Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI TẠI XÃ TIÊN DU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI TẠI XÃ TIÊN DU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



“Từ điển tiếng Việt” định nghĩa tín ngưỡng là: “Lòng tin và sự tôn thờ một

tôn giáo” [9;1464], tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tơn giáo.

Theo giải thích của Đào Duy Anh trong tác phẩm “Việt Nam văn hố sử

cương”, tín ngưỡng là: “Lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tơn giáo hoặc một

chủ nghĩa” [1;283].

Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam” Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín

ngưỡng được đặt trong văn hố tổ chức đời sống cá nhân: “Khi đời sống và trình

độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ

tưởng tượng ra. Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất

quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hố thành giáo lý,

có giáo chủ có thánh đường… Tín ngưỡng trở thành tơn giáo” [22;262].

Ở phương Tây, phổ biến là thuật ngữ tơn giáo bình dân (popular religion).

Thuật ngữ đó có thể hiểu tơn giáo theo lối bình dân, nghĩa là theo tập quán, theo

dư luận hoặc bị cuốn hút vào các nghi lễ, chứ không theo lối chính thống chủ

yếu xuất phát từ việc nghiên cứu giáo lí, suy tư rồi giác ngộ mà theo. Hoặc cũng

có thể hiểu là các hình thức tơn giáo dân tộc được lưu truyền từ xa xưa, gần gũi

với cộng đồng như các lễ hội, các cuộc hành hương, các ngày lễ với các điệu

múa, thậm chí là các hình thức bói tốn, tướng số… Ở đó có cả tầng lớp trí thức,

mặc dù ít tin theo nhưng vẫn tham gia nhưng đa số là tầng lớp bình dân ở nơng

thơn hưởng ứng, theo một truyền thống đã có từ rất lâu trong dân tộc. Niềm tin tôn

giáo hay tín ngưỡng biểu hiện ở những nền văn hố rất khác nhau và rất đa dạng.

Trong cơng trình nổi tiếng “Văn hoá nguyên thuỷ”, Tylor E.B cho rằng:

“Cần đặc biệt chú ý là những tín ngưỡng và tập quán khác nhau đều có

những nền tảng vững chắc trong thuyết vật linh nguyên thuỷ, như thể chúng

đã mọc lên từ đó. Trong thuyết vật linh phức tạp, chúng trở thành sản phẩm

của sự ngu dốt hơn là của triết học và tồn tại như những tàn tích của cái cũ

hơn là những sản phẩm của đời sau khi chuyển từ sức sống đầy đủ sang trạng

thái tàn tích” [33;939].

Trong cơng trình “Cành vàng” của George James Frazer cho rằng: “Tôn

giáo là việc cầu phúc hay là việc hoà giải những thế lực cao cấp hơn con

người, những thế lực này, như người ta nghĩ chỉ huy và điều hành dòng chảy

của tự nhiên và đời sống con người. Tôn giáo được định nghĩa như vậy bao

gồm hai thành tố, một mang tính lý thuyết một mang tính thực hành” [34;94].



13



S.A Tokarev, nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng của Nga cho biết: Mặc dù

bác bỏ luận thuyết về sự phát triển nội tại của tôn giáo, chúng tôi không bao giờ

phủ định sự tồn tại của những mối liên hệ nguồn gốc giữa các tín ngưỡng.

“Chúng ta đã thấy rõ những tín ngưỡng đó có tính bảo thủ tới mức nào.Bất kì

một tín ngưỡng nào đã bắt rễ vững chắc cũng đều tốn tại trong nhân dân rất lâu

bền, thậm chí tồn tại ngay cả lúc những điều sinh sản ra nó đã thay đổi”

[35;55]. Theo ơng các hình thức tơn giáo sơ khai là: Tô tem giáo, bùa mã, lễ ám

hại, chữa bệnh bằng bùa phép, sự thờ cúng tổ tiên, sự thờ cúng của thị tộc mẫu

hệ…

Như vậy ở Phương Tây các nhà nghiên cứu thường dùng khái niệm tơn

giáo bao hàm các tơn giáo có hệ thống, tơn giáo dân gian và tôn giáo nguyên

thuỷ. Do vậy theo họ tín ngưỡng là bộ phận quan trọng của tơn giáo, là cơ sở

hình thành tơn giáo. Tuy nhiên niềm tin vào cái tin đó còn tuỳ thuộc vào hồn

cảnh và trình độ phát triển của mỗi quốc gia dân tộc, mà thể hiện ra dưới các

hình thức tín ngưỡng và tơn giáo khác nhau.

