Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

kết tại mỗi vách ngăn nhưng có thể vẫn biểu hiện sự phân nhánh tại mỗi mấu lồi.

Sự phân nhánh thường cho sợi nấm mảnh (đường kính sợi nấm chỉ khoảng 1,5 2,5 µ) và có xu hướng phát triển khơng bình thường, thiếu mấu liên kết nối.

Dạng sợi mảnh thường được thấy thâm nhập vào giá thể.

Triệu chứng gây hại : Giai đoạn cây con nấm thường xâm nhập vào bộ

phận cổ rễ, gốc thân sát mặt đất tạo thành vết bệnh màu nâu đen, trên vết bệnh

mọc lên lớp nấm trắng xốp như bông bao quanh gốc và nan ra mặt đất xung

quanh làm mô cây thối mục, cây khô chết (Gulsan L & CTV 1992)

Cây cà chua bị bệnh do nấm Sclerotium rolfsii phần gốc thân sát mặt đất

bị teo thắt, vết bệnh màu nâm hoặc nâu đen, vết bệnh xuất hiện lớp nấm trắng

xốp như bông bao quanh gốc và lan ra xung quanh mặt đất (Gulshan L. & CS,

1992). Cây bị héo nhanh từ lớp nấm ở gốc và mặt đất hình thành nên nhiều hạch

nấm (Purseglove J.W., 1968). Bệnh cũng xuất hiện trên quả cà chua với tỷ lệ

bệnh là 1,6 (Dod J., 1979). Trên cây lạc, triệu chứng của sự lây nhiễm bệnh thể

hiện rõ bởi sự biến vàng và héo rũ của nhánh bên, thân chính, hoặc tồn cây.

Cây lạc cũng duy trì màu nâu thương tổn ở thân và quá trình sinh trưởng ở thân bị

kìm hãm.Quả lạc nhiễm bệnh bị thối rữa, trở nên ẩm ướt, có màu nâu vàng, thấm

nước. Vết bệnh trên quả bí tiếp xúc với đất thường kéo dài theo mặt đất, mô bệnh

thối mềm, ẩm ướt. Trên vườn khoai lang, tản nấm được hình thành rất nhiều trên

bề mặt đất, trên thân cây, chỉ trừ phần chồi ngọn (Stephen el al., 1992).

Chuẩn đoán triệu chứng của nấm bao gồm sợi nấm có màu trắng đặc

trưng tỏa ra hình quạt và hạch nấm có màu nấm kéo dài từ mô bị nhiễm bệnh

( Elizabeth J.Fichtner, 2008). Cây con rất dễ bị nhiễm bệnh và chết nhanh chóng

ngay sau khi nấm xâm nhập. Với những cây lớn hơn, các mô bệnh tạo thành

vành đai bao quanh gốc thân sát mặt đất, cây dần héo chết. Nhiều nghiên cứu về

nấm Sclerotium rolfsii cho thấy nấm này có khả năng sản sinh ra một số lượng lớn

acid oxalic. Độc tố này xâm nhập làm biến đổi màu trên hạt và gây nên những vết

đốm chết hoại trên lá ở giai đoạn đầu phát triển bệnh (N. Kokalis et al., 1984).



Theo Stephen và CTV thuộc trường đại học Hawaii (2000), đã nghiên cứu

và xác định được phạm vi ký chủ của nấm Sclerotium rolfsii với ít nhất khoảng

500 lồi cây trồng thuộc 100 họ thực vật. Những cây ký chủ mẫn cảm nhất với

bệnh bao gồm: họ cà (cà chua, khoai tây, cà pháo v.v), họ hoa thập tự (cải bắp,

súp lơ trắng, súp lơ xanh, cải dầu), họ đậu đỗ (đậu tương, lạc, đậu xanh), họ bầu

bí (dưa chuột, dưa hấu, bí đao, bí ngơ). Trên phạm vi tồn cầu nói chung cũng

như ở Bắc Carolina nói riêng, thiệt hại do nấm Sclerotium rolfsii gây ra trên cây

lạc là lớn nhất. Ngồi ra nấm Sclerotium rolfsii còn ký chủ trên những cây trồng

khác như: hoa cẩm chướng ( Danthus caryophyllus L.), hoa cúc

(Chrysanthemum morifolium Ram.).

