Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Thực tiễn vận dụng các chức năng trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay.

III. Thực tiễn vận dụng các chức năng trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay.

Tải bản đầy đủ - 0trang

9



- Khẳng định trước hết bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do

dân và vì nhân dân. Để quản lý kinh tế, Nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý, làm

cho nền kinh tế tăng trưởng, đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo điều

kiện để nhân dân sống và làm ăn theo pháp luật;

- Về mặt Nhà nước, thì Nhà nước là cơ quan thực thi quyền lực của nhân

dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia, chủ sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu; vận

hành nền kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định

hướng Xã hội chủ nghĩa;

Vai trò của Nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường rất nặng nề và quan

trọng:

+ Nhà nước phải tạo điều kiện thúc đẩy thị trường ra đời phù hợp với xu

hướng thời đại, đồng thời phải điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định và phát

triển.

+ Nhà nước phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa những

khuynh hướng: phân hóa giàu nghèo quá mức và tâm lý sùng bái đồng tiền, vì

đồng tiền mà chà đạp lên nhân phẩm, đạo đức… đồng thời hạn chế và khắc phục

khuyết điểm, yếu kém của bộ máy Nhà nước.

+ Nhà nước phải vận hành nền kinh tế bằng cơ chế quản lý mới, định hướng

Xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản chất của Nhà nước ta.

Như vậy, Nhà nước tạo lập đồng bộ các loại thị trường, quản lý, điều tiết

nhịp nhàng, có hiệu lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

3.2. Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế ở nước ta:

Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, được vận hành bằng cơ

chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chức năng quản lý kinh tế của Nhà

nước được xác định là chức năng quản lý kinh tế vĩ mô với các nội dung cơ bản

như sau:



10



- Thứ nhất, Nhà nước phải tạo được môi trường và điều kiện cho hoạt động

sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm sự ổn định về chính trị,

kinh tế, văn hóa, xã hội cho sự phát triển của nền kinh tế. Duy trì pháp luật trật tự

an tồn xã hội, thi hành nhất qn các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới,

ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, khống chế lạm phát, điều tiết các quan hệ thị

trường.

Tạo môi trường tâm lý, trong quá trình nhận thức của cán bộ đảng viên và

nhân dân phải hiểu cơ chế thị trường, nhận thức được tính hai mặt của cơ chế.

- Thứ hai, phải dẫn dắt và hỗ trợ những nổ lực phát triển thông qua chiến lược,

kế hoạch, các chính sách kinh tế, sử dụng có trọng điểm các nguồn lực kinh tế

quốc doanh, tạo nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành,

những lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hệ thống tài chính,

ngân hàng, bảo hiểm xã hội, những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ quan

trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng

– an ninh, khai thơng các quan hệ kinh tế.

- Thứ ba, Nhà nước phải hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội. Tăng

trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, ngay trong từng bước

và trong suốt q trình phát triển. Cơng bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối

tư liệu sản xuất lẫn ở khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người

đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình.

Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đơi với tích cực xóa đói, giảm nghèo; thu

hẹp khoảng cách và trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp

dân cư, giải quyết việc làm cho người lao động.

Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn,

đáp nghĩa”, nhân hậu. vv…



11



- Thứ tư, Nhà nước phải tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động trong

nền kinh tế trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi trường,

trật tự kỹ cương của nền kinh tế.

Nhà nước ta đang vận hành nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động diễn ra rất

đa dạng, phức tạp, các thành phần kinh tế vừa hỗ trợ hợp tác, vừa đấu tranh, mâu

thuẩn lẫn nhau. Hoạt động sản xuất kinh doanh trên các ngành nghề có thể làm ơ

nhiễm mơi trường, có thể có tác hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn gian lận

thương mại… đều có thể xảy ra. Vì vậy, Nhà nước khơng thể bng lỏng sự quản

lý của Nhà nước trên tất cả các hoạt động của nền kinh tế phát triển theo định

hướng chứ không thể để nó tự phát được.

Nội dung chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước được thực hiện bằng

việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô: công cụ luật pháp, công

cụ chiến lược chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu và cơng cụ

tài chính, tiền tệ giá cả. Do đó, q trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế gắn với

q trình đổi mới và hồn thiện các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô.

Về công cụ luật pháp, nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường trên cơ sở luật

pháp, các văn bản dưới luật. Hệ thống pháp luật là chính là cơ sở pháp lý cho hoạt

động đầu tư, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, duy trì trật tự kỷ cương kinh

tế, điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong kinh doanh theo các hướng

xác định. Chính vì vậy, pháp luật kinh tế phải rõ ràng, đồng bộ, thực tế, ổn định và

phù hợp với luật pháp kinh tế quốc tế.

