Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

phun nhiều làm tăng khả năng sinh sản của nhện cái đồng thời còn tiêu diệt

nhện bắt mồi trên đổng ruộng.

Nhện không những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng

mà còn là mơi giới truyền bệnh cho cây. Đặc biệt là bệnh virus như bệnh virus

Y trên cây khoai tây do nhện đỏ T.urticae là vecto truyền bệnh…

Cho đến nay, nhóm nhện nhỏ hại cây trồng nằm chủ yếu trong bốn họ

thuộc hai tổng họ Tetranychoidae và Eriophyoidae.

Hiện nay vẫn còn rất nhiều lồi nhện hại đã và đang được nghiên cứu

trên thế giới. Hy vọng những năm tiếp theo các nhà nghiên cứu sẽ phát hiện ra

nhiều kết quả mới và đưa ra được các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

2.1.2 Tình hình nghiên cứu ngồi nước về nhện bắt mồi

Kẻ thù tự nhiên của nhện hại cây gồm các nhóm chính: vi sinh vật, cơn

trùng và nhện bắt mồi. Trong đó nhện bắt mồi sống chủ yếu trong đất mùn, rác,

nơi mà chúng dễ săn bắt các loài chân đốt, tuyến trùng hoặc các loài Ve bét

khác. Đặc điểm của nhóm này là chân dài, chuyển động nhanh nhẹn và có kìm

dạng châm. Ngồi tác dụng phòng trừ nhện hại nhiều lồi nhện còn có tác dụng

to lớn trong chu trình tuần hồn vật chất, phân hủy các chất hữu cơ làm tăng độ

phì của đất.

Nhện bắt mồi thuộc họ ve bét gồm 3 họ chính là Phytoseiidae, họ

Stigmaeidae, họ Anystidae, Cheyletidae, Erythraeidae. Đây là nhóm kẻ thù tự

nhiên quan trọng của nhện hại.

Trong các họ có họ Phytoseiidaevới các thành viên sống tự do trên cạn

khơng thấy sống kí sinh. Đặc điểm về mặt hình thái của họ này là con cái có lỗ

để đưa túi tinh và lỗ sinh dục riêng biệt nằm ngang ở phần đốt chân IV. Lỗ

phóng tinh của con đực nằm giữa đôi chân III và IV, cấu tạo kìm của con cái và

con đực có nét riêng biệt đặc trưng cho từng lồi. Họ Phytoseiidae có 4 giống

với trên 1200 lồi.



99



Bên cạnh họ Phytoseiidae còn có họ Stigmaeidae 2 giống trong họ này

tấn công nhiều nhện hại chăng tơ Tetranychidae và một số nhện hại khác. Đặc

điểm khác biệt của họ này là trên lưng có 8 tấm trong đó nổi rõ và to hơn cả là

2 tấm lưng và tấm trước sinh dục.

Họ Anystidae, Cheyletidae, Erythraeidae đặc diểm chung là cơ thể mềm

có ít lơng trên lưng và khơng có lơng cảm giác phía trước lưng. Những loài

thuộc họ này đa số thuộc loài nhện bắt mồi đa năng.

Loài nhện bắt mồi đầu tiên được phát hiện là Scheuten năm 1857. Sau đó

là Phytoseiulus macropilis Banks năm 1905. Nhện bắt mồi đa phần thuộchọ

Phytoseiidae. Đến nay đã có hơn 1700 lồi nhện bắt mồi thuộc 50 giống được

ghi nhận.Một số tác giả cũng đưa ra kết quả của việc phòng trừ nhện bằng việc

sử dụng nhện bắt mồi và cơn trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh học. Trong

nửa cuối thế kỉ XX sự quan tâm về vai trò của nhện bắt mồi ngày càng mạnh

mẽ chỉ tính trong 15 năm từ 1970-1985 đã có 500 cơng trình nghiên cứu được

cơng bố về vấn đề này. Hiện có khoảng 20 lồi nhện bắt mồi được nhân ni

hàng loạt để phục vụ cơng tác phòng trừ dịch hại.

Lorado đã cơng bố kết quả sử dụng thành cơng lồi nhện Thanatus

flavidus Simol để trừ rệp Cimex hại người ở các trại tị nạn Hy Lạp. Nhện băt

mồi lý tưởng sử dụng trong đấu tranh sinh học. Mcmurtry (2013) đã mơ phỏng hệ

thống hóa phân loại họPhytoseiidae và ghi nhận các sự kiện lịch sử trong việc

điều tra định loại 20 lồi quan trọng có thể sử dụng trong phòng chống nhện hại.

