Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mục đích và yêu cầu

Mục đích và yêu cầu

Tải bản đầy đủ - 0trang

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU



2.1. Giới thiệu về chi Hippeastrum

2.1.1. Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố

a Vị trí phân loại:

Chi Hippeastrum thuộc Họ Hành (Liliaceae), bộ Hành (Liliales), phân lớp

Hành (Liliidae), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) (Nguyễn Tiến Bân, 1997;

Dương Đức Tiến,Võ Văn Chi, 1978). Chi Hippeastrum hiện có 90 lồi và hơn

600 dạng lai, phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Á, châu Mỹ. Ở Việt Nam, họ Hành

có khoảng 50 chi và 100 loài (Trần Hợp, 1993). Thực vật họ Hành rất đa dạng

và phân bố ở nhiều nơi.

Thực vật họ Hành được con người sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau

nhưng tập trung nhất vào 2 lĩnh vực: Chơi hoa, cây cảnh và làm thuốc chữa

bệnh.(Trích theo Hà Bích Ngọc, 2006).

b Nguồn gốc

Trong tiếng Hy Lạp, “Hippeastrum” có nghĩa là “ngơi sao kỵ sĩ”, ngày

nay nó cũng được biết đến với cái tên “ngôi sao của chàng hiệp sĩ” và đã được

đặt tên từ năm 1837 bởi mục sư William Herbert. Lý do tại sao vị mục sư lại lựa

chọn tên này không ai biết đến mặc dù người ta cho rằng cụm hoa khi chưa nở

được bao bọc bởi 2 lá mo trông rất giống mắt ngựa và khi hoa nở trông rất giống

ngôi sao. Sự mua bán các cây hoa thuộc chi Hippeastrum diễn ra lần đầu khi

những người trồng hoa ở Hà Lan nhập khẩu một vài lồi từ Mexico và Nam Mỹ.

Q trình nhân giống và lai tạo được diễn ra trong suốt thế kỉ 18, sau đó lồi hoa



9



này được chú ý đến ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 19. Năm 1946 hai người trồng hoa

ở Hà Lan mang cây hoa này đến Nam Phi và bắt đầu trồng trọt tại đây.

Mặc dù hầu hết các cây hoa thuộc chi Hippeastrum đều xuất phát từ Hà

Lan và Nam Phi nhưng ngày nay chúng lại rất phát triển ở Anh, Nhật, Isarel, Ấn

Độ, Brazil và Autralia. Chúng được du nhập vào Việt Nam từ Nhật Bản, Hàn

Quốc và các nước Châu Âu từ thế kỷ 20 với nhiều màu sắc khác nhau.

c Phân bố

Ở Việt Nam, chi Hippeastrum có 2 lồi, 1 thứ, được nhập làm cảnh (Võ

Văn Chi 2004, Từ điển thực vật thông dụng, NXB khoa học và kĩ thật Hà Nội,

Nguyễn Thị Đỏ 2007, Thực vật chí Việt Nam, NXB khoa học và kĩ thật Hà Nội).

Hiện chưa có nhiều lồi trong chi Hippeastrum nhưng sự phân bố của chúng là

khá đa dạng, có thể bắt gặp các giống hoa Lan Huệ ở khắp nơi trong cả nước từ

Bắc vào Nam, từ vùng núi đến đồng bằng. Ở miền Nam các loài hoa thuộc chi

này nhiều hơn miền Bắc, việc trồng trọt, nhân giống, mua bán các loại cây này

cũng diễn ra khá phổ biến trong khi đó ở miền Bắc còn chưa nhiều. Ngày nay,

với sự xuất hiện đa dạng về hình dáng, màu sắc cũng như kích thước hoa mà

Lan Huệ dần dần được ưa chuộng trên thị trường trong nước. Đặc biệt là mọi người

rất quan tâm đến vấn đề điều khiển cho cây ra hoa vào đúng dịp tết, tuy nhiên quy

mơ và diện tích trồng còn nhỏ lẻ, chỉ trong phạm vi vườn cây cảnh ở nhà.