Ở Việt Nam, trong cơng trình “Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền”GS.TS

Ngơ Đức Thịnh đã đưa ra quan điểm rõ ràng hơn, ông cho rằng: “Cơ sở của mỗi

tín ngưỡng tơn giáo là niềm tin của con người vào thực tế, lực lượng siêu nhiên

hay nói một cách khác đó là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng” đối lập

với cái “trần tục” hiện hữu mà có thể sờ mó quan sát được” [27;35]. Do vậy,

niềm tin vào “cái thiêng” thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại

cùng với bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm

linhcủa con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư

tưởng tình cảm.

Tuỳ vào hồn cảnh, trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi dân tộc, địa

phương, quốc gia mà niềm tin vào cái thiêng đó được cụ thể hố thành những tín

ngưỡng và những tơn giáo khác nhau. Các hình thức tơn giáo tín ngưỡng này dù

rộng hẹp khác nhau, phổ quát hay đặc thù cho mỗi quốc gia dân tộc, địa phương

thì cũng là một thực thể biểu hiện niềm tin chung vào cái thiêng của con người.

Do vậy, các hình thức tơn giáo tín ngưỡng hiện hữu này chỉ là một thực thể

mang tính lịch sử hay nói cách khác là một phạm trù lịch sử.

Từ niềm tin vào lực lượng siêu nhiên mà những cái đó được biểu trưng

bằng các thần linh dưới nhiều dạng vẻ khác nhau, con người “tìm cách thơng



14



quan” với thần linh đó bằng vơ vàn những cách thức khác nhau như thông qua

lời khấn, phép thuật, bằng các vật dâng cúng, bằng âm thanh, vũ đạo thông qua

những con người có năng lực siêu phàm … để cầu mong cho thần linh phù trợ,

độ trì. Đó chính là các hành vi thực hành tơn giáo, tín ngưỡng. Các hành vi

nhằm thông quan với thần linh cũng được biểu hiện bằng vơ vàn cách thức, mà

những cái đó phụ thuộc vào các hình thức tơn giáo, tín ngưỡng, vào truyền thống

văn hoá của mỗi dân tộc, địa phương, phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi

quốc gia, dân tộc.

Cũng từ niềm tin và hành vi thực hành tín ngưỡng ấy dần hình thành nên

ở con người những những tình cảm tơn giáo tín ngưỡng. Trong xã hội hiện đại

có thể có niềm tin vào cái siêu nhiên, tức vào thần linh có thể thay đổi, nhưng

các hành vi tình cảm tín ngưỡng vẫn tồn tại lâu bền, như một thói quen một qn

tính của con người.

Như vậy, tơn giáo, tín ngưỡng với tư cách là các hình thái cụ thể như Kitô

giáo, Đạo giáo, Phật giáo, đạo thờ tổ tiên, thờ Thành hồng … có thể thay đổi đi,

song niềm tin vào cái siêu nhiên, niềm tin vào tín ngưỡng thì khơng bị mất đi,

vẫn là một trong những nhân tố mang bản chất con người.

Từ đây quan niệm về tơn giáo và tín ngưỡng có thể được hiểu rằng: “Đó

là một bộ phận của đời sống văn hố tinh thần con người mà ở đó con người

cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể, các lực lượng siêu nhiên mà những

cái đó chi phối, khống chế con người, nó nằm ngồi hiểu biết của con người

hiện tại, sự tồn tại của các phương tiện biểu trưng giúp con người thông quan

với các thực thể, các sức mạnh siêu nhiên, đó là chất kết dính tập hợp con người

thành một cộng đồng nhất định phân biệt với cộng đồng khác”. Tất cả những

niềm tin, thực hành và tình cảm tơn giáo tín ngưỡng trên đều là sản sinh và tồn

tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá mà con người đang sống,

theo cách suy nghĩ và cảm nhận nền văn hoá đang chi phối họ.

Ở trên khái niệm tơn giáo, tín ngưỡng được hiểu với ý nghĩa là niềm tin

vào một thế lực hay sức mạnh siêu nhiên. Tuy nhiên, khái niệm tơn giáo, tín

ngưỡng cũng được hiểu theo nghĩa là các hình thức tơn giáo - tín ngưỡng cụ thể.

Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng hai khái niệm “tơn giáo” và “tín

ngưỡng”.Theo quan điểm truyền thống người ta có ý thức phân biệt tơn giáo và

tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội phát triển thấp hơn so



15



với tơn giáo. Có loại quan điểm khác lại đồng nhất tơn giáo và tín ngưỡng đều

gọi chung là tơn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thuỷ,

tôn giáo địa phương, tơn giáo thế giới.

Ngồi ra, trong nghiên cứu của mình PGS. TS Ngơ Đức Thịnh còn chỉ ra

rất rõ về sự khác nhau căn bản giữa tôn giáo và tín ngưỡng:“Tín ngưỡng chưa

có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín

ngưỡng chưa hình thành hệ thống thần điện còn mang tính chất đa thần, tản

mạn, còn có sự hồ nhập nhất định giữa thế giới thần linh và con người, chưa

mang tính cứu thế. Ngồi ra tín ngưỡng gắn với cá nhân là cộng đồng, làng xã

chưa hình thành giáo hội, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán chưa thành quy

ước chặt chẽ; tín ngưỡng mang tính chất dân gian, sinh hoạt dân gian gắn với

đời sống nông dân” [30; 35].

Trong khi đó tơn giáo đã có hệ thống giáo lý kinh điển thể hiện quan niệm

vũ trụ và nhân sinh, truyền thụ qua học tập ở tu viện và thánh đường.Thần điện

của tôn giáo đã thành hệ thống dưới dạng đa thần hay nhất thần giáo; tách biệt

thế giới thần linh và con người, xuất hiện hình thức cứu thế.Tơn giáo có tổ chức

giáo hội, hội đồn khá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức, nơi thờ cúng

riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường). Trong q trình

tồn tại và phát triển tơn giáo khơng mang tính dân gian có chăng chỉ là sự biến

dạng theo kiểu dân gian hoá như Phật giáo dân gian. Khác biệt giữa tơn giáo và

tín ngưỡng còn ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tơn

giáo, tín ngưỡng khơng có tổ chức chặt chẽ như tơn giáo. Khi nói đến tín

ngưỡng người ta nói ngay tới tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có

đặc điểm chung còn tơn giáo thường là khơng mang tính dân gian.

Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hố được hình thành do mối quan hệ

giữa con người với tự nhiên, xã hội. Tín ngưỡng là niềm tin về những điều linh

thiêng, sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận được mà khó có

thể nhận thức được. Các hình thức tín ngưỡng mang đặc trưng riêng theo từng

vùng văn hoá, chủ thể văn hoá khác nhau nhưng vẫn là biểu hiện niềm tin vào

cái thiêng, sự ngưỡng mộ và sùng bái con người.

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người và

cách thể hiện sự tin tưởng nhằm cầu mong giúp đỡ, chở che từ đối tượng mà họ



16



suy tôn, thờ phụng (một nhân vật lịch sử, người có cơng lập làng hoặc những

hiện tượng tự nhiên liên quan đến đời sống của họ)”.

1.1.2. Phân loại

Tín ngưỡng ra đời từ rất lâu, ăn sâu bám rễ trong tâm thức của mỗi người.

Ở nước ta, tín ngưỡng được phân ra thành nhiều hình thức khác nhau.Cũng như

nhiều lĩnh vực khoa học khác, việc phân loại tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề

cơ bản của khoa tôn giáo học và cũng chính ở đó tồn tại nhiều quan điểm khác

nhau. Người ta đã từng đưa ra các cách phân loại khác nhau như phân loại tơn

giáo, tín ngưỡng theo các hình thức phát triển nối tiếp nhau của tiến trình lịch

sử. Một số khác lại từ bỏ nguyên tắc lịch sử mà lại theo đặc trưng địa lý và

chủng tộc, theo các khu vực văn hoá, theo nội dung tín ngưỡng… Mỗi cách

phân loại như vậy đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý, tuy nhiên cũng không

tránh khỏi sự phiến diện và nhiều lúc khá cực đoan.