Châu Phi là nguồn gốc của nhện bắt mồiPhytoseiulus longiper là thiên

địch của nhện hai chấm. Ở Nhật Bản loài Amblyseius deloni Muma là thiên

địch của nhện hại Panonychus ulmi.

2.1.3 Một số loài nhện bắt mồi Amblyseius sp. được nghiên cứu

Nhện bắt mồi Amblyseius sp. là động vật rất nhỏ bé, mắt thường chúng ta

không quan sát được các đặc điểm hình thái của nó mà phải trực tiếp quan sát

dưới kính hiển vi điện tử hoặc kính lúp điển tử.

1010



Nhện bắt mồi Amblyseius sp.thuộc họ Phytoseiidae. Con trưởng thành

hình ovan màu nâu nhạt xen lẫn màu trắng vàng. Trưởng thành cái phần bụng

tròn to, phần cuối bụng hơi cong hơn so với con đực.

Nhện non tuổi 1 (larva) có 3 đơi chân, cơ thể có màu trắng vàng, lột xác

một lần có 4 đơi chân.

Trứng của nhện bắt mồi Amblyseius sp.có hình trứng ngỗng màu hơi đậm.

2.1.3.1 Những nghiên cứu về loại Amblyseius cucumeris

* Vị trí, phân loại

Ngành :Chân đốt (Arthroppoda)

Lớp: Nhện (Arachinidae)

Bộ : Ve bét (Acarina)

Họ : Phytoseiidae

Loài : Amblyseius cucumeris.

Tại Trung Quốc, năm 2000, cuốn “ Công bố về hệ thống và ứng dụng

ngành nhện” trong đó có viết “Tiềm năng của của lồi Amblyseius cucumeris

(Phytoseiidae) một tác nhân khống chế sinh học chống lại nhện

ScizoTetranychus nanjigensis (Acari: Tetranychidae) tại Fujian, Trung Quốc”

các tác giả Yan X. Z, Zhi – Qiang Zhang, Lin Jian Zhen, JiE Ji thuộc Viện

nghiên cứu Bảo vệ thực vật, Phúc Kiến, Trung Quốc. Nhóm đã nghiên cứu thành

cơng trong việc sử dụng nhện bắt mồiAmblyseiuscucumeris để khống chế số

lượng nhện SchizoTetranychus nanjingensis hại trên cây trúc sào tại tỉnh Phúc

Kiến. Loài A. Cucumeris cũng được sử dụng để trừ nhện đỏ hại cam chanh, nhện

hại tre trúc và bọ trĩ . Ngồi ra, nhóm tác giả trên còn nhận thấy trên cam quýt

mật độ nhện đỏ tăng nhanh vào đầu vụ xuân, trong khi mật độ thiên địch của

nhện đỏ và bọ trĩ lại tăng rất chậm. Từ đó, các tác giả đã đề xuất giải pháp đơn

giản là cắt và cho thêm những cành sồi xanh có nhiều thiên địch lên cây cam

quýt. Với cách đó, mật độ nhện bắt mồi Phytoseius, Amblyseius tăng lên gấp đôi

và khống chế được dịch hại.

1111



Tại châu Âu và đông Mỹ, vấn đề xảy ra là nhện bắt mồi A.cucumeris bắt đầu

diapause trong điều kiện ngày ngắn và mát. Tuy nhiên loài nhện không diapause

được lựa chọn ở Newzeland bởi nhà khoa học người Hà Lan. Hiện nay chúng có

giá trị kinh tế cao và vẫn kiểm soát rất tốt lượng bọ trĩ trong mùa đông.

2.1.3.2 Những nghiên cứu về nhện bắt mồiAmblyseius swirskii

* Vị trí, phân loại

Ngành:Chân đốt (Arthroppoda)

Lớp: Nhện (Arachinidae)

Bộ: Ve bét (Acarina)

Họ: Phytoseiidae

Loài: Amblyseius swirskii.

Theo Sabelis và Frank (1992). Giống như những lồi nhện khác,

A. swirskii có năm giai đoạn phát triển: trứng, nhện non tuổi 1, nhện non tuổi 2,

nhện non tuổi 3 và nhện trưởng thành.

