

nhiệm của cơ quan quản lý văn hố các cấp, đi đơi với việc khơng ngừng phát

huy tính chủ động, sáng tạo của cộng đồng – chủ thể văn hoá của lễ hội.

Nâng cao nhận thức, năng lực tổ chức và quản lý lễ hội cho các cấp chính

quyền, cán bộ quản lý văn hố các cấp và cộng đồng thơng qua các hình thức,

biện pháp phong phú và đa dạng, hiệu quả hơn.

Đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, giáo dục phổ biến phù hợp

với từng đối tượng để hiểu rõ và nâng cao nhận thức, ý nghĩa và giá trị văn hoá

lịch sử của lễ hội, tạo sự chuyển biến tích cực trong tổ chức quản lí và tham gia

lễ hội.

Tiến hành phân loại, đánh giá một cách nghiêm túc giá trị của lễ hội, để từ

đó lựa chọn phục hồi, có biện pháp quản lý phù hợp. Việc phục hồi lễ hội phải

tuân thủ nguyên tắc và tiêu chí khoa học, với quan điểm xác định lễ hội dân gian

là di sản văn hố.



63



Nâng cao năng lực và cơng tác phối hợp, kết hợp giữa các cơ quan chức

năng của Bộ Văn hố, Thể thao và Du lịch có liên quan tới cơng tác lễ hội như:

Cục Văn hố cơ sở, Cục Di sản văn hoá, Vụ văn hoá dân tộc, Viện Văn hoá

Nghệ thuật Việt Nam.

Cần tiếp tục tổ chức các hội thảo chuyên đề về công tác lễ hội, để bàn sâu

về những vấn đề như: mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch, thương mại hoá trong

lễ hội, bảo tồn phát huy giá trị của lễ hội…

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm trong lĩnh vực tổ

chức và quản lý lễ hội. Khen thưởng các đơn vị, cá nhân có đóng góp hiệu quả

và tích cực.

Có hình thức đãi ngộ phù hợp với các nghệ nhân dân gian còn bảo tồn

được nội dung và hình thức trò diễn. Tổ chức các lớp truyền dạy, hướng dẫn

những lời ca động tác truyền thống nhằm bảo tồn nguyên vẹn các hoạt động văn

hoá dân gian có tính điển hình nhưng mang lại tính khơi hài để mua vui làm cho

lễ hội thêm sôi động và hấp dẫn.

3.2.2. Nhóm giải pháp về cơng tác tun truyền

Từ bao đời lễ hội là nhu cầu tinh thần của nhân dân xã Tiên Du nói riêng

và nhân dân cả nước nói chung. Những năm gần đây, người dân tham gia lễ hội

ngày càng đông, đặc biệt là lễ hội đền Nhà Bà. Điều đó phản ánh đời sống kinh

tế, xã hội được nâng cao hơn trước. Chính vì vậy, làm thế nào để lễ hội trở thành

một kỉ niệm đẹp, thiêng liêng in đậm dấu ấn trong lòng người dân và du khách là

một vấn đề quan trọng.

Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người tham dự lễ hội đều xác định đúng

mục đích. Có những người đến với lễ hội chỉ để vui chơi, hay tham gia mà

không biết khơng hiểu gì về giá trị của lễ hội mà mình tham dự.

Chính vì vậy, các ban, ngành, đồn thể, các cấp cần đẩy mạnh tuyên

truyền về nội dung ý nghĩa của hoạt động lễ hội. Đây là việc làm cần thiết để lễ

hội thực sự là bảo tàng sống, được lưu giữ trong cộng đồng.

Mặt khác, lễ hội là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần, liên quan

đến nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội. Điều này làm cho công tác tuyên

truyền không tránh khỏi những hạn chế tiêu cực. Để chấn chỉnh những mặt tiêu

cực chính quyền các cấp, và các đơn vị có liên quan phải tiến hành rất nhiều biện



64



pháp, trong đó khơng chỉ có những biện pháp tun truyền vận động mà còn phải

áp dụng những biện pháp mang tính bắt buộc trong trường hợp cần thiết.

Đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng

và hoàn cảnh thực tế của địa phương, để nâng cao nhận thức nhận thức, ý nghĩa

và giá trị văn hoá lịch sử của lễ hội là việc nên làm.Chính quyền địa phương

hoặc ban quản lý di tích nên sưu tầm, biên soạn tư liệu về công trạng của những

nhân vật được thờ tự, giảng giải cho người dân trong cộng đồng cũng như khách

dự lễ hội về nguồn gốc của lễ hội và các nghi thức thờ cúng nhất thiết phải được

tn thủ. Bên cạnh đó là việc khơi phục lại những trò chơi, trò diễn có nhiều giá

trị văn hoá trong lễ hội, phải hiểu được ý nghĩa, giá trị của lễ hội thì người dân

mới có ý thức giữ gìn và phát huy vốn tinh hoa văn hố đó.