Nấm Sclerotium rolfsii sinh trưởng thuận lợi nhất ở nhiệt độ từ 25 0C 350C, ít hoặc ngừng phát triển ở nhiệt độ dưới 10 0C hoặc trên 400C. Sợi nấm bị

tiêu diệt ở 00C, nhưng hạch có thể sống sót ở -100C. Sợi nấm phát triển thuận lợi

nhất cần có độ ẩm cao. Khi độ ẩm dưới bão hòa thì hạch nấm khơng thể nảy

mầm (Stephen Ferreia và Coworker, 2000). Tuy nhiên, có một số nghiên cứu đã

khẳng định hạch nấm nảy mầm tốt nhất ở ẩm độ 25 - 35. Sợi nấm phát triển nhanh

chóng và hạch nảy mầm tốt nhất trong điều kiện có ánh sáng liên tục, nếu khơng có

ánh sáng mà các điều kiện khác thích hợp thì chúng vẫn có thể xuất hiện.

Nấm Sclerotium rolfsii có khả năng sinh trưởng và hình thành hạch ở hầu

hết các loại đất khác nhau và pH khác nhau trên các nguồn dinh dưỡng. Đối với

đất nhiều mùn có độ pH = 7.96 nấm sinh trưởng và phát triển kém. Theo tác giả

Kabana thì pH mơi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành hạch nấm hơn so

với thành phần và nguồn dinh dưỡng trong đất.

Theo Jennifer Love, chuyên gia bệnh cây thuộc Trường Đại học

Minnesote cho rằng hạch nấm có thể qua đơng và sống sót trong điều kiện tút

bao phủ. Trên phạm vi tồn cầu nói chung cũng như ở Bắc Carolina nói riêng,

thiệt hại do nấm Sclerotium rolfsii gây ra trên cây lạc là lớn nhất. Trong những

năm gần đây bệnh do nấm Sclerotium rolfsii Sacc. gây ra là một loại bệnh



nghiêm trọng, mức tổn thất gây ra từ 10 – 50 % (Jenkins, S.F., 1986). Mức giảm

năng suất trung bình do bệnh gây ra là 49 kg/ha, tuy nhiên mức giảm năng suất

lạc biến động từ 12 - 91 kg/ha (Beute, M.K và CTV, 1979).

Theo tính tốn thống kê của Bộ Nơng Nghiệp Liên Bang Hoa Kì, riêng

năm 1959, thiệt hại do nấm này gây ra trên lạc ở đồng bằng duyên hải miền

Trung khoảng 10 -20 triệu đô la Mỹ, thiệt hại trên các cánh đồng dao động 1% 6% (Agrios, G.N.,2001).

Nấm Rhizoctonia solani (Kiihn) là một trong những lồi nấm có nguồn

gốc trong đất điển hình. Nấm này được mô tả đầu tiên bởi Kiihn vào năm 1858.

Tuy còn nhiều quan niệm chưa được trình bày rõ về các loài đã nghiên cứu của

Duggar (1945) và Parameter (1967)

Nấm Rhizoctonia solani thuộc: Bộ nấm trơ Mycelia sterilia. Nhóm nấm

bất tồn : Fungi imperfecti

Về đặc điểm hình thái của nấm này theo Roger, L. (1953), Barrentt, H.L

& CTV (1998) sợi nấm có màu nâu sẫm, tế bào sợi nấm dài có vách ngăn gần

chỗ phân nhánh, sợi phân nhánh gần vng góc. Nấm này ký sinh ở phần gốc

của rễ cây, hạch nấm có màu nâu đen, dẹt. Nấm thường tồn tại ở dạng sợi và

dạng hạch nấm trên nhiều loại đất khác nhau.

Nấm Rhizoctonia solani thuộc lớp nấm đảm nhưng rất ít khi tạo ra bào tử

ở giai đoạn hữu tính. Chúng thường gây ra triệu chứng bệnh hại cây trồng như:

lở cổ rễ, chết rạp cây con, gây thối rễ, thối gốc thân, hoặc thối lá. Sau khi cây

con mọc nấm bắt đầu xâm nhiễm và gây hại. Tại gốc cây sát mặt đất chỗ bị bệnh

có vết thâm đen hoặc màu nâu nhạt bao quanh, gốc cây bị teo thắt lại, làm cho

mô tế bào cây bị hủy hoại mềm nhũn. Giai đoạn cây con từ 2 lá mầm và 1-2 lá

thật cây thường bị gẫy gục và chết.

