Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần II: Tổng quan tài liệu

Phần II: Tổng quan tài liệu

Tải bản đầy đủ - 0trang

0983772100

Báo cáo về tình trạng nhiễm Mycoplasma ở Ai cập và giá

trị chẩn đoán khác nhau, Saif – Edin (1997) đã cho thấy:

Tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma

synoviae ở các trại gà Ai Cập là 100% trên gà thịt, 66% trên gà

đẻ và các đàn giống cha mẹ là 40%.

Esendal (1997) đã xác định kháng thể gà chống lại

Mycoplasma gallisepticum bằng các phản ứng huyết thanh

học như: ngưng kết nhanh trên phiến kính, HI, kết tủa khuếch

tán trên thạch và Elisa cho thấy trong 900 mẫu huyết thanh

gà gồm gà thịt, gà giống và gà đẻ thì có tỷ lệ dương tính

20,2% trên phản ứng ngưng kết nhanh, 14,2% trên phản ứng

HI, 5,7% ở phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch và 60,3%

ở phản ứng Elisa.

Để kiểm soát Mycoplasma gallisepticum trên gà thịt của

Ai Cập, Mousa và cs (1997) đã dùng hai loại vaccin sống

chủng F được dùng lúc 1 ngày tuổi bằng cách nhỏ mắt, phun

sương, nhúng mỏ hay uống vaccin chết nhũ dầu, làm từ

chủng có độc lực S6, tiêm dưới da cho gà 14 ngày tuổi, kết

quả cho thấy gà đã được chủng ngừa được bảo vệ khơng bị

viêm túi khí, sụt ký, tỷ lệ sống sót cao và sự phối hợp hai loại

vaccin này cho kết quả tốt nhất.

Điều tra dịch tễ học bệnh gia cầm trên các trại giống

thương phẩm ở Zambia. Hasegawa – M và cs đã báo cáo xét

nghiệp 228 mẫu huyết thanh thu thập từ 7 trại thương phẩm

ở Zambia để tìm kháng thể chống lại virus và vi khuẩn từ

9/1994 đến tháng 8/1995, kết quả như sau:

Kháng thể chống lại M.gallisepticum đã thấy ở tất cả các

mẫu của 4 trại, tỷ lệ nhiễm M.synoviae thay đổi từ 8,3 - 100%.

2.2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước



4



0983772100

Đào Trọng Đạt và cs (1975) đã điều tra tình trạng mang

kháng thể chống Mycoplasma trên 5 cơ sở chăn nuôi gà tập

trung và gà ni trong dân ở một số tỉnh phía Bắc cho thấy tỷ

lệ nhiễm Mycoplasma là 26,4% mà trong đó gà dưới 2 tháng

tuổi không bị nhiễm, 3 – 5 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 55%, 5 – 6

tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 66,6% và gà trên 8 tháng tuổi có tỷ

lệ nhiễm là 50%. Đồng thời tác giả cũng phát hiện được kháng

thể Mycoplasma trong lòng đỏ trứng gà ở các trại xác định có

bệnh với tỷ lệ mẫu dương tính 12,5% và phân lập được

Mycoplasma từ các bệnh phẩm như khí quản, phổi, não, mắt

và xoang của gà bị bệnh với tỷ lệ 44%.

Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1985) đã báo cáo về điều tra cơ

bản bệnh hơ hấp mạn tính của gà cơng nghiệp ở một số tỉnh

phía Nam như sau:

Tỷ lệ nhiễm tại 8 cơ sở điều tra là 70,2%, Mycoplasma

nhiễm cao ở trên gà Plymouth và các giống con lai.

Bệnh thường xuất hiện vào thời gian chuyển tiếp giữa

mùa mưa và mùa khô tháng 4 – 5 rồi giảm đi từ tháng 7 – 8.

Gà dưới 2 tháng tuổi ít phát hiện thấy kháng thể, từ 3

tháng tuổi trở lên phát hiện thấy kháng thể nhiều hơn và cao

nhất là 6 – 8 tháng tuổi.

Nguyễn Kim Oanh và cs (1997) khi điều tra về tỷ lệ nhiễm

Mycoplasma gallisepticum ở gà nuôi tại các xí nghiệp chăn

ni gia cầm trên địa bàn Hà Nội là khá cao (46%). Các giống

gà khác nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau, cao nhất là giống gà

Goldline và thấp nhất là giống Ross 208. Tỷ lệ nhiễm tăng dần

và cao nhất ở gà trưởng thành. Thời điểm bắt đầu đẻ (165

ngày) tỷ lệ nhiễm lên tới 72,5% mặc dù các đàn này được

phòng



bệnh



bằng



kháng



sinh



5



như



Tylosin,



Tiamulin,



0983772100

Norfloxacin...

Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1999) đã công bố kết quả phân lập

Mycoplasma gây bệnh hô hấp mạn tính trên gà:

Tỷ lệ phân lập trên mơi trường canh trùng là 53,33% và

môi trường thạch là 40%.

Dùng chủng Mycoplasma phân lập được gây bệnh thí

nghiệm, gà có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

giống như bệnh ngoài tự nhiên.