2.1.2. Đặc điểm thực vật học của Chi Lan Huệ (Hippeastrum Herb.)

Là những cây thảo có thân hành. Dạng thân hành, hình cầu, có áo mỏng

bao ngồi. Lá tập trung ở gốc gần như thành 2 dãy, phiến lá hình dải, hình

kiếm,hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, dài, cứng, có nhiều gân

song song.



10



Hoa lan huệ mọc ra từ một cuống tròn to, cuống mọc lên từ nách lá (cao

20 – 30 cm). Mỗi cành thường có 4 nụ hoa nên còn gọi là huệ tứ diện. Hoa lan

huệ từ khi nở đến khi tàn khoảng 5 – 10 ngày, lúc đầu nở 2 nụ vài ngày sau nở 2

nụ còn lại. Cụm hoa tán có từ 2 đến nhiều hoa.Trục hoa (cành mang hoa) hình

trụ,thẳng đứng, rỗng. Lá bắc tổng bao dạng mo, gồm 2 cái, mỏng, tồn tại. Hoa to

đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống. Bao hoa hình phễu, nằm ngang hoặc

rũ xuống, 6 mảnh, dạng tràng, phần dưới dính nhau thành ống, ngắn, họng có

1vòng vảy ngắn hoặc một vòng tràng phụ cụp vào trong, phần trên 6 thuỳ, xếp 2

vòng, các thùy bằng nhau hoặc các thuỳ vòng trong hẹp hơn. Nhị 6; chỉ nhị đính

ở họng ống bao hoa; bao phấn 2 ơ, đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc.

Bầu hạ, 3 ơ, đính nỗn trung trụ, mỗi ơ nhiều nỗn; vòi nhụy dài, mảnh; đầu

nhụy dạng đầu hoặc 3 thuỳ. Quả nang hình cầu hoặc hình thn, mở ở khe lưng

thành 3 mảnh. Hạt nhiều, dẹp, màu đen nội nhũ nạc bao lấy phơi nhỏ (Trích theo

Nguyễn Thị Đỏ, 2007).

2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của loài hoa Lan Huệ.

Ở nước ta, các loài trong chi Hippeastrum thường ra hoa vào khoảng giữa

tháng 2 cho đến hết tháng 5, nở tập trung nhất vào cuối tháng 3 đầu tháng 4

(Trích theo Nguyễn Thị Đỏ, 2007).

Cây thân hành đẻ nhánh nhanh, có thể nhanh chóng lan ra khắp khu đất

trồng. H.equestre có khả năng duy trì bộ lá xanh quanh năm nên vẫn giữ được

màu xanh trong suốt mùa đơng. H.equestre khơng thích hợp với nhiệt độ thấp.

Vào những tháng có nhiệt độ xuống thấp cây vẫn có thể được trồng ngồi trời

nhưng nên phủ rơm rạ, lá khơ quanh gốc để hạn chế tác hại.

Nhìn chung, từ lần ra hoa thứ 2 củ lan huệ có khả năng cho ra hoa nhiều

hơn 1 ngồng, nhưng còn phụ thuộc vào giống. Một số củ nhỏ có thể cho 2 ngồng



11



trong khi nhiều củ có kích thước to lại chỉ cho 1 ngồng duy nhất. Thực tế cho

thấy, khi lan huệ được trồng trong điều kiện tối ưu và được chăm sóc tốt đã cho

tới 3 ngồng trong một vụ hoa.Củ phải ra ít nhất 4 lá to và khỏe ở năm trước thì

mới có hoa vào năm sau. Có vài trường hợp, một củ cho 2 ngồng hoa cùng 1 lúc

nhưng thơng thường thì chúng ra lệch nhau. Ngồng thứ hai có thể ra lệch hơn

ngồng thứ nhất vài ngày cho đến vài tuần, có những trường hợp cá biệt cách

nhau đến vài tháng. Ngồng sau thường ra ít hoa hơn ngồng trước, thường có 2

đến 3 hoa trên ngồng trong khi ngồng thứ nhất có đến 4 hoa.