Theo E.B.Schipper, W.Gans (1979), sau khi hạt giống nảy mầm khỏi mặt

đất ở giai đoạn cây con mới hình thành nấm gây bệnh ở rễ và phần thân sát mặt



đất tạo vết bệnh màu nâu hoặc nâu xám, gốc thân bị teo thắt lại, trở nên mềm

yếu, cây đổ gục và chết. Bệnh hại chủ yếu ở giai đoạn vườn ươm.

Năm 1989, Vincelli, P. C và CTV đã đưa ra kết luận: “Bệnh do nấm

Rhizoctonia solani gây hại trên lạc xảy ra trên toàn thế giới. Nấm gây chết héo

cây con, thối rễ khi cây còn nhỏ, thối củ và cháy toàn bộ lá cây.

Theo Li S. D. và CTV (1989) nấm Rhizoctonia solani gây cháy lá đậu

tương được báo cáo đầu tiên vào năm 1918 ở Philippines và ở Trung Quốc vào

năm 1919.

Khi nghiên cứu trên bắp cải, Denis Persley (1994) cho biết hiện tượng

thối thân và thối bắp cải đều do nấm Rhizoctonia solani xâm nhiễm và gây hại.

Triệu chứng xuất hiện ở trên thân gần sát mặt đất, đầu tiên xuất hiện những vết

thối ướt màu tối trên thân khi chuyển ra trồng trên đồng ruộng cây mọc chậm,

còi cọc và có thể bị chết.

Theo Upmanyu S. và CTV (2003) nấm Rhizoctonia solani gây chết cây

con và thắt thân cây cải bắp, dưa chuột, đậu đỗ và các cây thuộc họ thập tự khác

ở giai đoạn vườn ươm và ngoài sản xuất. Triệu chứng điển hình của bệnh lở cổ

rễ trên dưa chuột và đậu đỗ là rễ cây con thối nhũn, thâm đen teo thắt lại.

Theo một số nghiên cứu của Khoa công nghệ sinh học và khoa học

Trường đại học Murdoch WA 6150 nấm Rhizoctonia solani là một lồi nấm

trong đất có ảnh hưởng tới bộ rễ của nhiều loại cây trồng khác nhau và làm cho

mô rễ bị chết. Ở Australia nấm Rhzoctonia solani thuộc nhóm AG8 gây ra triệu

chứng bệnh đốm lá và trụi lá cây ngũ cốc và quả đậu.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp

miền nam Australia cho biết nấm Rhizoctonia solani là lồi nấm có nguồn gốc

trong đất chúng có phổ kí chủ rất rộng, gây hại trên 500 lồi cây kí chủ khác

nhau như: các cây họ cà, họ đậu đỗ, họ bầu bí, họ hoa thập tự. Sự đa dạng của

nấm Rhizoctonia solani được chia thành 12 nhóm phân biêt được gọi là các

nhóm liên hợp (AG)



Theo Inagaki, K (1993) “ nấm Rhizoctonia solani gây hại trên nhiều loại cây

trồng khác nhau và phân bố khắp các quần đảo của Nhật bản.” Cũng trong một

nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Djébali và Belhassen (2010), ở Tunisia khoai

tây thường dễ bị nhiễm bệnh gây và hại nặng bởi nấm Rhizoctonia solani.

Có khơng ít những nghiên cứu về tính đa dang, phạm vi ký chủ, khả năng

gây bệnh cũng như các đặc tính sinh thái, sinh học của nấm. Trong những

nghiên cứu đó các tác giả đều chỉ ra rằng Rhizoctonia solani là một loài nấm

phức tạp ở chúng ln có sự biến động giữa các isolate về khả năng gây bệnh,

phổ ký chủ, các đặc tính hình thái, sinh lý. Các isolate của nấm Rhizoctonia

solani đã được Carling và Cs nhận biết và chia thành 14 nhóm tương hợp

(Anastomosis Group -AG) từ AG-1 đến AG-13 và AG-B1 (Carling, D. E

et.al.,2001; Carling, D. E et.al., 2002).