Về cơng cụ chiến lược, kế hoạch, chương trình kinh tế - xã hội: Nhà nước

thông qua việc hoạch định chiến lược kinh tế xã hội và kế hoạch hóa ở tầm vĩ mơ

để định hướng cho các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo cho nền kinh tế phát

triển theo định hướng đã lựa chọn. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xem

như là sự lựa chọn có căn cứ khoa học các mục tiêu dài hạn và cơ bản của quá

trình phát triển kinh tế - xã hội, gắn với chọn lọc các phương tiện, biện pháp chủ



12



yếu để đạt mục tiêu đó. Chiến lược được cụ thể hóa thành các chương trình, kế

hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhằm đảm bảo những cân đối

chủ yếu cho nền kinh tế và định hướng cho sự vận động của nền kinh tế. Chiến

lược, kế hoạch phát triển kinh tế đồng thời cũng phải thể hiện quan điểm phát triển

nhanh nhưng bền vững, với mục tiêu tăng trưởng GDP dựa trên các giải pháp huy

động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, khắc phục những điểm yếu, phát huy mọi

thế mạnh, nắm bắt tốt những cơ hội và dự đốn mọi thách thức, rủi ro để có những

giải pháp ứng phó phù hợp.

Về cơng cụ các chính sách tài chính - tiền tệ - giá cả: đây là những công cụ

chủ yếu của quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường bởi lẽ kinh tế thị

trường thực chất là kinh tế tiền tệ. Vì vậy, Nhà nước cần phải nắm các công cụ này,

sử dụng linh hoạt các hình thức biện pháp tài chính, tiền tệ, giá cả để điều tiết thị

trường, tác động vào các giai đoạn và thời kỳ phát triển của nền kinh tế, nhằm đảm

bảo kích thích tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Một số chính sách quan

trọng mà nhà nước sử dụng để quản lý điều tiết nền kinh tế thị trường bao gồm:

Một là ngân sách Nhà nước: ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đối

với việc quản lý vĩ mơ tồn bộ nền kinh tế, nó giúp Nhà nước điều tiết vĩ mơ trên

các lĩnh vực như: điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát, định

hướng phát triển sản xuất, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính, điều chỉnh lĩnh

vực thu nhập.

Hai là chính sách thuế: chính sách thuế là một bộ phận trọng yếu của nền tài

chính quốc gia, thuế khơng chỉ giữ vai trò là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước để

thực hiện các chức năng và nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực của Nhà nước mà còn giữ

vai trò là cơng cụ quản lý vĩ mô. Thuế là công cụ điều tiết các hoạt động sản xuất

kinh doanh đúng hướng trên cơ sở Nhà nước sử dụng chính sách thuế có phân biệt

giữa các ngành, nghề, các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau, chính sách này sẽ tạo

điều kiện cho sự phát triển của các ngành nghề, hàng hóa, dịch vụ hoặc tạo sự tác



13



động ngược lại. Thuế là công cụ để điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư khác

nhau, điều tiết quan hệ lợi ích kinh tế giữa các vùng, các miền để đảm bảo thực

hiện chính sách xã hội, sự phát triển kinh tế - xã hội tương đối đồng đều giữa các

vùng, các miền đất nước. Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường,

thuế là công cụ điều tiết áp lực cạnh tranh, bảo hộ sản xuất trong nước, điều tiết

quan hệ xuất nhập khẩu và thực hiện chính sách kinh tế mở cửa.

Ba là chính sách giá cả: quản lý giá cả của thị trường bằng chính sách “giá”

là một trong những nội dung chủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với nền

kinh tế thị trường. Sự can thiệp này nhằm các mục tiêu: điều tiết quan hệ cung cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều

tiết quan hệ cạnh tranh, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh. Những mục tiêu

trên được thực hiện trên cơ sở Nhà nước xác định chính sách giá cả hợp lý trong

từng thời kỳ, chính sách này bao gồm 3 nội dung cơ bản: định giá trực tiếp, quản lý

gián tiếp, khống chế tổng mức vật giá. Phạm vi hàng hóa do Nhà nước định giá

trực tiếp chỉ giới hạn trong một số ít sản phẩm cơ bản có tính chiến lược hoặc có

tính phục vụ xã hội như: than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên

việc Nhà nước định giá trực tiếp cũng không thể đi ngược quy luật cung cầu của

thị trường trong thời gian dài. Hình thức thứ hai là Nhà nước chỉ đạo mức giá

(quản lý gián tiếp) thông qua việc xác định mức giá cao nhất, giá bảo hộ thấp nhất,

nhịp độ thả nổi, chênh lệch kinh doanh… trong giá cả hàng hóa. Hình thức quản lý

này đòi hỏi phải điều chỉnh thường xuyên giá cả chỉ đạo để làm cho nó tiếp cận với

giá cả thị trường. Hình thức nhà nước khống chế từng mức giá cả có mục đích,

đảm bảo sự ổn định cơ bản tổng mức giá cả và biện pháp khống chế từng mức giá

cả là hệ thống các biện pháp như: biện pháp hành chính, biện pháp tài chính, biện

pháp tiền tệ, biện pháp khống chế lương và hối suất…

Bốn là hệ thống ngân hàng: ngân hàng là “linh hồn của nền kinh tế thị

trường” và được Nhà nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong lưu thông, xác lập môi