Các cây trong chi Hippeastrum có một đặc điểm là khơng ra lá trước khi

cây ra hoa. Nhiều khi bộ lá tàn lụi hẳn cây mới bắt đầu nhú ngồng hoa. Các củ

hoa Hà Lan thường ra hoa trước, đến khi hoa tàn thì mới bắt đầu ra lá. Còn các

củ hoa từ Nam Phi thì lại ra lá cũng với sự xuất hiện của ngồng hoa (Trích theo

Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014).

Hầu hết các cây có thân hành hoặc giò ngầm đều có thời kỳ ngủ nghỉ

dưới đất và đây cũng là thời kỳ cần ít sự quan tâm chăm sóc nhất trong năm. Các

lồi thuộc chi Hippeastrum cũng như hầu hết các cây họ hành khác đều yêu cầu

đất thống khí, thốt nước tốt. Điều này vơ cùng quan trọng vì thân hành sẽ dễ

bị thối vào thời kỳ ngủ nghỉ nếu đất q ẩm và kém thống khí.

Nhiều giống thuộc chi Hippeastrum sinh trưởng và phát triển tốt hơn khi

được che bóng nhẹ. Vì vậy, có thể trồng cây dưới tán cây lớn, che nắng bằng

lưới đen hoặc đưa chậu trồng cây vào ban công, hiên nhà cây vẫn sinh trưởng,

phát triển tốt.

2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây hoa Lan Huệ

Lan Huệ là một loại cây trồng khá dễ tính và có một sức sống cực kỳ

mạnh mẽ. Chúng có thể chịu mọi chế độ khắc nghiệt về dinh dưỡng và ánh sáng.

Tuy nhiên, khi gặp những điều kiện bất thuận như vậy, nó sẽ làm ảnh hưởng đến

xấu đến năng suất hoa. Điển hình là cây sẽ cho ít hoa trên cụm hoa hơn, hoa



12



thường có kích thước nhỏ và độ bền của hoa cũng giảm. Nếu muốn trồng hoa

với mục đích thương mại hay “chơi” hoa thì những điều kiện ngoại cảnh để tạo

cho Lan Huệ sinh trưởng, phát triển tốt ta cần phải quan tâm, chú ý và có chế độ

chăm sóc phù hợp.

2.1.5. Nhiệt độ

Lan Huệ cũng như các loài hoa thuộc chi Hippeastrum có thể chịu được

nhiệt độ tương đối cao do có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ nơi mà mùa

hè thường có nhiệt độ khá cao. Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và

phát triển của Lan Huệ là 20 – 22 oC trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, nước

tưới và ánh sáng. Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phân hóa mầm hoa cần cho

củ Lan Huệ trong điều kiện ánh sáng trung bình và có nhiệt độ khoảng 7 – 13 oC

(Trích theo Quách Thị Phương, 2009).

Vào mùa đông, ở các nước xứ lạnh người ta thường đem chậu cây vào

trong nhà để lấy ánh sáng, nhiệt độ thoải mái đối với người là vừa đủ cho cây.

Nếu trồng ngồi trời thì nên lấy rơm rạ, lá khô phủ quanh gốc để tránh rét cho

cây (Trích theo Tơ Thị Mai Dung, 2008).

2.1.6. Ánh sáng

Để sinh trưởng phát triển tốt các cây hoa thuộc chi Hippeastrum cần được

chiếu sáng đầy đủ và thường xun, Lan Huệ thích hợp trồng cả những nơi bóng

râm hay những nơi có nắng. Tuy nhiên nên trồng ở những nơi có nắng nhẹ vào

buổi sáng và đảm bảo thời gian chiếu sáng khoảng 6 giờ/ngày. Khi thấy cây xuất

hiện ngồng hoa nên đưa cây ra ngoài ánh sáng trực tiếp, ánh sáng mặt trời sẽ

giúp cây cứng cáp, ngồng hoa mập mạp khỏe mạnh và đứng thẳng. Trồng ở

ngoài nắng hoa sẽ mọc nhanh hơn và trổ hoa sớm hơn trong bóng râm. Chú ý



13



ngồng hoa sẽ bị cong không đẹp nếu trồng Lan Huệ nơi thiếu ánh sáng và ánh

sáng bị lệch (Trích theo Tơ Thị Mai Dung, 2008).