Cùng với các hoạt động trên, chúng ta quan tâm, tuyên truyền, giáo dục

nâng cao nhận thức cho cộng đồng, phòng ngừa những hoạt động mê tín, dị

đoan, các tệ nạn xã hội khác sống kí sinh trong lễ hội. Nếu người dân có ý thức

hơn trong việc đốt vàng mã, coi việc xem bói tốn là những điều nhảm nhí thì

việc ngăn cấm những tệ nạn này sẽ khơng còn gặp khó khăn nữa.

Có thể nói lễ hội đền Nhà Bà sẽ được nhiều người biết đến khi làm tốt và

phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền. Đây là trách nhiệm không chỉ của các

nhà quản lý văn hố mà còn là trách nhiệm của chính quyền các cấp, các ngành

nơi diễn ra lễ hội.

Tuy nhiên cũng giống như các lễ hội khác, công tác tuyên truyền giới

thiệu về lễ hội đền Nhà Bà còn gặp nhiều khó khăn. Mà nguyên nhân chủ yếu do

công tác tổ chức, quản lý lễ hội hiện nay là giao cho Uỷ ban nhân dân cấp

huyện, cấp xã thực hiện. Vai trò quản lý của ngành văn hoá trong quản lý lễ hội

chưa thực sự được đề cao. Vì vậy để lễ hội thực sự là nhu cầu tất yếu thì đòi hỏi

công tác tuyên truyền cần đuộc đẩy mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau.

3.2.3. Nhóm giải pháp về xây dựng thương hiệu cho lễ hội

Lễ hội dân gian là bộ phận quan trọng của di sản văn hoá phi vật thể, hợp

thành kho tàng di sản văn hoá quý báu của dân tộc, là nét đẹp văn hố được hình

thành, bổ sung và phát triển cùng với lịch sử lâu đời của dân tộc. Lễ hội đã trở

thành nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thoả mãn khát vọng về

nguồn, nhu cầu văn hoá tâm linh, tăng cường giao lưu trong sinh hoạt văn hoá



65



cộng đồng của từng khơng gian nhất định, góp phần tạo nên sự đa dạng văn hoá

tuy nhiên hiện nay rất nhiều lễ hội đã bị mai một và biến dạng.

Vì vậy, lễ hội đền Nhà Bà phải tự xây dựng thương hiệu cho mình, lễ hội

có danh tiếng, sức lan toả, ảnh hưởng sẽ thu hút các nhà đầu tư trở lại, giúp lễ

hội phát triển hơn. Đó là mối quan hệ bổ trợ khăng khít.

Xây dựng thương hiệu từ quy mơ là tất yếu. Lễ hội chỉ có thể được mọi

người biết đến khi được tổ chức với quy mô rộng lớn và bài bản. Quy mơ chính

là kết quả của q trình xã hội hố lễ hội. Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho lễ

hội không chỉ là trách nhiệm của các nhà quản lý văn hố mà còn là trách nhiệm

của nhân dân. Để lễ hội đền Nhà Bà đến với đơng đảo người dân gần xa thì cơng

tác tổ chức lễ hội đóng vai trò quan trọng.

Xây dựng thương hiệu cho lễ hội là cơ sở để bảo tồn nét đẹp văn hoá làng

xã trên vùng Đất Tổ vua Hùng. Trong những năm gần đây lễ hội đền Nhà Bà

ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong kho tàng văn hoá dân gian

Đất Tổ.

Ý nghĩa và cách thức tổ chức lễ hội là cơ sở để xây dựng thương hiệu cho

lễ hội. Lễ hội đền Nhà Bà được tổ chức vào ngày 9 tháng 2 âm lịch hằng năm,

để tưởng nhớ công lao của hai nàng cơng chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa đã có cơng

dạy dân trồng lúa nước, chăn tằm, dệt vải, cùng các vị tướng thời Hùng Vương.

Vì vậy, lễ hội đền Nhà Bà khơng chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang giá trị văn

hoá đặc sắc, đây cũng là cơ sở để bảo tồn phát huy những vốn văn hoá cổ truyền

tốt đẹp của dân tộc.