Trứng: Trứng hình bầu dục, màu trắng nhạt và dài khoảng 0,15

mm. Amblyseiusswirskii đẻ trứng ở mặt dưới của lá cây, chủ yếu là tại các giao

điểm của sườn chính và ngang. Con cái thích đẻ trứng trên lơng lá (trichomes) gần

gân lá, mà cũng có thể đó là một sự thích nghi để tránh những kẻ săn mồi trứng.

Nhện non: Tuổi 1 màu trắng nhạt gần như trong suốt và chỉ có ba đôi

chân. Các nhện non tuổi 2 và tuổi 3 có bốn đơi chân và cũng sẫm hơn so với tuổi 1.

Trưởng thành: Trưởng thành là hình quả lê, cơ thể dài khoảng 0,5 mm

(1/50 inch) và bốn cặp chân; con đực có thể nhỏ hơn con cái một chút.

Amblyseiusswirskii thích nghi với khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ướt và

kém phát triển trong điềukiện mát và độ ẩm tương đối thấp. Sự phát

triển A.Swirskii bị ảnh hưởng bởi các loại thức ăn như con mồi, phấn hoa, các

1212



dịch tiết từ thực vật, thức ăn và điều kiện môi trường sẵn có. Nhện phát triển từ

18°C đến 36°C ở độ ẩm tương đối 60% .

Amblyseius swirskii ăn vật mồi sống phát triển nhanh hơn và đẻ trứng

nhiều hơn khi so với khi ăn phấn hoa. Tỷ lệ thời gian phát triển, sinh sản, sự tồn

tại và giới tính được xác định cho các loài ăn tạp A. swirskii lúc nhiệt độ không

đổi (13°C, 15°C, 18°C, 20°C, 25°C,30°C, 32°C, 34°C và 36°C) vào đĩa lá ớt với

cattail, Typha latifolia, phấn cho thực phẩm. Những dữ liệu này được sử dụng để

lấy thông số bảng sống ở nhiệt độ không đổi. Không phát triển đã được quan sát

thấy ở 13°C. Ngưỡng phát triển thấp hơn, dựa trên sự phù hợp với phần tuyến

tính của đường cong phát triển, là 11,3°C. Ngưỡng phát triển trên là 37,4 ±

1,12°C, và nhiệt độ tối ưu đã được tính tốn là 31,5°C. Sức sinh sản trung bình

trong đời dao động từ mức thấp là 1,3 ± 0,24 trứng/cái ở 15°C đến16.1±0,34

trứng/cái ở 25°C, và rm là lớn nhất ở 32°C. Những giá trị này cho thấy quần thể

A. swiskii nên phát triển một cách nhanh chóng để đáp ứng với thực phẩm sẵn có

phấn hoa từ 20°C đến 32°C, những điều đó, đặc biệt là dưới 20°C, tốc độ tăng

trưởng quần thể có thể được làm chậm và ảnh hưởng đến quần thể con mồi nên

được theo dõi cẩn thận.

Họ Phytoseiidaecó 4 giống với trên 1200 lồi : giống Typhlodromus

Scheutenvới 275 lồi, Amblyseius Berlesecó 800 lồi, Phytoseius Ribagecó 400

lồi vàPhytoseiulusEvans có 4 lồi.

Amblyseius swirskii có nguồn gốc Israel, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Ai

Cập, và có thể được tìm thấy trên các loại cây trồng khác nhau như táo, mơ,

cam, chanh, rau và bông. Tại Bắc Mỹ, lần đầu tiên được phát hành vào năm

1983 đểkiểm sốt sâu hại cây có múi ở California. Kể từ năm

2005, Amblyseius swirskii đã được phát hành hoặc kiểm tra như một tác nhân

kiểm soát sinh học tại nhiều quốc gia châu Âu, cũng như Bắc Mỹ, Bắc Phi,

1313



Trung Quốc, Nhật Bản và Argentina (Van de Vrie, McMurtry và Huffaker

(1972)). Do



đó,



trong



những



năm



gần



đây,



hàng



loạt



nhện



lồi



Amblyseius swirskii đã được nhân ni đáng kể trong khu vực có điều kiện khí

hậu thích hợp với sự phát triển của chúng.