2.1.7. Đất và dinh dưỡng

Các loại đất thích hợp trong trồng Lan Huệ cần có thành phần cơ giới nhẹ,

đất tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước nhanh nhưng giữ ẩm tốt, độ pH hơi chua từ

6,0 – 6,5 như đất phù sa, thịt nhẹ; không nên trồng Lan Huệ trên đất thịt nặng

khó thốt nước vì dễ làm thối củ vào mùa mưa. Đất cát là loại giá thể lý tưởng

cho các cây họ hành nói chung và chi Hippeastrum nói riêng, do loại đất này có

khả năng thốt nước nhanh, ấm lên nhanh khi vào mùa xuân và khơ khi vào mùa

hè. Trên đất cát nhiều mùn thì năm đầu tiên khơng cần phải bón phân cho cây.

Cần phải cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, thường xuyên cho cây như bón phân hữu

cơ, phân vi sinh. Ngồi ra cần cung cấp dinh dưỡng qua lá cho cây, nhất là giai

đoạn cây ra hoa, giúp cho hoa có màu sắc tươi đẹp và độ bền lâu hơn (Trích theo

Quách Thị Phương, 2009).

2.1.8. Nước

Cây Lan Huệ có củ để giữ nước và dinh dưỡng nên không cần tưới

thường xuyên, hơn nữa Lan Huệ là cây rất sợ úng. Tưới nhiều nước hoặc khi gặp

mưa nhiều úng nhiều củ Lan Huệ sẽ bị thối. Đặc biệt là khi chuyển từ bầu để

trồng xuống đất. Khi việc cung cấp nước thường xuyên giúp cho cây khỏe mạnh

và không bị héo, nhất là thời kỳ cây ra hoa đây là thời kỳ cây cung cấp nước

nhiều nhất, thiếu nước trong giai đoạn này ngồng hoa chậm phát triển, còi cọc,

cánh hoa mỏng và yếu ớt. Vào mùa đơng cây cần cung cấp ít nước hơn.

Ở thời kỳ mới trồng củ xuống đất, rễ chưa bén cần cung cấp ít nước, nếu

tưới nước nhiều hoặc khi trồng gặp mưa nhiều củ Lan huệ có thể bị thối. Chúng

ta nên tưới cây vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là thích hợp nhất để tránh nắng



14



to. Vào mùa khô cần phủ gốc bằng vật liệu hữu cơ để giữ ẩm cho cây (Trích

theo Nguyễn Thị Ánh, 2015).

Giống như những cây khác, muốn ra hoa Lan Huệ cũng đòi hỏi phải có

một thời gian khơ hạn để phân hóa mầm hoa. Vì thế trong điều kiện tự nhiên,

vào mùa khô cây sẽ bị thiếu nước lá héo khơ, cây sẽ phân hóa mầm hoa, khi mùa

mưa đến có nước, cây sẽ ra lá và trổ hoa.

2.2. Kĩ thuật trồng và chăm sóc cây hoa Lan Huệ.

2.2.1. Kĩ thuật trồng.

a Chuẩn bị: Chọn chậu hoặc bầu: Dựa vào hình dạng và kích thước của củ mà

chọn chậu (bầu) cho thích hợp. Đối với những củ có đường kính trung bình thì

-



nên chọn chậu (bầu) có đường kính 15 – 20cm, phải có lỗ thốt nước.

Chọn đất trồng: Độ pH thích hợp là 6,0 – 6,5, đất giàu chất hữu cơ sẽ giúp tăng

trưởng tốt nhất, đất pha cát hoặc đất sét cũng được nhưng cần phải thoát nước



-



tốt.

Chú ý: khơng pha trộn vỏ thơng vào đất (vì vỏ thơng tạo sự biến đổi độ pH



-



khơng thích hợp với Lan Huệ).