14



trường tài chính lành mạnh, phù hợp với yêu cầu đầu tư, phát triển kinh tế và là

công cụ để thực hiện các chiến lược tài chính, tiền tệ quốc gia. Vai trò đó được

thực hiện thơng qua việc tổ chức hoạt động ngân hàng hai cấp trong nền kinh tế thị

trường bao gồm: Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Ngân hàng

Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ,

cung ứng và điều hòa lưu thơng tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền. Các ngân hàng

thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, thực hiện các dịch vụ tài

chính, ngân hàng. Cơng cụ sử dụng trong hoạt động ngân hàng là hệ thống luật,

văn bản dưới luật, lãi suất, chiết khấu, hệ thống thị trường tài chính - tiền tệ…

Hoạt động của hệ thống ngân hàng hai cấp, trong từng điều kiện cụ thể về quy mơ,

hiệu quả... sẽ giữ được vai trò trung tâm tín dụng, trung tâm tiền tệ, trung tâm

thanh toán và từ đó có thể khống chế, kiểm sốt, điều chỉnh hoạt động của nền

kinh tế quốc dân.

3.3. Nhà nước cần hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước về kinh tế trong nền

kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VIệt Nam

3.3.1. Nhận thức lại các chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, thực hiện tốt

việc phân công, phân cấp trong thực hiện các chức năng

- Nhận thức rõ chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế

- Tập trung thực hiện tốt các chức năng đã xác định

- Khơng can thiệp thơ bạo bằng mệnh lệnh hành chính vào thị trường

- Phân công, phân cấp và thực hiện các chức năng quản lý ở các cấp, các

ngành

3.3.2. Xử lý tốt mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng với quản lý Nhà nước

về kinh tế, giữa quản lý của Nhà nước với quản lý kinh doanh của doanh

nghiệp:

- Nhận thức và phân biệt giữa chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng

quản lý Nhà nước về kinh tế.



15



- Nhà nước quản lý nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh

doanh.

- Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và thực thi pháp luật...

3.3.3. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Nhà nước về

kinh tế

- Nâng cao hiệu lực quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương

- Tăng cường phối hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ

3.3.4. Tập trung mọi nguồn lực thực hiện 3 khâu đột phá: xây dựng hệ thống

kết cấu hạ tầng; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Sắp xếp, chấn chỉnh bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế

- Cải cách thủ tục hành chính

- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

3.3.5. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình sắp xếp, CPH và đổi mới DNNN, trọng tâm

là các tập đồn, tổng cơng ty nhà nước

- Đảm bảo mơi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh

- Thay đổi nhận thực về doanh nghiệp tư nhân và giới doanh nhân

3.3.6. Hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế, xây dựng đội ngũ cán

bộ, quản lý

- Đẩy lùi, xóa bỏ tệ quan lêu, tham nhũng

- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động kinh tế

- Đào tạo, rèn luyền, bồi dưỡng mọi mặt cho đội ngũ cán bộ làm công tác

quản lý Nhà nước về kinh tế .

VI.



Kết luận:



Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường sẽ

tồn tại lâu dài – suốt thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các thành

phần hoạt động sản xuất kinh doanh đan xen nhau, vừa hỗ trợ thúc đẩy, lại vừa

cạnh tranh mâu thuẩn đối lập thường xuyên xảy ra. Mặt trái của cơ chế thị trường



16



mâu thuẩn với bản chất của Xã hội chủ nghĩa, đó là xu hướng phân hóa giàu nghèo

quá mức, tâm lý sùng bái đồng tiền và vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân

phẩm của con người. Vì vậy, quản lý Nhà nước về kinh tế là một yêu cầu cần thiết

- khách quan, nhằm quản lý các thành phần kinh tế và thị trường hoạt động theo

định hướng Xã hội chủ nghĩa, theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền

với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ mơi trường.

Bằng những cơng cụ của mình, Nhà nước ta thực hiện được các chức năng

quản lý Nhà nước về kinh tế, đưa nề kinh tế xã hội phát triển, thực hiện mục tiêu

làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – vững bước

tiến lên Chủ nghĩa xã hội – con đường mà Đảng – Bác Hồ và Nhân dân ta hằng

mong ước.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Thực tiễn vận dụng các chức năng trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×