Theo một số nghiên cứu của Khoa công nghệ sinh học và khoa học

Trường đại học Murdoch WA 6150 nấm Rhizoctonia solani là một lồi nấm

trong đất có ảnh hưởng tới bộ rễ của nhiều loại cây trồng khác nhau và làm cho

mô rễ bị chết. Ở Australia nấm Rhizoctonia solani thuộc nhóm AG-8 gây ra triệu

chứng bệnh đốm lá và trụi lá cây ngũ cốc và quả đậu.

Theo kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Isfahan – Iran nấm

Rhizoctonia solani là lồi nấm tấn cơng rất nhiều loại cây trồng, là bệnh nấm

quan trọng nhất trên những cánh đồng trồng đậu ở Isfahan – Iran. Một số nghiên

cứu cho thấy rằng sự tích lũy men (enzyme Pectic) trong nấm cũng có thể liên

quan đến sự hình thành của bệnh. Nhóm AG4 của nấm Rhizoctonia solani là

nguyên nhân chính gây lên bệnh.

Nấm Rhizoctonia solani có thể sản sinh ra nhiều hạch trong mô cây ký

chủ cây, hạch nấm được đan kết từ những sợi nấm. Hạch nấm này tồn tại trong

đất, trên tàn dư cây chủ và sẽ nảy mầm khi được kích thích bởi những dịch gỉ ra

từ cây ký chủ bị nhiễm bệnh hoặc từ việc bổ sung chất hữu cơ vào đất.

(Khetmalas. M.B et al.,1984)



Takahashi, K. và CTV (1954) cho biết hạch nấm có thể tồn tại trong đất

vài tháng, sự tồn tại của hạch nấm dưới các điều kiện khác nhau: ở nhiệt độ

phòng trên đất khơ và ẩm chúng sống ít nhất 130 ngày và sau khi ngâm ở độ sâu

khoảng 8 cm trong nước nóng sống được 224 ngày.

Theo Masumoto và CTV (1933), nhiệt độ tối thích đối với sự phát triển

của nấm là 28 - 31 oC, ngưỡng pH tối thiểu là 2, tối thích là 5 - 7 và tối đa là 8.

Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh lý của nấm Rhizoctonia solani, Parmeter JR

(1970) cho rằng nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nấm. Nấm có thể

tồn tại trong khoảng nhiệt độ từ 5oC - 42 oC.

Theo Khetmalat M.B et al. (1984). Ngoài khả năng truyền bệnh qua đất,

qua tàn dư cây trồng nấm Rhizoctonia solani còn có khả năng truyền bệnh qua

hạt giống với tỷ lệ 10%, còn ở Mỹ có năm lên tới 30%. Đặc biệt sợi nấm

Rhizoctonia solani có thể mọc như một lồi nấm hoại sinh nếu đất chưa đầy đủ

chất hữu cơ

Theo Mathew KA. và CTV (1996); Muyolo NG. và CTV (1993) nấm

Rhizoctonia solani gây hại ở hầu hết các vùng đậu tương trên thế giới. Bệnh làm

giảm tỷ lệ cây con thời kỳ trước và sau nảy mầm lên tới 50% đồng thời làm

giảm năng suất tới 40%.

Khi nghiên cứu về nấm Rhizoctonia solani Van Bruggen A. H. C và CTV

(1986) nhận thấy bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra là tương đối nghiêm

trọng đối với các vùng trồng lạc trên thế giới. Ở miền nam nước Mỹ bệnh lở cổ

rễ lạc trở thành một vấn đề cấp bách, hàng năm ở bang Geogia (Mỹ) thiệt hại do

bệnh gây ra ước tính lên tới hơn một tỷ đơ la.

Để phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng và bệnh lở cổ rễ các nhà khoa

học trên thế giới đã đề xuất nhiều biện pháp phòng trừ bệnh như biện pháp hóa

học, biện pháp canh tác, biện pháp sinh học... Ngày nay với xu thế phát triển

mới con người đang rất quan tâm đến việc sử dụng các biện pháp sinh học sinh

học để phòng trừ dịch hại cây trồng. Biện pháp sinh học: Một số loài vi sinh vật



đối kháng đã được chứng minh có thể kiểm sốt đối với Sclerotium rolfsii và

Rhizoctonia solani là: Trichoderma harzianum, Trichoderma viride, Bacillus

subtilis, Penicillium sp. và Gliocladium virens. Việc sử dụng các loài vi sinh vật

đối kháng trong việc phòng trừ bệnh có nhiều đặc tính ưu việt hơn như an tồn

với mơi trường, con người và vật ni, khơng tạo ra các chủng lồi mới kháng

thuốc, đảm bảo sự cân bằng sinh thái.