Chọn vị trí trồng: Nên trồng Lan Huệ ở những nơi có nhiều nắng, nhưng nắng

vào buổi sáng là tốt nhất. Nên có chút bóng râm nếu chỗ trồng nhận nhiều nắng.

Trồng những nơi thiếu nắng cây vẫn sống nhưng khả năng cho bông giảm hoặc



-



không ra bông mỗi năm.

Phân bón: Dùng phân tan chậm (slow – release fertilizer) 5-10-10 hoặc 6-12-12,

tốt nhất là dùng dạng phân lỏng (water – soluble fertilizer) (Trích theo Nguyễn

Thị Ánh, 2015).

b Kỹ thuật trồng

- Nếu bắt đầu trồng từ củ mới đào lên hoặc mua củ giống chưa trồng vào đất, tách

bỏ lớp vỏ khô, rễ hỏng, cố gắng không làm tổn thương củ, để củ chỗ khơ ráo mát

mẻ, khơng khí lưu thơng ít nhất vài ngày giúp cho vết cắt khô lại nhằm tránh bị

thối rễ hoặc thối củ Lan Huệ.



15



- Nếu là củ khô (củ tồn trữ) nên ngâm rễ củ trong nước 1 ngày cho rễ hút nước

trước khi trồng xuống đất, chỉ dùng nước bình thường khơng có pha thêm dinh

dưỡng.

- Nếu bắt đầu từ củ tồn trữ bảo quản trong tủ lạnh: để củ Lan Huệ trong nước ấm vài

giờ (chú ý lượng nước chỉ ngập rễ mà không ngập củ để tránh thối củ).

- Không cần trộn phân bón vào trong đất trước khi trồng, nếu cần thiết thì chỉ nên

trộn một lượng nhỏ phân NPK (khoảng ½ thìa cà phê) vào lớp đất phía đáy

chậu, sau đó phải phủ thêm một lớp đất khơng có pha trộn phân bón lên trên sao

cho rễ khơng chạm vào lớp phân bón (lớp đất 10cm sẽ vừa vặn với sự phát triển

-



của bộ rễ).

Đặt củ ở vị trí chính giữa chậu (bầu), chèn đất vòng xung quanh sao cho 2/3 củ

chìm xuống đất (phần cổ củ phải trên mặt đất sao cho nước không đọng ở đọt

làm thối củ) (Trích theo Nguyễn Thị Ánh, 2015).

2.2.2. Chăm sóc



-



Có khoảng 85-90% các lồi trong chi Hippeastrum là giống có thể trồng trong

nhà có mái che, tuy nhiên nếu cho rằng cây không cần điều kiện chiếu sáng

trong suốt thời gian trước khi ra hoa là hoàn toàn sai lầm. Chỉ nên đưa cây vào

trong nhà khi nhiệt độ ngoài trời quá thấp và để thưởng thức khi cây ra hoa. Cây

cần điều kiện chiếu sáng vài giờ trong ngày, tuy nhiên nếu để cây ở ngoài nắng

suốt mùa hè thì nhiệt độ và ánh sáng trực xạ có thể gây cháy lá. Do đó tốt nhất

nên để cây dưới giàn có mái che (Trích theo Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014). Chú

ý tưới nước đều đặn, có thể kết hợp tưới phân hòa tan hoặc rắc phân đã được



-



nghiền nhỏ cho cây (Trích theo Tơ Thị Mai Dung, 2008).