Theo Nguyen Duc Tung et al., (2012) phát triển, tồn tại và sinh sản của

nhện săn mồi A.swirskii (Athias- Henriot) (Acari: phytoseiidae) được đánh giá

khi cho ăn với phấn hoa (Typha latifolia L.), nhện kho (Carpogliphus lactis L.),

hoặc trên hai chế độ ăn nhân tạo. Các chế độ ăn nhân tạo cơ bản (AD1) được lấy

từ mật ong, sucrose, tryptone, chiết suất nấm men và long trứng đỏ. Chế độ ăn

uống này đã được làm giàu (tuyến AD2) bằng sự gia tăng (r m) của A.swirskii là

cao nhất trên tuyến AD2 và C. lactis, tiếp theo là phấn hoa và AD1.

Ngày nay trên thếgiới đã có một số cơng trình nghiên cứu đề cập tới việc

sử dụng nhện bắt mồi trong phòng trừ nhện hại. Những cơng trình này đã cho

thấy vai trò của nhóm kẻ thù tự nhiên trong việc phòng chống nhện hại. El-Deen

và Abdallah (2003) đã đưa ra kết quả của việc sử dụng nhện bắt mồi và côn

trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh học.Ghoosta vàPourmirza(2013), cho biết có

2 lồi nhện bắt mồi là Phytoseulus spvà Amblyseius sp. Đối với biện pháp sinh

học, quan trọng nhất là nhện nhỏ thuộc họ Phytoseiidae. Phần lớn các loài của

họ này là những loài bắt mồi ăn thịt nhện nhỏ hại cây, một số ít dùng các côn

trùng nhỏ(bọ phấn, rệp sáp, bọ trĩ ...) làm con mồi. Trong họ này có nhiều lồi là

thiên địch quan trọng trong phòng trừ nhện nhỏ hại cây và cơn trùng nhỏ (Bọ trĩ).

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1 Một số nghiên cứu về nhện hại cây trồng

Ở nước ta hiện nay môn Động vật hại nơng nghiệp đã được đưa vào

giảng dạy chính thức tại trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam giúp cho

sinh viên hiểu thêm về hình thái sinh học, đặc điểm gây hại của một số loài

chuột hại, ốc bươu vàng, nhện hại nhỏ. Giáo trình “Nhện nhỏ hại cây trồng”



1414



của Nguyễn Văn Đĩnh (2004) và “Nhện nhỏ hại cây trồng và biện pháp phòng

chống” (2002) cung cấp thơng tin cơ bản về nhện nhỏ hại và các biện pháp

phòng chống chúng.

Nhện nhỏ hại cây trồng đã xuất hiện và gây hại kể từ những năm 50 ở

nước ta. Khi thâm canh cao, trồng thuần cây bông, chè, cam chanh…Nhện hại

từ những loài thứ yếu trở nên phổ biến và trở thành loài nguy hiểm nhất. Theo

Nguyễn Thị Kim Oanh (2003) nhận định nhện đỏ T.cinnabarinus hại trên hoa

hồng tại Hà Nội. Trên báo Nông nghiệp Việt Nam ra ngày 20/10/2004, trên nho

nhện nhỏ hại nặng vào cuối vụ và bộ lá có thể bị hỏng hồn tồn, cây suy

yếu,năng suất giảm sút. Theo Lưu Thị Thùy Giang (2010), nhện đỏ 2 chấm

Tetranychus urticae Kock gây hại trên cây hoa hồng tại Hà Nội vụ xuân hè.

Các đặc tính gây hại của nhện hại, thành phần các loài nhện hại cây

trồng, đặc điểm sinh thái học của một số loài nhện hại được Nguyễn Văn Đĩnh

trình bày trong tài liệu. Các nghiên cứu này có vai trò quan trọng trong cơng

tác phòng chống nhện hại cây trồng.

2.2.2 Một số nghiên cứu về nhện bắt mồi

Ngồi hệ sinh thái nơng nghiệp ngồi tác động của thời tiết khí hậu từng

vùng sự phát triển số lượng quần thể nhện hại còn liên quan đến vai trò hoạt

động của số lượng quần thể thiên địch cụ thể là nhện bắt mồi. Nhằm hướng tới

sự phát triển của biện pháp sinh học một số tác giả đã tập trung nghiên cứu xác

định thành phần thiên địch và khả năng lợi dụng chúng trong phòng trừ nhện

hại cây trồng.