2.1.2. Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật đối kháng trong phòng trừ một số bệnh

hại vùng rễ cây trồng

* Nghiên cứu sử dụng nấm Trichoderma trong phòng trừ bệnh héo rũ gốc

mốc trắng Sclerotium rolfsii và lở cổ rễ Rhizoctonia solani

Người đầu tiên đề xuất sử dụng loài nấm đối kháng Trichoderma sp. để

phòng trừ nguồn bệnh hại cây trồng là Willing (Seiketov, 1982) năm 1932 đã đề

nghị dùng nấm Trichoderma sp. để phòng trừ nấm Rhizoctonia solani gây bệnh

thối cây con mới mọc từ hạt. Sau đó các nghiên cứu về nấm Trichoderma sp. tiếp

tục được mở rộng tại nhiều nước trên thế giới để phòng trừ bệnh hại cây trồng.

Theo Martin và cộng sự (1985) khi nghiên cứu về sinh vật đất cho thấy loài

nấm Trichoderma viride là một trong những lồi nấm đứng đầu của hệ sinh vật

đất, nó có tính đối kháng cao và đã được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới.

Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy rằng nấm Trichoderma

viride là loài nấm hoại sinh tồn tại trong đất vùng gốc rễ cây trồng , trong q

trình sinh sống nó sản sinh ra các chất kháng sinh có khả năng đối kháng cao đối

với rất nhiều loại nấm gây bệnh có nguồn gốc trong đất như: Rhizoctonia solani,

Sclerotium rolfsii.v.v..

Cho tới nay có khoảng 30 nước có những nghiên cứu sử dụng nấm

Trichoderma sp. để trừ bệnh hại cây trồng (Nga, Mỹ, Đức, Hunggari, Ấn Độ,

Thái Lan, Philippin) cho khoảng hơn 150 loài vi sinh vật gây bệnh trên gần 40

loại cây trồng. Ở Nam Mỹ, người ta dùng nấm T. hamatum trừ các nấm Pythium

sp.p và Rhizoctonia solani gây bệnh chết héo đậu đỗ và củ cải (Chet etal.,1981).



Ở Ấn Độ: hiệu quả ức chế bệnh do Rhizoctonia solani gây hại trên cây khoai tây

của nấm T.harzianum đạt tới 89,1%. Ở Philippin, nấm T. harzianum làm giảm

đáng kể tỷ lệ bị bệnh do nấm Rhizoctonia solani trên đậu xanh: tỷ lệ ở công thức

dùng Trichoderma là 14-19%; đối chứng là 79-86% (Davide,1991). Ở Thái Lan

người ta sử dụng nấm đối kháng Trichoderma viride và Macozeb (180mg/lit) để

phòng trừ nấm Sclerotium rolfsii trên cây cà chua và cây lạc cho hiệu quả đến

90% trong nhà kính và ngồi đồng ruộng đạt tới 88,9%.

Ngồi hiệu quả trừ nấm gây bệnh, làm giảm tỷ lệ cây bị bệnh, chế phẩm từ

nấm Trichoderma sp. còn có tác dụng tốt đối với cây trồng. Dùng chế phẩm nấm

Trichoderma sp làm cho cây khỏe hơn, tăng sức đề kháng với vi sinh vật gây

bệnh, tác dụng kích thích sinh trưởng với cây trồng (Buimistru, 1979; Chet,

1990; Elad et al., 1982). Hiệu quả cuối cùng là tăng năng suất cây trồng.

Theo Mukherjee & Raghu (1997) nấm Trichoderma spp., có hiệu quả cao

trong việc làm giảm sự gây bệnh của nấm Sclerotium rolfsii trên thân rễ gừng và

một số loại rau khác. Chakrabortys & Bhawmik , 1985 nấm Trichoderma viride

và T. harzianum hiệu quả cao trong các kiểm soát sự gây bệnh HRGMT do nấm

Sclerotium rolfsii và bệnh lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani trên cây hoa

hướng dương.