Vào tháng 9, bắt đầu giảm lượng nước tưới cho cây (trừ khi nhiệt độ còn quá

cao), điều này sẽ làm giảm nguy cơ bị thối rễ đồng thời củ hoa cũng bước vào

thời kỳ nghỉ ngơi nên đòi hỏi lượng nước khơng nhiều. Vào thời gian có mưa

nhiều nên đưa cây vào nơi ít chịu ảnh hưởng như hiên nhà, hành lang. Người ta

thường tiến hành chuyển cây vào khoảng tháng 10 cho đến đầu tháng 11. Với



16



cây trồng chậu có thể chuyển sang chậu lớn hơn khi củ đã trưởng thành và đẻ

nhánh. Nên tách các củ con đã có rễ trồng ra nơi khác để tránh cạnh tranh dinh

dưỡng. Khi nhổ củ nên cần quan sát kỹ bộ rễ để phát hiện vật ký sinh, bệnh hoặc

thối nhũn. Một bộ rễ hở mạnh có nhiều rễ mập, màu trắng, ít bị xơ. Mỗi lần thay

chậu, yêu cầu thay toàn bộ lượng đất mới, không dùng lại đất cũ đã bị khơ xác,

-



nghèo dinh dưỡng và có thể mang các nguồn bệnh.

Trong suốt thời gian từ sau khi trồng cho tới khi cây nảy lộc mới cần giữ ẩm và

bón lượng dinh dưỡng cần thiết, sau đó việc tưới nước có thể khơng cần thường

xun. Khi tưới cần chú ý phun thật nhẹ nước lên lớp đất trồng xung quanh củ,

không tưới trực tiếp lên đỉnh ngọn cây, dễ làm thối củ (Trích theo Cao Thị Thoa,



-



2010).

Yêu cầu sử dụng phân bón của cây Lan Huệ cũng khơng cao. Sau khi trồng, khi

đã thấy lá mới xuất hiện, cung cấp phân bón 2 lần 1 tuần, bón phù hợp với nhu

cầu của cây về các yếu tố dinh dưỡng vi lượng và đa lượng. Vào mùa xn chỉ



-



bón một ít lúc cây ra hoa, để cho củ to kỳ ra hoa bón 1- 2 lần P,K.

Trong mùa sinh trưởng cần phải tưới nước, nhưng phải xới xáo để đất được



-



thông thoáng tránh củ và rễ bị thối. Mỗi năm phải thay chậu 1 lần.

Sau khi cây ra hoa phải cắt bỏ những hoa tàn, làm giảm bớt sự tiêu hao dinh

dưỡng. Chú ý tránh làm tổn thương bộ lá. Đối với những cây trồng trong chậu,



-



sau khi cắt những hoa tàn nên cho củ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

Thường xuyên kiểm tra những dấu hiệu của sâu bệnh, phát hiện sớm và có

những dấu hiệu phòng tránh kịp thời (Trích theo Nguyễn Thị Ánh, 2015).

2.2.3. Sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ



a Sâu hại

- Chủ yếu là sâu hại bộ cánh vảy: Sâu khoang, sâu xanh… Nhưng trong đó có một

loại sâu phá hại vơ cùng nghiêm trọng, đó là Brithys crini, là loại sâu hại chính

trên cây Trinh nữ hoàng cung. Sâu thường xuất hiện và gây hại khi cây bắt đầu



17



ra hoa. Là loại sâu biến thái hồn tồn, cơ thể hình ống dài, mình phủ đầy lơng,

trên mỗi đốt của cơ thể có 2 hàng vân trắng.

+ Triệu chứng: Sâu tuổi nhỏ ăn phần thịt lá và để lại lớp biểu bì phía trên. Sâu tuổi

lớn ăn khuyết lá non, ngọn non, mầm non, khi cây có nụ sâu ăn đến nụ và làm

hỏng nụ, hoa. Khi chúng đã ăn hết lá, nụ và hoa, loại sâu này tiến xuống phần củ

để ăn. Sức ăn của sâu tuổi lớn khỏe hơn gấp nhiều lần so với sâu tuổi nhỏ (Đào

-



Thu Lan, 2015).

Ngoài loại sâu nguy hiểm Brithys crini còn có loại sâu Xám phá hoại cây. Sâu

Xám có tên khoa học Agrotis ipsilon, thuộc ngài đêm (Noctuidae), bộ cánh vảy

(Lepidoptera). Sâu non màu xám đen hoặc nâu xám, dọc theo hai bên thân có 1

dãy đen mờ, đầu mầu nâu sẫm. Trên mỗi đốt thân phía trên có 4 u lơng nhỏ, phía

dưới có 4 u lông lớn. Đốt cuối cùng của mảnh lưng có 2 vệt màu nâu đậm. Sâu

Xám là lồi sâu đa thực. Cây ở giai đoạn cây non thường bị phá hoại nghiêm

trọng, gây mất cây trên ruộng, làm giảm năng suất.

