Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

CT 2



3.43a



4.47b 10.35a



14.4b 19.11b 20.57b 22.44b 24.33b



LSD5

%



3.15



2.46



2.32



6.24



2.33



1.67



4.44



3.76



CV%



21.1



10.1



6.2



9.9



2.8



1.9



4.7



3.6



20.9



Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có ký tự khác nhau cho thấy sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.

Chú thích: CT1: củ con đã có rễ;



CT2: củ con chưa có rễ



Hình 4.1: Động thái tăng chiều dài lá của giống Green dragon khi nhân

giống bằng phương pháp tách củ con



30



Hình 4.2: Sự tăng trưởng chiều dài lá ở 2 cơng thức



Qua bảng 4.1, hình 4.1 và hình 4.2, chúng tôi đưa ra nhận xét như sau:

- Trong khoảng thời gian từ tuần đầu đến tuần 5 cây ở cả 2 công thức đều tăng

trưởng nhanh, đến 3 tuần cuối cây tăng trưởng chậm hơn.

- Ở công thức 1 cây Lan huệ khi tách cây con đã có rễ nên cây có tốc độ tăng

trưởng chiều dài lá mạnh là 30.13 cm, còn ở cơng thứ 2 do cây Lan huệ khi tách

chưa có rễ nên cây cần có một thời gian phục hồi khá lâu so với công thức 1 nên

tốc độ tăng trưởng chiều dài lá chậm hơn là 20.9 cm.

- Sau 8 tuần theo dõi tốc độ tăng trưởng chiều dài lá khá nhanh cụ thể: cây Lan

Huệ ở công thức 1 tuần 1 là 5.19 cm nhưng sau 8 tuần chiều dài lá đã tăng lên

35.32 cm. Cũng vậy, cây Lan Huệ ở công thức 2 cây sinh trưởng chậm hơn ở

tuần 1 chiều dài lá 3.43 cm đến tuần 8 là 24.33 cm.

- Như vậy, sau 8 tuần ta thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài lá của cây Lan huệ ở

công thức 1 là lớn hơn hẳn ở công thức 2, là cơ sở cho chất lượng cây giống tốt

hơn. Sự sai khác về động thái tăng trưởng chiều dài lá giữa các cơng thức có ý

nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%.



31



Hình 4.3: Chiều dài lá của cây Lan huệ ở thí nghiệm tách củ con

(từ trái qua phải CT1, CT2)

 Sự tăng trưởng chiều rộng lá

Bảng 4.2: Sự phát triển chiều rộng lá của củ con giống LH Green dragon

(Đơn vị: cm)



Tuần



Tuần



Tuần



Tuần



Tuần



Tuần



Tuần



Tuần



Tăng



1



2



3



4



5



6



7



8



trưởng



CT1



1.11a



1.28a



1.43a



1.62a



1.81a



1.91a



2.01a



2.14a



1.03



CT2



0.63b



0.87b



1.01b



1.11b



1.26b



1.39b



1.49a



1.49b



0.86



LSD5%



0.15



0.52



0.31



0.2



0.1



0.33



0.98



0.57



CT



32



CV%



4.9



14.1



7.5



4.3



1.9



0



1.6



0.9



Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có ký tự khác nhau cho thấy sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.



Hình 4.4: Động thái tăng chiều rộng lá của giống Green dragon

ở thí nghiệm 1



Hình 4.5: Sự tăng trưởng chiều rộng lá của giống Green dragon

ở thí nghiệm 1

Qua bảng 4.2, hình 4.4 và hình 4.5, chúng tơi đưa ra nhận xét như sau:

- Qua 8 tuần theo dõi ta thấy tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá khá chậm qua các

tuần, tăng trưởng nhanh nhất ở 5 tuần đầu, tăng 0.1- 0.19 cm , ở 4 tuần cuối tốc

độ tăng trưởng chậm dần.

- Cây Lan huệ ở công thức 1 tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá cao hơn so với công

thức 2 là 1.03 cm, còn ở cơng thứ 2 là 0.86 cm. Nhìn chung, cây Lan huệ ở cả 2

cơng thức tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá là không đáng kể.

- Như vậy, sau 8 tuần ta thấy tốc độ tăng trưởng chiều rộng lá của cây Lan huệ ở

công thức 1 là lớn hơn hẳn ở công thức 2. Sự sai khác về động thái tăng trưởng

chiều rộng lá giữa các cơng thức có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%.



33



Hình 4.6: Chiều rộng lá của cây Lan huệ ở thí nghiệm tách củ con

(từ trái qua phải CT1, CT2)

4.1.2. Động thái ra lá mới của giống Green dragon khi nhân giống bằng phương

pháp tách củ con

Bảng 4.3: Động thái hình thành lá mới của giống Green dragon

( Số lá/ cây )



CT



Tuần

1



Tuần

2



Tuần

3



Tuần

4



Tuần

5



Tuần

6



Tuần

7



Tuần

8



Tăng

trưởng



CT1



2.13a



3.8a



3.8a



4.67a



4.6a



4.73a



4.47a



5.2a



3.07



CT 2



1.8a



2.67b



2.93b



3.6b



3.8b



3.87a



3.87a



4.27a



2.47



LSD5%



0.57



1.02



0.75



0.28



1.77



2.21



1.47



2.42



34



CV%



8.3



9.1



6.4



2



12.1



14.8



10.2



14.7



Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có ký tự khác nhau cho thấy sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.