Xây dựng thương hiệu được đặt ra với tầm nhìn chiến lược cả về bề rộng

và chiều sâu với nhiều nội dung và phương thức: thu băng, ghi đĩa để lưu trữ,

bảo quản lâu dài đồng thời truyền tải đến mọi người dân. Từ đó giới thiệu quảng

bá giữ gìn và truyền dạy cho các thế hệ mai sau. Lễ hội chỉ có thể có thương

hiệu, linh hồn và sức sống khi chính nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là

người trình diễn và lưu giữ. Coi lễ hội là đặc sản văn hoá để giới thiệu và quảng

bá với du khách trong nước và quốc tế.

Lễ hội có tác động sâu sắc đến tình yêu quê hương đất nước, gợi mở sự

hiểu biết về cội nguồn tổ tiên, do đó lễ hội cần được đưa vào giáo dục trong nhà

trường địa phương. Đó là cơ sở để thế hệ trẻ được biết đến nền văn hoá dân gian

đặc sắc của quê hương, của dân tộc.



66



Với mục đích chung là bảo tồn và phát huy vốn văn hoá truyền thống, các

nhà quản lý cần tổ chức lễ hội sao cho người dân có thể hiểu được cái đẹp, cái

hay, tính nhân văn cao cả trong phần lễ và nét đặc sắc trong phần hội của lễ hội.

Có đầu tư nghiên cứu về lịch sử hình thành tồn tại và phát triển của lễ hội cũng

như nghiên cứu về vai trò của nó đối với phong tục, tập quán, lối sống, nếp nghĩ

của con người trong đời sống văn hố cộng đồng. Thương hiệu còn được xây

dựng trên cơ sở khai thác trò chơi, các diễn xướng dân gian từ đó tuyên truyền

phổ biến nhằm phát huy những mặt tích cực của lễ hội dân gian góp phần làm

giàu thêm kho tàng văn hố Hùng Vương. Thương hiệu là cơ sở để bảo tồn vầ

phát huy giá trị của lễ hội trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

3.2.4. Nhóm giải pháp về thu hút kinh phí đầu tư

Một khó khăn đối với hoạt động bảo tồn, phát huy lễ hội là eo hẹp về kinh

phí. Nguyên nhân của các vấn đề này là các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị

văn hoá lịch sử của lễ hội chưa được coi trọng đúng mức. Vì vậy các đơn vị liên

quan cần chú ý khai thác nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngồi nước,

đóng góp cho việc giữ gìn di sản văn hoá phi vật thể.

Vốn là một trong những nhân tố cơ bản hàng đầu, tạo động lực cho sự phát

triển, đưa lễ hội đền Nhà Bà trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn. Để thu hút vốn

đầu tư, trước mắt chính quyền địa phương phải tiến hành rà sốt các dự án đầu tư

của chính phủ, Uỷ ban Dân tộc và của tỉnh trong những năm gần đây. Giải quyết

và sử dụng hợp lý các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho việc xây dựng

cơ sở hạ tầng đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển.

Để có thể thu hút nguồn đầu tư thì cơng tác tổ chức lễ hội cần phải được

nghiên cứu công phu làm sống lại các giá trị truyền thống văn hoá của lễ hội.

Thu hút kinh phí cho lễ hội đi đơi với xã hội hố lễ hội. Xã hội hoá là cơ sở thu

hút vốn đầu tư một cách thiết thực và hiệu quả. Xã hội hoá lễ hội phải đảm bảo

các nội dung cốt lõi cấu thành nên lễ hội, trong đó phần hồn của lễ hội là các

nghi lễ, thể phách là phần hội có tính chất bề nổi.

Việc huy động các nguồn lực từ nhân dân cần thực hiện trên tinh thần, tự

nguyện, tự giác khoan thư sức dân. Nhân dân tham gia khơng chỉ đóng góp tiền

của, cơng sức, trực tiếp biểu diễn, mà có thể chỉ là chủ động trong vai trò khán

giả thưởng thức, hưởng ứng. Lễ hội phải tạo cơ hội cho tất cả người dân thuộc

mọi tầng lớp tham gia.



67



Việc mở rộng không gian, đối tượng tham gia, tính chủ động trong lễ hội

đòi hỏi gắn với sự điều hành, quản lý chung có tính chất điều tiết của các cơ

quan chức năng. Qua đó tạo mơi trường cho lễ hội lành mạnh lôi cuốn từ các trò

chơi giàu bản sắc dân tộc.

Chúng ta cần làm rõ nhu cầu của công chúng để cung cấp cho họ những

món ăn tinh thần phù hợp thì họ mới hưởng ứng, thích thú và đóng góp trên tinh

thần tự nguyện.