S.A Tokarew, nhà dân tộc học, tôn giáo học nổi tiếng người Nga đã phê

cách phân loại tôn giáo từ trước tới nay và từ đó đưa ra cách phân loại của mình

dựa trên cơ sở hình thái học của tơn giáo. Đó là cách phân loại dựa trên cơ sở:

Một là đặc trưng và thực chất của tôn giáo.Hai là coi tôn giáo là một hiện

tượng xã hội.Ba là tơn giáo mang tính lịch sử và tính kế tục lịch sử.Bốn là tính

tương quan giữa các hình thức tơn giáo, tín ngưỡng.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến cách phân loại tín

ngưỡng, song tác giả đồng tình với quan điểm của GS.TS Ngơ Đức Thịnh về

cách phân loại tín ngưỡng ở nước ta như sau:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia) Tơtem giáo.

Tín ngưỡng thờ Thành hồng làng.

Tín ngưỡng vòng đời người (Nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ cưới xin, thờ thần

mệnh, tang ma và thờ cúng người chết).

Tín ngưỡng nghề nghiệp (tín ngưỡng nơng nghiệp, thờ Thánh sư, thờ Tam

tài, các tín ngưỡng ngư dân).

Tín ngưỡng thờ Thần (Đạo Mẫu, Đức Thánh Trần, Tứ Bất Tử, thờ các anh

hùngdân tộc).

1.1.3. Tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân tồn

tại trong lịch sử và cả trong thời đại ngày nay.“Mẫu” là một hình tượng, một sự



17



biểu trưng và là sự kết tinh sống động của đời sống văn hoá tinh thần của con

người Việt Nam. “Mẫu” có sức hấp dẫn đặc biệt, nhưng cũng đặt ra khơng ít các

vấn đề cho nhiều nhà khoa học, nhiều người nghiên cứu quan tâm theo nhiều

hướng khác nhau và trong toàn xã hội.

Đến với “Mẫu” không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng những nhu cầu đời

sống tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu còn là hiện tượng sinh hoạt văn hoá dân gian

phong phú hấp dẫn, có sức lơi cuốn con người. Người ta đến với Mẫu còn có cả

sự đồng cảm về giá trị văn hố và góp phần củng cố ý thức cộng đồng của dân

tộc Việt Nam.

Ở Việt Nam, đa phần các nhà nghiên cứu văn hố cho rằng tín ngưỡng thờ

Mẫu là một tín ngưỡng dân gian, đã thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà

nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Nội hàm của tín ngưỡng thờ

Mẫu được dùng để biểu thị sự tôn vinh một nhân vật nào đó hay có thể đồng

nhất với việc thờ các nữ thần hiển linh, được phong là Mẫu như: Quốc Mẫu,

Thánh Mẫu, Vương Mẫu…

Tín ngưỡng thờ Mẫu còn được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn đó chỉ là

dạng hình thức tín ngưỡng với tên gọi là Mẫu Tam phủ - Tứ phủ, hình thức thờ

những vị Mẫu cai quản trong vũ trụ.

Vấn đề thờ Mẫu là loại hình gì? Đã có rất nhiều câu trả lời khác nhau cho

câu hỏi này. Hiện nay, chưa có cách đánh giá thống nhất về thờ Mẫu nhưng cơ

bản có bốn quan điểm về thờ Mẫu:

Quan điểm thứ nhất: Xem thờ Mẫu đã và đang trở thành một tôn giáo

sơ khai.

Quan điểm thứ hai: Xem thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian.

Quan điểm thứ ba: Xem thờ Mẫu vừa là tín ngưỡng dân gian, vừa là tập

tục truyền thống.

Quan điểm thứ tư: Xem thờ Mẫu là một “Đạo” nhưng “Đạo” là con đường

cách thức.

Sau đây, tác giả xin nêu ra một số quan niệm của các nhà khoa học và các

học giả trong nước về những quan điểm thờ Mẫu đã nêu ở trên:

Quan điểm thứ nhất: Xem thờ Mẫu đã và đang trở thành một tôn giáo sơ khai.



18



Tác giả Đặng Văn Lung cho rằng: “Đạo Mẫu trong quá trình nảy sinh,

vận động và biến đổi đã và đang chuyển hố từ tín ngưỡng ngun thuỷ để trở

thành một tơn giáo sơ khai” [17;88].

Và ông cũng khẳng định: “Đã là một tơn giáo chứ khơng còn là một tín

ngưỡng, kiểu như thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng anh hùng dân tộc

tại một số đền riêng lẻ. Đạo Mẫu đã có những hoạt động mang tính đặc trưng

tơn giáo” [17;102].