+ Triệu chứng: Sâu non mới nở sống ở trên lá cây, ăn phần mô lá tạo nên những

vết thủng li ti trên bề mặt lá. Cắt đứt ngang thân cây kéo xuống mặt đất. Sâu non

có tính giả chết, sau khi bị đụng vào chúng cuộn mình lại lăn ra giả chết (Trích

theo Nguyễn Thị Ánh, 2015).

b Bệnh hại

Lan Huệ thường bị một loại nấm (Stagonospora curtsii) ký sinh và gây

nên những vết màu đỏ trên lá và hoa. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện độ

ẩm cao, đặc biệt vào những hôm mưa, bị ngập úng. Bệnh có khả năng lây lan từ

cây này sang cây khác, sau 1 thời gian bị hại, trên lá sẽ có nhiều vết nâu đỏ, khơ

đi sau đó lá bị rụng. Nếu bệnh xuất hiện trên củ sẽ làm củ thối rữa.

Lan Huệ còn có thể bị nhiễm một số bệnh khác do tác nhân virus gây ra là

Hippeastrum mosaic virus (HiMV) gây bệnh khảm lá,Vallota speciosa virus

(ValSV) gây bệnh đốm hình nhẫn (Đào Thu Lan, 2015).



18



Bệnh do virus thường lây lan qua côn trùng như rệp hoặc thông qua cơ

học bằng cách sử dụng cùng một công cụ để cắt các cây lây nhiễm bệnh và khỏe

mạnh.

c Biện pháp phòng trừ

- Đối với sâu Brithys crini, khi sâu mới chớm xuất hiện với số lượng sâu ít hoặc ít

cây bị phá hoại có thể bắt bằng tay. Nếu số lượng sâu nhiều thì phải sử dụng

Supracide 40 Nd liều lượng 10-15ml/bình 8 lít, Pegasus 500 Sc liều lượng 7 –

10ml/bình 8 lít, Ofatox 40 EC liều lượng 8 – 10ml/ bình 8 lít, Actara, Regon

-



25WP liều lượng 1g/ bình 8 lít (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014).

Đối với sâu Xám (Agrotis ipsilon), ta nên làm sạch cỏ để mất nơi cư trú, ẩn nấy

của chúng. Sâu thường hoạt động vào khoảng thời gian từ chiều mát đến sáng

sớm hơm sau, vì vậy có thể dùng tay bới đất quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt.

Dùng bẫy chua ngọt gồm 4 đường + 4 dấm + 1 rượu + 1 nước. Cho vào bình đậy



-



kín sau 3 – 4 ngày thì cho thêm 1% lượng thuốc trừ sâu.

Để hạn chế sự xâm nhập của nấm ký sinh (Stagonospora curtsii), khi chăm sóc

cần tránh làm tổn thương tới cây, dụng cụ cắt phải được sát trùng. Khi phát hiện

các cây bị nhiễm bệnh khảm lá hoặc đốm hình nhẫn cần hủy bỏ. Bệnh do nấm

gây ra thì việc tưới nước có thể làm thúc đẩy sự phát triển nhanh của Fusarium.

Fusarium và bệnh nấm khác có thể được ngăn ngừa bằng cách tránh độ ẩm cao.

Có thể phun oxychloride đơng (0.75%) hoặc bằng cách sử lý củ trong nước ấm



-



43.50C trong 2 giờ.

Để ngăn chặn sự lây lan của bệnh do virus cần tiêu diệt cơn trùng bằng cách

phun thuốc phòng trừ định kỳ và làm sạch cỏ dại xung quanh có thể chứa

virus(Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014).

2.2.4. Ưu, nhược điểm của cây trồng nhân giống bằng phương pháp nhân

giống vơ tính.

 Ưu điểm:



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mục đích và yêu cầu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×