Hiện nay,có lồi nhện bắt mồi Amblyseius sp. (Acarina: Phytoseiidae) có

khả năng kìm hãm số lượng nhện hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế (Nguyễn Văn

Đĩnh và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2005). Loài Amblyseius sp. là kẻ thù tự nhiên

khá lý tưởng: có sức tấn cơng con mồi mạnh, sức ăn vật chủ cao,sống được

trong điều kiện bất lợi, có nơi ở và sự ưa thích ký chủ giống như con mồi (Cao

Thị Hằng, 2006)...

1515



Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Đĩnh (1994) đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm

của 3 loài nhện bắt mồi P. persimilis, A.anonymus và A. idaeus và khả năng

khống chế nhện đỏ của chúng. Tác giả cho đó là những tác nhân sinh học rất

hứa hẹn trong việc hạn chế số lượng quần thể nhện hại trên đổng ruộng. Vì vậy

chúng cần được quan tâm nghiên cứu nhân ni và sử dụng trong hệ quản lí

phòng trừ dịch hại tổng hợp đối với nhện hại trên cây trồng.

Tại trường Học viện Nơng Nghiệp Việt Nam lồi nhện bắt mồi

Phytoseiulus persimilis Athias-Henriot (nhập từ Hà Lan) đã được nhập nội và

nhân thả thành cơng, lồi này có tỉ lệ tăng tự nhiên rất cao r> 0,3 và khả năng

ăn nhện hại cao, hồn tồn có thể khống chế được nhện đỏ hại cây trồng.

Năm 2001, phát hiện ra hai loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae trên cây

khoai tây và cây đơn buốt ở Hà Nội. Loài Amblyseius sp. có khả năng kìm hãm

nhện trắng khá tốt. Năm 2003, đã xác định được 8 lồi cơn trùng và nhện bắt

mồi của nhóm nhện hại cam quýt vùng đồi Hòa Bình trong thời gian từ 19982001. Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Thị Kim Oanh, Nguyễn Văn Đĩnh

còn mở ra một hướng mới về nhân nuôi nhện bắt mồi trên những loại thức ăn

khác nhau.

Trong tạp chí KHKT nơng nghiệp năm 2013, nhóm tác giả, Phạm Thị

Hiếu, Phạm Văn Khánh và Lê Ngọc Anh, đã đi sâu nghiên cứu về khả năng phát

triển của quần thể của nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis Womersley, một

loại thiên địch quan trọng của nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch và

bọ trĩ Thrips palmy Karny. Nhóm tác giả đã cho thấy khả năng ăn mồi của nhện

bắt mồi và khả năng phát triển quần thể của nhện bắt mồi trên nhện đỏ và bọ trĩ.

Loài A.victoriensis Womersley, là loài mới được phát hiện ở Việt Nam, chúng có

khả năng kìm hãm số lượng nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus và bọ trĩ

thrips palmy cao. Lồi A.victoriensis có tỉ lệ tăng tự nhiên (r) cao, tương ứng ở

25°C và 30°C là 0,247 và 0,262.



1616



Theo Nguyễn Thị Kim Oanh cho biết tùy theo diện tích, số lượng cây và

mật độ loài gây hại mà đưa số lượng nhện bắt mồi tương ứng để khống chế số

lượng loài gây hại. Tận dụng những điều kiện tự nhiên trong trồng trọt ở nước

ta, các nhà khoa học của Học viện Nông nghiệp Việt Nam thực hiện nhân nuôi

nhện bắt mồi. Qua điều tra cho thấy, loài nhện bắt mồi Amblyseius sp. xuất hiện

rất phổ biến trên các cây trồng bị nhện đỏ và bọ trĩ gây hại ở Việt Nam, kết quả

nhân ni trong phòng thí nghiệm và ngồi đồng ruộng đều cho thấy lồi này có

tỷ lệ tăng tự nhiên cao, có sức ăn nhện hại lớn và hồn tồn có khả năng khống

chế số lượng nhện đỏ gây hại ngoài tự nhiên. Đặc biệt, việc nhân ni nhện bắt

mồi lại rất thuận lợi với khí hậu miền bắc, từ tháng 2 cho tới tháng 11 hàng năm.

Phòng nhân ni nhện bắt mồi nằm tạm trong khu thí nghiệm của bộ mơn

Cơn trùng. Quy trình nhân ni nhện bắt mồi do Nguyễn Văn Đĩnh, chủ nhiệm

khoa Nông học và nhóm nghiên cứu thực hiện.