Theo Chet và CTV, 1982; Jones và Watson, 1969 nấm Trichoderma viride

có thể sinh ra các loại men làm biến đổi quá trình hình thành sợi nấm của nấm

gây bệnh như B-(1-3) glucoza và chitinaza.

Theo Wokocha, R.C., và CTV, 1986 ở bắc Nigeria đã khảo nghiệm trong

nhà kinh cho thấy nấm đối kháng Trichoderma viride làm giảm hoàn toàn tỉ lệ

bệnh HRGMT gốc cà chua khi lây nhiễm đồng thời họăc lây nhiễm nấm

Trichoderma viride trước nấm Sclerotium rolfsii 3 ngày. Quá trình tiến hành các

thí nghiệm ngồi đồng ruộng ở cả hai vụ mùa khô và mùa mưa khi đem lây

nhiễm đồng thời Trichoderma viride và nấm Sclerotium rolfssii đã làm giảm tỉ lệ

bệnh hại tới 88,7%.



Có nhiều thí nghiệm trong phòng đã được tiến hành nhằm đánh giá hiệu

quả của nấm Trichoderma viride đối với bệnh hại cây trồng.Kết quả cho thấy

trong phòng thí nghiệm nấm Trichoderma viride có khả năng ức chế sự phát

triển của nấm gây bệnh cao. Nấm Trichoderma viride biểu hiện tính kháng cao

đối với nấm Rhizoctonia solani dung dịch chứa 50% dịch nuôi cấy nấm

Trichoderma viride có hiệu quả ức chế được 61,1% sự phát triển của tản nấm

Rhizoctonia solani trên môi trường nhân tạo Wu ( 1983), Derrcole và CTV

(1983); ( Denis Và CTV (1991); Dubey (1995).

Theo Sing & cs (1995) thì nấm Trichoderma viride có thể ức chế sự phát

triển của bệnh hại khoai tây do loài Rhizoctonia solani gây nên, hiệu quả ức chế

tối đa là 83,4%.

Ở Nhật Bản đã nghiên cứu nấm T. lignorum để trừ bệnh thối thân thuốc lá

do nấm Corticicum rolfsii. Yang & cs. (1996) và Wang & cs. (1996) đã chỉ ra

rằng nấm Trichoderma sp có hiệu lực đối kháng mạnh với các loài nấm gây bệnh

lở cổ rễ, héo vàng, héo rũ gốc mốc trắng, thối xám trên cây cà chua và dưa chuột

trong nhà kính.

Nấm Trichoderma spp. được biết đến là một loại nấm ký sinh nhiều loại

nấm hại cây trồng. Nấm T. harzianum xâm chiếm sợi nấm Sclerotium rolfsii và

nấm Rhizoctonia solani, làm ngắt quãng sự sinh trưởng của sợi nấm, rồi giết

chết sợi nấm. Cơ chế đối kháng, đối với nấm hại cây trồng (R.solani & S.rolfsii)

là thông qua cơ chế kháng sinh và ký sinh. Tại những điểm nấm Trichoderma

viride tiếp xúc trực tiếp với nấm gây bệnh, nấm gây bệnh đã teo lại và chết, đó là

hiện tượng ký sinh của nấm Trichoderma viride (Dubey, 1995; Rousseau et al.,

1996)

Một số chất kháng sinh do nấm Trichoderma viride tiết ra như Gliotoxin,

Viridin, U-21693, Trichoderlin và Dermalin. Các chất kháng sinh này ở dạng

bay hơi và không bay hơi khi tiết ra đều ức chế sự phát triển của sợi nấm gây

bệnh ở những mức độ khác nhau. Dung dịch chứa 50% dịch ni cấy nấm



Trichoderma viride (có kháng sinh khơng bay hơi) có hiệu quả ức chế 61,1% sự

phát triển của nấm Rhizoctonia solani trên môi trường nhân tạo (Dubey, 1995),

(D’Ercole và cs, 1998).

Hiệu quả của nấm đối kháng Trichoderma viride đối với việc phòng trừ

nấm có nguồn gốc từ đất rất cao đặc biệt là đối với nấm Rhizoctonia solani.