Nếu nhìn tục thờ Mẫu trong cội nguồn và trong q trình phát triển tác giả

Ngơ Đức Thịnh cho rằng: “Về phương diện điện thần của Đạo Mẫu ta thấy

bước đầu đã được hệ thống hoá tiến từ đa thần của tín ngưỡng nguyên thuỷ đến

thần điện của tơn giáo, mà Mẫu giữ vị trí trung tâm như Đức Phật hay chúa

Jesu” [25;22].

Có lý do để có quan điểm như vậy, bởi vì thờ Mẫu đã từng hình thành một

cộng đồng tín đồ với các thứ bậc khác nhau. Từ trước những năm 1975 ở miền

Nam đã từng hình thành một cộng đồng mang tính giáo hội, mang tên Tiên

Thiên Thánh Mẫu Giáo, tập hợp các tín đồ tồn miền Nam (sau 1975 tổ chức

này khơng còn nữa). Còn ở miền Bắc, tuy hình thức thờ Mẫu đã có từ rất sớm

nhưng cũng chỉ hạn chế trong phạm vi các đền, phủ dù những nơi đó đã trở

thành trung tâm thờ Mẫu.

Quan điểm thứ hai: Xem thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian.

Tác giả Hồng Quốc Hải cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta là một

tín ngưỡng và tác giả này viết: “Về mặt tâm linh, cũng như quy mơ tín đồ nó đầy

đủ yếu tố của một tơn giáo, nhưng nó lại thiếu hẳn một triết thuyết để đủ sức trở

thành một tơn giáo hồn chỉnh” [8;27].

Quan điểm thứ ba: Xem thờ Mẫu là tín ngưỡng tập tục truyền thống.

Theo tác giả Đinh Gia Khánh: “Trường hợp tục thờ Mẫu ở Việt Nam

biểu hiện rất rõ, phát triển đến mức gần như một tôn giáo của người Kinh ”

[16;78].

Tác giả Mai Thanh Hải với quan niệm thờ Mẫu là một tục lệ. Tác giả cho

rằng: “Tục thờ Mẫu có sức lan truyền mạnh tới mức nhiều nơi đã lan toả mạnh

mẽ” [7;151].

Quan điểm thứ tư: Coi thờ Mẫu là một Đạo nhưng “Đạo” là con đường

cách thức chứ không theo nghĩa tôn giáo.



19



Một số nhà nghiên cứu gọi việc thờ Mẫu là đạo Mẫu, “Đạo” ở đây khơng

có nghĩa là một tơn giáo như đạo Kito, đạo Phật…, mà phải hiểu như là đạo làm

con, làm người, đạo hiểu…

Theo quan điểm của chúng tơi và quan niệm truyền thống, khá phổ biến

thì thờ Mẫu vẫn được coi là một tín ngưỡng dân gian với những lí do cơ bản sau:

Một là,thờ Mẫu được hình thành trong chế độ mẫu hệ, nó bắt nguồn từ thờ

Nữ thần.

Hai là, thờ Mẫu thiếu những tiêu chí cơ bản để cấu thành một tơn giáo như

sáng thế luận, giáo luật, giáo hội, hệ thống tổ chức… theo nghĩa đầy đủ của nó.

Ba là, trong thờ Mẫu yếu tố niềm tin còn dựa vào sự cảm nhận của chủ

thể, chưa mang tính hệ thống.

Bốn là, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam chỉ thừa nhận 6 tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Phật giáo, Công

giáo, Hồi giáo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo.

Với những quan điểm trên, tác giả đồng tình với quan điểm thứ 2 vì vậy

trong khố luận của mình tác giả xin sử dụng thuật ngữ: “Tín ngưỡng thờ Mẫu”.