Như vậy trong cơng tác phòng trừ nhện hại cây trồng ở nước ta, vấn đề

nhức nhối vẫn là việc lạm dụng thuốc hóa học. Ngoài ảnh hưởng trực tiếp tới

sức khỏe của người sản xuất và tiêu dùng, việc sử dụng thuốc hóa học q mức

còn gây ơ nhiễm mơi trường, dể lại dư lượng thuốc trên nông sản. Cân bằng

sinh học bị phá vỡ, những chủng nòi nhện hại mới xuất hiện đồng thời thuốc

hóa học đã làm suy giảm số lượng quần thể thiên địch tự nhiên vốn là nhân tố

quan trọng trong điều chỉnh số lượng dịch hại trên cây trồng. Từ đó thấy việc

áp dụng biện pháp sinh học và quản lí dịch hại tổng hợp đã và đang được phát

triển tại Việt Nam. Trong đó việc sử dụng thiên địch dịch hại là một hướng đi

đúng đắn.



1717



PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhện bắt mồi họ Phytoseiidae.

- Nhện đỏ hại rau.

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 1 năm 2017 tại

phòng Bio-control của bộ mơn Côn trùng khoa Nông học Học viện Nông

Nghiệp Việt Nam.

3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

- Vật liệu: cây dưa chuột, cây cà, cây đậu cove...

- Dụng cụ: lam kính, lamen, đĩa peptri, bút lơng gắp nhện, kim gắp

trứng, khay nhựa ni nguồn,nước, kính hiển vi, đèn chiếu sáng, túi bóng kính,

giấy,kính lúp soi nổi, mút xốp, hộp nhựa vuông,…

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần sâu nhện hại và thiên địch trên rau.

- Điều tra diễn biến mật độ nhện đỏ và loài nhện bắt mồi nhện đỏ phổ

biến nhất.

- Nhân ni quần thể các lồi nhện bắt mồi thu được và tiến hành đánh giá

khả năng ăn nhện đỏ trong phòng thí nghiệm của lồi nhện bắt mồi phổ biến nhất.

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần thiên địch và dịch hại

Điều tra bất kì 10 điểm trên ruộng điều tra. Quan sát và thu thập mẫu để

xác định mức độ phổ biến của từng thành phần trên đồng ruộng.



1818



3.4.2 Phương pháp điều tra thành phần nhện bắt mồi (NBM)

Phương pháp điều tra thành phần của nhện bắt mồi được tiến hành theo

QCVN 01-38:2010/ BNNPTNT. Điều tra thành phần nhện bắt mồi trên cây ký

chủ của nhện đỏ như dưa chuột, đậu cove,cà,... theo định kỳ 7 ngày/lần. Trên mỗi

cây trồng, điều tra theo 10 điểm ngẫu nhiên nằm trên đường chéo của khu vực

điều tra, mỗi điểm lấy ngẫu nhiên 10 lá cho vào túi nilon đóng kín và kiểm tra

dưới kính hiển vi soi nổi trong phòng thí nghiệm. Điểm điều tra phải cách bờ ít

nhất 1 luống hoặc hàng. Mẫu nhện bắt mồi thu được được tiến hành làm mẫu lam

và giám định mẫu theo sách phân loại của Wu và ctv.,2009.

3.4.3 Phương pháp điều tra mật độ nhện bắt mồi

Trên cây tiến hành điều tra định kì 7 ngày/lần theo phương pháp 10

điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 lá. Mười lá của từng điểm cho vào nilon

riêng bọc kín mang về phòng thí nghiệm. Sau đó soi dưới kính hiển vi để đếm

số lượng nhện bắt mồi trên từng điểm điều tra.

Cơng thức tính:

Mật độ (con/ lá ) =

3.4.4 Phương pháp điều tra mật độ nhện đỏ

Tương tự phương pháp điều tra mật độ nhện bắt mồi.

3.4.5 Phương pháp nuôi nguồn nhện đỏ

Thu bắt nhện đỏ trên câyrau thả trên cây đậu đỗ đã trồng trong nhà lưới

để tăng số lượng quần thể nhện đỏ tạo lượng lớn thức ăn cho nhện bắt mồi.

Trồng đậu đỗ trong nhà lưới:

- Ngâm hạt đậu đỗ trong 12h

- Tạo các bầu đất nhỏ (bầu nilong màu đen có đường kính 15cm, chiều

cao 10cm).

- Gieo hạt trong bầu đất, làm ẩm đất.



1919



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×