Hình 4.7: Động thái hình thành lá mới của giống Green dragon khi nhân

giống bằng phương pháp tách củ con.



Hình 4.8: Sự tăng trưởng số lá mới của giống Green dragon ở 2 cơng thức

Qua bảng 4.3, hình 4.7 và hình 4.8, chúng tơi đưa ra nhận xét như sau:

- Cây Lan huệ ở cơng thức 1 có sự ra lá mới nhiều nhất, sau 8 tuần theo dõi thì số

lá mới đạt cao nhất ở tuần 8 là 5.2 lá/ cây cao hơn cây ở công thức 2 là 4.24 lá/

cây. Ở tuần 4 tuần đầu số lá mới TB do cây mới được tách ra từ củ mẹ nên số lá

mới TB/ cây thấp. Từ tuần 3 đến tuần 5 do cây được chuyển từ trong bầu ra

trồng đất nên số lá mới TB/ cây cũng tăng khá nhanh.

- Tốc độ ra lá mới của cây Lan huệ ở công thức 1 cũng cao hơn là 3.07 lá/ cây,

còn của cây Lan huệ ở cơng thức 2 là 2.47 lá/ cây.

- Như vậy, sau 8 tuần ta thấy động thái hình thành lá mới của cây Lan huệ ở công

thức 1 là lớn hơn hẳn ở công thức 2, là cơ sở cho chất lượng cây giống tốt hơn.

Tuy nhiên, sự sai khác về động thái hình thành lá mới giữa các cơng thức khơng

có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%.

4.1.3. Động thái tăng trưởng đường kính củ của giống Green dragon khi nhân

giống bằng phương pháp tách củ con

Bảng 4.4: Sự phát triển đường kính củ của Lan huệ



35



( Đơn vị: cm )



Tuần

1



Tuần

2



Tuần

3



Tuần

4



Tuần

5



Tuần

6



Tuần

7



Tuần Tăng

8

trưởng



CT1



1.54a



1.64a



1.73a



1.82a



1.95a



2.03a



2.15a



2.23a



0.69



CT2



0.89b



1a



1.12a



1.27b



1.33b



1.49b



1.57b



1.67b



0.78



LSD5%



0.1



0.98



0.75



0.15



0.51



0.12



0.13



0.13



CV%



2.4



2.1



1.5



2.8



9



2



2



1.9



CT



Hình 4.9: Động thái tăng trưởng đường kính củ của giống Green dragon

khi nhân giống bằng phương pháp tách củ con



Hình 4.10: Sự tăng trưởng đường kính củ của giống Green dragon

ở 2 cơng thức



-



Qua bảng 4.4 , hình 4.9 và hình 4.10, chúng tơi có thể đưa ra nhận xét như sau:

Đường kính thân hành đo lần cuối cùng (lần 8) so với đường kính thân hành đo

lần đầu tiên tăng khá đáng kể. Trong đó, đường kính của cây Lan huệ cơng thức

1 có đường kính thân hành lớn nhất là 2.33 cm, tốc độ tăng trưởng TB đạt 0.69

cm. Đường kính của cây Lan huệ ở cơng thức 2 có đường kính thân hành là 1.67



36



cm. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của công thứ 2 ( đạt 0.69 cm) lại lớn hơn tốc

độ tăng trưởng của công thức 1 ( đạt 0.78 cm ).

- Sau 8 tuần theo dõi, đường kính thân hành của cây Lan Huệ ở 2 cơng thức thí

nghiệm có sự tăng trưởng tương đối khá. Tuy nhiên sự tăng trưởng đường kính

thân hành của 2 cơng thức trong thí nghiệm có sự khơng đồng đều. Sự tăng

trưởng đường kính củ của cây Lan huệ ở công thức 1 là lớn hơn hẳn ở công thức 2,

là cơ sở cho chất lượng cây giống tốt hơn. Sự sai khác về động thái tăng trưởng

đường kính củ giữa các cơng thức có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%.



4.1.4. Ảnh hưởng của phương pháp tách củ đến tỉ lệ sống, thời gian từ khi trồng

đến khi ra lá mới và chất lượng cây giống Lan Huệ

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của phương pháp tách củ đến tỉ lệ sống và chất lượng

cây giống Lan Huệ



Tỉ lệ

CT



cây sống

(%)



Kích thước lá (cm )



Thời gian từ

trồng đến khi

ra lá mới



Chiều dài lá



Đường

kính

củ

Chiều rộng



( cm)



CT

1



100



15 ngày



35.77



2.18



2.23



CT

2



98



21 ngày



24.77



2.06



1.67



Chú thích: Số liệu thu được sau trồng 4 tháng ( số liệu đo ngày 7/11/2016 )

CT1: củ con đã có rễ, CT2: củ con chưa có rễ



37



Qua bảng 4.5, chúng tơi có thể đưa ra nhận xét như sau:

- Thời gian xuất hiện lá mới dao động từ 15 ngày đến 21 ngày, trong đó, cây Lan

Huệ ở cơng thức 1: tách củ con đã có rễ thời gian xuất hiện lá mới sớm hơn

CT2 ( là 15 ngày ) cây lớn nhanh phát triển tốt hơn, cây Lan huệ ở công thứ 2

thời gian xuất hiện lá mới 21 ngày do cây con chưa có rễ nên cây cần có một

thời gian phục hồi khá lâu và khi cây có rễ thì mới bắt đầu xuất hiện lá mới.