Nhân dân là người sáng tạo, trao truyền và kế thừa mọi sáng tạo văn hố

phi vật thể. Do đó việc đóng góp kinh phí cho hoạt động bảo tồn di sản văn hố

phi vật thể nhất thiết phải có sự tham gia trực tiếp của người dân. Cộng đồng –

chủ thể văn hố là người đóng góp vai trò quyết định trong việc bảo tồn một

cách bền vững những di sản văn hố phi vật thể. Nói cách khác việc của dân

gian để dân gian làm là nguyên tắc cần thiết phải được tôn trọng. Cộng đồng

được quyền lựa chọn cũng như khơng lựa chọn. Người dân với vai trò là chủ thể

sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, họ đủ năng lực và nhân quyền để đánh giá các

giá trị của di sản văn hoá phi vật thể. Thực tế đã cho thấy mọi hoạt động bảo tồn

phát huy giá trị của lễ hội truyền thống chỉ có thể mang lại hiệu quả và thành

cơng khi có sự tham gia tự nguyện củ người dân, thu hút và huy động tối đa mọi

nguồn lực của chủ thể văn hoá.

Tuy nhiên các nhà quản lý văn hoá cần nhận thức đúng bản chất của xã

hội hố. Xã hội hố khơng phải là “giao chỉ tiêu” về kinh phí đóng góp. Mà lễ

hội thực sự được bảo tồn hay không là nhờ vào công tác tổ chức quản lý lễ hội.

Như vậy, xã hội hoá là hướng đi tất yếu cho việc thu hút kinh phí để tổ

chức lễ hội, qua đó lơi cuốn tính chủ động nhập cuộc của đơng đảo tầng lớp

nhân dân. Điều này càng có ý nghĩa khi bước sang năm 2016, đất nước ta chào

đón những lễ hội lớn trọng đại trên khắp mọi miền tổ quốc.

3.2.5. Nhóm giải pháp về phát triển mơ hình du lịch văn hoá lễ hội cổ truyền

Các giá trị văn hố lễ hội cần được tơn vinh và phát huy dưới góc độ kinh

tế du lịch như một “tài sản văn hoá đặc trưng” để thu hút sự quan tâm ngày càng

tăng của du khách trong và ngoài tỉnh, khách quốc tế. Những năm qua, UBND

tỉnh tập trung quy hoạch bảo tồn, tơn tạo di tích và phát huy các giá trị lịch sử

của di tích lịch sử văn hố.



68



Trọng tâm của các dự án này là quy hoạch, bảo tồn và phát triển di tích

trên cơ sở bảo tồn di tích gốc, phục hồi, duy trì và phát triển các sinh hoạt văn

hố, trong đó có sinh hoạt lễ hội. Tuy nhiên các dự án này mới chỉ tập trung vào

bảo tồn di tích, tơn tạo cảnh quan. Việc đầu tư cho nghiên cứu, phục hồi các sinh

hoạt văn hoá lễ hội là hai mặt tĩnh và động của một di tích.

Để khai thác lễ hội – nguồn tài nguyên để phát triển du lịch, lễ hội đền

Nhà Bà phải tạo ra được sự hấp dẫn mang tính riêng biệt đặc thù, với nội

dung hình thức phong phú mang đậm được sắc thái của địa phương. Bên cạnh

mỗi lễ hội đơn lẻ cần có kế hoạch tổ chức một số lễ hội lớn, trọng điểm có sự

đầu tư thích đáng nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghiên cứu khoa học,

đồng thời khai thác kinh doanh du lịch đồng thời khai thác kinh doanh du lịch

cùng các dịch vụ khác về lễ hội. Việc làm này không dễ dàng, đòi hỏi hết sức

thận trọng, nhưng nó tác dựng bảo tồn lễ hội, nhằm giáo dục tinh thần dân tộc

cho các thế hệ trẻ.

3.2.6. Nhóm giải pháp về kết nối du lịch

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch trở thành một nhu cầu tất yếu

của xã hội. Đó là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, các vùng miền trong một đất

nước. Phát triển du lịch là cơ sở cho việc bảo tồn phát huy những giá trị văn hố

truyền thống của dân tộc.