“Mẫu” là từ ngữ xuất phát từ Hán Việt, còn thuần Việt là mẹ, mụ, mạ, mế

dùng để chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó. Nghĩa ban đầu

Mẫu đều chỉ người phụ nữ sinh ra con. Mẫu còn có ý nghĩa tơn vinh, xưng như

Mẫu nghi thiên hạ, Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Hai Bà

Trưng…Các Mẫu mẹ đó mang trong mình những truyền thuyết, huyền thoại

khác nhau, song đều phản ánh được vai trò và vị thế hết sức to lớn của người

phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng và giữ nước. Ta cần phân biệt rõ giữa Mẫu

và Nữ thần bởi không phải tất cả các Nữ thần đều là Mẫu. Chỉ những Nữ thần

nào là chủ thể của sự sinh sôi nảy nở, gắn với chức năng sinh đẻ, giáo dục con

cái, có những cơng trạng đặc biệt mới được nhân dân tơn thờ là Mẫu.

Vậy có thể hiểu: “Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bắt

nguồn từ tín ngưỡng thờ Nữ thần (nhưng khơng phải tất cả các Nữ thần đều là

Mẫu), là một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc Mẫu

hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có cơng với nước, với cộng đồng tiêu biểu

cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức, xã hội như Thánh Mẫu,

Vương Mẫu… và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ của

các lực lượng siêu nhiên thuộc Nữ thần”.



20



1.2. Khái luận về lễ hội

1.2.1. Khái niệm

“Từ điển Tiếng Việt” định nghĩa rằng: “Lễ hội là một cuộc vui tổ chức

chung, có hoạt động lễ nghi mang tính chất văn hóa truyền thống của dân tộc”

[13; 678].

Trong đó lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm

một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó”.Lễ mang hai nghĩa cơ bản là tế lễ và lễ

giáo. Nghi lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định

mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỉ niệm một sự kiện, một nhân vật nào đó

nhằm mục đích cảm tạ, tơn vinh ước nguyện về sự kiện nhân vật đó với mong

muốn nhận được sự may mắn, tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối

tượng mà người ta thờ cúng. Như vậy “lễ” trong lễ hội là một hệ thống các hành

vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tơn kính của dân làng đối với thần linh, lực

lượng siêu nhiên nói chung, với Thành hồng nói riêng. Đồng thời, lễ cũng phản

ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống đầy

khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo.

Lễ có thể được hiểu là những nghi thức được thực hiện trong lễ hội gắn

liền với hoạt động của cá nhân hoặc một tập thể người, phù hợp với một tín

ngưỡng nào đó mà họ và cộng đồng thừa nhận, tin theo và tôn kính. Hội là

những cuộc vui tổ chức chung cho đơng đảo người dự theo phong tục hoặc nhân

dịp đặc biệt. Với ý nghĩa này chúng ta có thể hiểu đến với hội là vui chơi, giải

trí, để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ của đông đảo quần chúng, là đến với một

sinh hoạt văn hóa dân gian dân dã, phóng khống diễn ra trên bãi sân để dân

làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt các trò, tục hấp dẫn do mình chủ

động tham gia.

Trong cơng trình “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại” tác

giả Lê Hữu Tầng cho rằng: “Lễ hội là một pho tàng lịch sử khổng lồ, ở đó tích

tụ vơ số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện

xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc. Lễ hội là một bộ sách bách khoa đồ sộ,

là một bảo tàng sống về đời sống tinh thần của người Việt” [25;72].

Trong cuốn “Văn hóa, văn học dân gian Phú Thọ” Thạc sĩ Trần Văn Thục

đã cho rằng: “Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng của cộng đồng, một



21



sản phẩm đặc biệt của làng q. Nhìn ở góc độ văn hóa tinh thần lễ hội có hai

tính chất, đặc điểm cở bản: chất thiêng liêng và chất thế tục” [34;32].

Trong bài viết “Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền” tác giả Ngô Đức

Thịnh quan niệm: “Lễ hội cổ truyền là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng

thể, lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh” [26;15].

Nghiên cứu “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” tác giả Dương

Văn Sáu cho rằng:“Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra

trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại

một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện

cách ứng xử văn hoá của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người

trong xã hội” [24; 35]. Đây cũng là khái niệm về lễ hội mà tác giả đồng tình

nhất.

Trước hết, lễ hội là sinh hoạt văn hố cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động

văn hố của tập thể, do tập thể tổ chức và tiến hành. Dù ở bất cứ nơi đâu, vào bất

cứ thời gian nào, lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành.

Chính họ là những người sáng tạo ra giá trị chân chính, những giá trị bắt nguồn

từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu. Họ là chủ nhân, đồng thời là người

đánh giá thẩm nhận và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hố ấy. Khơng

bao giờ lễ hội chỉ thuộc vào một nhóm người nào đấy trong xã hội, khơng có

đơng người tham dự sẽ không thể thành hội.