- Ở công thứ 1 ta cũng thấy tỷ lệ sống của cây là 100% , cây sinh trưởng nhanh,

chất lượng cây giống tốt với các chỉ tiêu dài lá, chiều rộng lá và đường kính củ

lần lượt là 35.77 cm, 2.18 cm, 2.23cm.



Hình 4.11: Cây Lan huệ sau khi tách khỏi cây mẹ trồng ra giá thể sau 5

tháng ( từ trái qua phải CT1, CT2 )



38



4.2.



Ảnh hưởng của phương pháp cắt lát ( bổ củ ) đến khả năng nhân giống và

chất lượng cây Lan huệ

Cây Lan huệ ( tên khoa học là Hippestrum sp. ) ở Việt Nam còn gọi là loa

kèn đỏ, lan huệ, mạc chu lan hay tứ diện thuộc chi hippeastrum,họ

Amryllidaceae. Đây là loại cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ

biến tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Hoa Lan huệ to, nhiều màu sắc, hình

dạng và có thời gian nở hoa dài. Hiện nay ở Việt Nam trồng khá phổ biến và

phân biệt chủ yếu dựa vào màu sắc hoa như đỏ dại, đỏ sọc trắng, hồng đào, đỏ

nhung, trắng… Nhu cầu chơi Lan huệ ngày càng cao, nhiều hoa Lan huệ mới

được nhập nội và được thị trường chấp nhận, tuy nhiên giá thành củ cao và số

lượng chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Bên cạnh giá thành củ

cao, do củ được nhập nội nên nguồn cung cấp hoa không ổn định và số lượng củ

hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của người chơi hoa. Trong thực tế sản xuất

củ giống hiện nay ở Việt Nam, Lan huệ được nhân giống chủ yếu từ củ con sinh

ra từ củ mẹ. Tùy từng giống/ loài mà một củ trưởng thành trong một năm có thể

sinh ra 10-15 củ con (Trịnh Thị Hằng, 2012), tuy nhiên các giống nhập nội cho

hoa đẹp nhưng số củ con ít (trung bình đạt 0.9 – 5 củ con/ củ mẹ/ năm, thậm chí

có giống khơng tạo củ mới ( Read ,2004 ). Nhưng hiện nay việc nghiên cứu

nhân giống vơ tính Lan huệ ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào phương pháp nuôi

cấy tế bào invitro (Ninh Thị Thảo et al., 2009, 2010), phương pháp này có thể

tạo hệ số nhân giống cao nhưng để thực hiện được đòi hỏi cơ sở nhân giống có

sự đầu tư về tài chính, thời gian, kinh nghiệm và tay nghề của người thực hiện

do vậy khả năng áp dụng cho các trang trại quy mơ nhỏ còn hạn chế. Chính vì

vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu để lựa chọn phương pháp nhân giống vơ tính đơn

giản, dễ thực hiện và có hệ số nhân giống cao là rất cần thiết. Chúng tôi đã thực

hiện phương pháp cắt lát ( bổ củ ) với các công thức như sau: Bổ củ thành 4

phần ( CT1 );bổ củ thành 4 phần, tách thành các mảnh có phần đế củ với 2 vảy



39



củ ( CT2 ); bổ củ thành 6 phần ( CT 3 ); bổ củ thành 6 phần, tách thành các

mảnh có phần đế củ với 2 vảy củ ( CT4 ); kết quả thu được như sau:



Hình 4.12: Mảnh cắt bổ 4 ( CT1 ); Mảnh cắt bổ 4, tách vảy củ đôi ( CT2 );

Mảnh cắt bổ 6 ( CT 3 ); Mảnh cắt bổ 6, tách vảy củ đôi

Bảng 4.6: Ảnh hưởng của phương pháp bổ củ đến hệ số nhân giống và chất

lượng củ giống Lan Huệ



CT



Đường

kính củ

( cm )



Kích thước lá ( cm )

Chiều dài





Chiều rộng





Hệ số nhân

giống

(chồi/ củ)



Thời gian từ

trồng đến xuất

hiện lá mới



CT1



1.35



26.02



1.55



5.33



10



CT2



1.11



20.25



1.1



10



15



CT3



1.33



24.05



1.45



6



10



CT4



0.81



16.41



0.8



17



20



Chú thích: Số liệu thu được sau khi trồng ra bầu 2 tháng



40



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×