Lễ hội khơng đơn giản chỉ là một ngày vui chơi hay là một hoạt động đơn

thuần mang tính văn hố. Trong các lễ hội hiện đại người ta thấy yếu tố thúc đẩy

du lịch, kinh tế được đặt lên hàng đầu. Mỗi lễ hội là một dịp để quảng bá nét văn

hoá đặc trưng của cư dân bản địa. Đặc biệt là khi lễ hội được nhìn nhận như một

bảo tàng sống về đời sống dân cư. Đó cũng là cơ sở thuận lợi để thu hút khách

du lịch.

Để lễ hội đền Nhà Bà trở thành “món ăn” hấp dẫn du khách thì cần phải

có sự phối hợp của nhiều ngành: du lịch, tài chính và nhất là chính quyền các

cấp phải vào cuộc… trên cơ sở bảo đảm giá trị nguyên gốc của lễ hội đó, chứ

khơng phải là một lễ hội lai căng, biến tướng.

Trong chương trình “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam”, nhiều

lễ hội dân gian truyền thống đã bị mai một nay có điều kiện phục dựng lại.

Trong đó có các trò diễn phản ánh những tín ngưỡng cổ xưa của người Việt, của

cư dân trồng lúa nước vùng Đất Tổ, rất hấp dẫn khách du lịch. Trên cơ sở những



69



lễ hội dân gian truyền thống đã được tổ chức ở khắp các địa phương trong tỉnh,

ngành văn hoá thể thao và du lịch đã xây dựng các tuyến du lịch nội tỉnh, Việt

Trì – Thanh Sơn – Thanh Thuỷ, Việt Trì – Tam Nơng – Thanh Thuỷ, Việt Trì –

Đoan Hùng – Lâm Thao, Việt Trì – Hạ Hồ – Cẩm Khê, Việt Trì – Phù Ninh –

Lâm Thao. Các tuyến du lịch trên có sự liên kết tour du lịch trong chương trình

“Du lịch về cội nguồn” của ba tỉnh Phú Thọ, Yến Bái, Lào Cai, giúp du khách

thuận tiện trong việc tham dự lễ hội về đem lại hiệu quả xã hội cao. Điều đó đã

tạo ra ấn tượng mạnh mẽ với du khách trong việc quảng bá những nét đặc sắc

trong lễ hội dân gian, tín ngưỡng cổ xưa.

Nằm trong vành đai văn hố Đền Hùng, đó là điều kiện thuận lợi để lễ hội

đền Nhà Bà trở thành điểm du lịch hấp dẫn không chỉ đối với du khách trong

nước mà còn đối với cả du khách quốc tế.

Thơng qua các hoạt động du lịch văn hố, lễ hội còn góp phần giáo dục

nhận thức của cộng đồng cư dân bản địa và du khách trân trọng, giữ gìn, bảo vệ

vầ phát triển di sản văn hoá của dân tộc. Kinh phí thu được từ hoạt động du lịch

góp phần tu bổ tơn tạo di tích, phục dựng lễ hội, thực hiện các mục tiêu phát

triển kinh tế, xã hội của địa phương.

Tuy nhiên hiện nay, sự thành công trong kết nối du lịch lại chưa được

nghiên cứu, phục dựng một cách bài bản và tổ chức chuyên nghiệp. Việc bảo

tồn, phát huy và khai thác các giá trị văn hoá của lễ hội thành các sản phẩm du

lịch đang còn nhiều hạn chế. Điều đó đòi hỏi trách nhiệm của các nhà quản lý

trong việc hoạch định hướng phát triển du lịch phù hợp trên cơ sở phát huy hiệu

quả giá trị lễ hội đồng thời góp phần đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao.

Du lịch gắn liền với lễ hội nhất là những lễ hội mang tính tâm linh là vấn

đề khó khăn. Nếu khơng được nghiên cứu và tổ chức một cách kĩ lưỡng và

nghiêm túc thì sẽ dẫn đến tình trạng lợi bất cập hại. Đa phần các lễ hội thu hút

được du khách của các nước khác là các lễ hội dân gian, mang tính cộng đồng

cao, ít hoặc khơng liên quan đến yếu tố tâm linh. Do đó khi làm du lịch, cần phải

xem xét và phát huy tối đa giá trị tốt đẹp của lễ hội. Bởi khi một lễ hội mang

tính cộng đồng cao thì rất dễ được mọi người ở nhiều nền văn hoá khác nhau

chấp nhận.

Du lịch gắn với lễ hội là xu hướng tất yếu và cũng là một cách khai thác

hiệu quả lợi thế vốn có của địa phương. Tuy nhiên làm như thế nào và mức độ ra



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LỄ HỘI ĐỀN NHÀ BÀ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CÁC LỄ HỘI GẮN VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI TỈNH PHÚ THỌ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×