Về cơ bản, những lễ hội truyền thống của Việt Nam là những “lễ hội làng”

cũng có nhiều lễ hội do nội dung và tính chất của nó nên được diễn ra trong

khơng gian rộng lớn hơn, có tính liên làng, liên vùng. Những hoạt động lễ hội này

không diễn ra thường xuyên mà chỉ ở một vài thời điểm nhất định mùa Xuân hay

mùa Thu trong năm. Đây là thời điểm chuyển giao thời tiết, cũng là thời điểm

chuyển giao mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp. Người ta tổ chức lễ hội nhằm

các mục đích khác nhau.Trước hết là những hoạt động mang tính nghi lễ nhằm

nhắc lại các nhân vật lịch sử, các sự kiện hay huyền thoại đã diễn ra trong quá

khứ. Đây chính là biểu hiện của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc thể

hiện cách ứng xử văn hoá với thiên nhiên, thần thánh, con người thơng qua các

hoạt động trong lễ hội. Nó phản ánh mối quan hệ giao thoa giữa siêu và thực, giữa

con người với con người trong những hoàn cảnh tác động cụ thể.



22



Như vậy, lễ hội là hình thức văn hóa cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân

cư trong thời gian, không gian xác định nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch

sử hay huyền thoại…đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con

người với thiên nhiên, thần linh và con người trong xã hội.

Lễ hội thực sự là một kho tàng tri thức khổng lồ, càng lễ hội cổ thì càng có

nhiều giá trị truyền thống và nhiều mật mã chưa được giải đáp.Vậy khi nghiên

cứu về lễ hội thì chúng ta phải nắm rõ các đặc điểm lễ hội của dân tộc ta để chúng

ta có cái nhìn khách quan nhất và khái quát hơn trong quá trình nghiên cứu.

1.2.2. Phân loại

Hiện tại ở nước ta có nhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội cổ truyền còn có lễ

hội mới (lễ hội hiện đại, lễ hội gắn với các sự kiện lịch sử…) lễ hội sự kiện (gắn

với du lịch, quảng bá du lịch, lễ hội nhân kỉ niệm những năm chẵn thành lập

thành phố, tỉnh, huyện…) trong đó lễ hội cổ truyền có số lượng nhiều nhất

(khoảng trên 7000 lễ hội truyền thống trong tổng số gần 9000 lễ hội), phạm vi

phân bố rộng ở cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc, có lịch sử lâu đời nhất.

Người ta có thể phân loại lễ hội theo thời gian các mùa trong năm, trong

đó quan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ); phân chia theo

phạm vi lớn nhỏ: lễ hội làng, vùng, quốc gia; phân loại theo tính chất của lễ hội:

lễ hội nghề nghiệp (nông, lâm, ngư…), lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc, người

có cơng với q hương đất nước, lễ hội gắn với các tơn giáo tín ngưỡng cụ thể

như lễ hội của phật, Kitơ, tín ngưỡng dân gian.

Lễ hội cổ truyền là những mốc đánh dấu chu trình trong đời sống sản xuất

và đời sống xã hội của mỗi cộng đồng người, mà một khi cái mốc mang tính lễ

nghi đó chưa được thực hiện thì các q trình sản xuất và q trình xã hội đó sẽ

bị đình trệ, sự sinh tồn và các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Ví dụ người Việt và

người Tày chưa thực hiện nghi lễ “hạ điền”, “lồng tồng” thì việc gieo hạt đầu mùa

sẽ không thể thực hiện; đứa trẻ sinh ra nếu chưa được thực thi nghi lễ “thổi tai”,

đặt tên thì nó chưa thể trở thành con người; một chàng trai đến tuổi trưởng thành

mà chưa trải qua nghi lễ thành đinh, cấp sắc thì chưa trở thành một thành viên

thực sự của cộng đồng; một đôi nam nữ thanh niên chưa làm lễ tơ hồng, lễ trình

gia tiên thì khơng trở thành vợ chồng… Do vậy, một nghi lễ, lễ hội bao giờ cũng

mang tính chuyển tiếp của một chu trình sản xuất vật chất hay xã hội nhất định.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI TẠI XÃ TIÊN DU, HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×