Chính vì vậy trên thế giới đã có rất nhiều những cơng trình nghiên cứu để tìm ra

các phương pháp nhân ni lồi nấm này. Tại Israel để nhân ni nấm

Trichoderma viride người ta đã dùng cám lúa mì hoặc là than bùn để làm môi

trường nuôi cấy. Ở Pháp người ta dùng hạt yến mạch hoặc là than bùn để làm

môi trường ni cấy, còn ở Ấn Độ dùng các phế liệu chế biến nông sản như vỏ

quả cà phê, Đài Loan dùng vỏ trấu để làm môi trường nuôi cấy. Còn ở Mỹ dùng

cám than bùn hoặc cám và mạt cưa cho kết quả rất tốt.

Theo Trần Nguyễn Hà, trong một khảo sát tiến hành trên cây lương thực,

cây công nghiệp, cây rau và cây ăn quả ở phía bắc và phía nam của Việt Nam

chỉ ra rằng Trichoderma là phổ biến và có thể được phân lập dễ dàng từ các chất

hữu cơ trong đất, rễ và cây trồng. Trichoderma viride, T. harzianum,

T. hamatum là loài chiếm ưu thế ở Việt Nam. Cũng trong nghiên cứu này tác giả

cũng xác định được rằng Trichoderma viride là lồi có khả năng ức chế, phòng

trừ tốt đối với bệnh lở cổ rễ và bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên một số cây trồng

cạn (Tran N. Ha, 2010).

* Nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn Bacillus subtilis trong phòng trừ bệnh héo

rũ gốc mốc trắng Sclerotium rolfsii và bệnh lở cổ rễ Rhizoctonia solani

Loài vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis là loài hoại sinh có nhiều trong tự

nhiên như trong nước, có nhiều trong đất, phân hủy tàn dư thực vật. Vi khuẩn

Bacillus subtilis ức chế sự phát triển của bào tử gây bệnh cây, phá vỡ sự phát

triển mạch dẫn của vi sinh vật và cản trở tác nhân gây bệnh hại cây trồng (Ny

Dec 2001).



Có một vài nghiên cứu về tiểm năng của Bacillus subitilis trong phòng trừ

nấm và vi khuẩn gây bệnh cây bằng các biện pháp sinh học. Bacillus subtiilis có

thể làm giảm bệnh gỉ sắt trên cây đậu tương trên đồng ruộng đạt đến 74% (Baker

and cook,1982, Nalisha, I, 2006). Báo cáo này cũng nghiên cứu về khả năng ức

chế nấm Sclerotium rolfsii bởi vi khuẩn Bacillus subtilis, vi khuẩn đối kháng này

có khả năng sinh ra chất ức chế nhiều tác nhân gây bệnh cây.

Chủng Bacillus được biết đến với khả năng trong việc sản xuất các peptide

tự nhiên có hoạt tính sinh học, chống lại một số tác nhân gây bệnh như nấm, vi

khuẩn và virus có vỏ bao bọc (Bizani và Brandelli, 2002; Li và Yang, 2005; Jing

et al., 2009; Ongena et al., 2009). Ngồi ra, vi khuẩn thuộc chi Bacillus có thể

kích thích cây sản sinh và chuyển hóa các chất endophytic có ảnh hưởng đến sự

phát triển của nấm và vi khuẩn gây bệnh (Mahaffee và Kloepper, 1997)

Trong một số nghiên cứu về sự kiểm soát sinh học của vi khuẩn Bacillus

subtilis với nấm Rhizoctonia solani gây hại trên đậu tương (Liu và Sinclair

1987), khoai tây, đậu xanh và lúa



(Tschen 1987), đậu phộng(Turner và



Backman 1991), lúa mì (Kim et al. 1997), và củ cải đường (Moussa 2002) dẫ chỉ

ra rằng Bacillus subtilis có tiềm năng tốt để kiểm sốt nấm Rhizoctonia solani

gây hại.

Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy hiệu lực phòng trừ bệnh hại cây

trồng có hiệu quả hơn khi kết hợp nấm Trichoderma viride với vi khuẩn Bacillus

subtilis với nhau để phòng chống bệnh lở cổ rễ Rhizoctonia solani.

Cơ chế tác động của Trichoderma viride và Bacillus subtilis là tấn công và

bao phủ vi sinh vật gây bệnh bằng liên kết các phân tử đường sau đó tiết ra bên

ngoài các enzyme protein, lipase để tiêu diệt các nấm và vi khuẩn gây bệnh cây

(Calet al,2004).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×