Hoàng Xuân Nghinh và cs (2000) đã nghiên cứu biến đổi bệnh

lý ở biểu mơ khí quản của 72 gà thí nghiệm 28 ngày tuổi được

gây nhiễm thực nghiệm với Mycoplasma gallisepticum qua khí

quản và xoang mũi. Từ 2 – 4 tuần sau gây nhiễm, biểu mô khí

quản của gà bệnh chết được kiểm tra bằng kính hiển vi

thường và kính hiển vi điện tử cho thấy:

Bề mặt khí quản tổn thương rõ, xuất hiện ổ loét sâu và

lớn, q trình viêm cấp tính ảnh hưởng đến cấu trúc bề mặt tế

bào của biểu mơ khí quản.

Sự hồi phục của biểu mơ khí quản rất nhanh sau quá

trình viêm loét, từ màng đáy sau đến lớp tế bào biểu mô và

lớp nhung mao của tế bào biểu mô.

Sự tăng sinh không định hướng của nhung mao tế bào

biểu mô chứng tỏ bệnh đã chuyển sang giai đoạn mạn tính.

Phạm Văn Đơng và Vũ Đạt (2001) điều tra tình hình

nhiễm CRD ở 4 trại gà thương phẩm ni công nghiệp cho

thấy:

Gà từ 1 – 6 ngày tuổi nhiễm 16,55%, gà từ 60 – 140 ngày tuổi

nhiễm 41,21%, gà từ 140 – 260 ngày tuổi nhiễm 56,17%, tỷ lệ

nhiễm chung 38,27%, vậy cường độ nhiễm cũng tăng theo lứa

tuổi.

Kết quả mổ khám cho thấy bệnh tích chủ yếu ở các cơ

quan phủ tạng như mũi, thanh quản, phổi, túi khí, gan với tỷ



6



0983772100

lệ bệnh tích tương ứng là 39,61%; 80,84%; 12,66%; 38,73%;

34,80%.

Trương Quang (2002) sử dụng vaccin Nobivac-M.G để

phòng bệnh CRD cho đàn gà Isa bố mẹ hướng thịt cho thấy:

Sau lần tiêm thứ nhất: 25,71% - 62,86% số gà kiểm tra có

hiệu giá kháng thể 1/64; 17,14% - 54,29% số gà kiểm tra có

hiệu giá kháng thể 1/128.

Sau lần tiêm thứ hai: 28,57% - 60,00% số gà kiểm tra có hiệu

giá kháng thể 1/128, 5,71 – 57,48% gà có hiệu giá kháng thể

1/256.

Gà con nở ra từ trứng của bố mẹ đã tiêm vaccin 2 lần có hiệu

giá kháng thể thụ động tương đối cao và tồn tại tới 3 tuần

tuổi.

Nhữ Văn Thụ và cs (2007), sử dụng PCR và nested PCR

để xác định hiệu quả sử dụng kháng sinh phòng chống

Mycoplasma trên gà cho thấy: Tylosin và Enrofloxacin được sử

dụng với liều 50mg/kgP và 20mg/kgP liên tục 3 ngày, sau khi

sử dụng kháng sinh, tỷ lệ bệnh giảm đáng kể, tuy nhiên thời

gian duy trì tỷ lệ thấp không được lâu. M. gallisepticum nhạy

cảm với kháng sinh hơn so với M.synoviae. Vì vậy, giá trị ức

chế tối thiểu của M.S cao hơn M.G. Mycoplasma có khả năng

tái nhiễm hoặc phục hồi sau 3 tuần sử dụng, sử dụng hai loại

thuốc nói trên với đàn gà đẻ bị nhiễm Mycoplasma có tác

dụng làm giảm khả năng tụt trứng, giảm tỷ lệ gà loại.

Đào Thị Hảo và cs (2008), nghiên cứu quy trình chế tạo

kháng nguyên M.G (Mycoplasma gallisepticum) dùng để chẩn

đốn bệnh viêm đường hơ hấp mạn tính (CRD) ở gà.

Trương Hà Thái và cs (2009), xác định tỷ lệ nhiễm

Mycoplasma gallisepticum ở hai giống gà hướng thịt Ross 308

và Isa mà nuôi công nghiệp ở một số tỉnh miền Bắc cho thấy



7



0983772100

tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum trung bình là 37,83%

và khơng có sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm giữa hai giống gà, tỷ

lệ nhiễm có xu hướng tăng theo tuần tuổi của gà.

Nguyễn Thị Tình và cs (2009), nghiên cứu chế kháng thể

lòng đỏ dùng điều trị bệnh viêm đường hơ hấp mạn tính (CRD)

ở gà từ 3 quy trình gây tối miễn dịch cho biết kháng thể lòng

đỏ thu được có hiệu giá ngưng kết cao (10log2) ở cả 3 lơ thí

nghiệm. Theo các tác giả, bằng phương pháp khuếch tán trên

thạch giữa kháng nguyên đã dùng và kháng thể lòng đỏ thu

được đều cho kết tủa rõ và khơng có phản ứng chéo với kháng

nguyên M.S. Kháng thể lòng đỏ đã chế đạt tiêu chuẩn được áp

dụng điều trị bệnh CRD, mang hiệu quả cao trong sản xuất.

Đào Thị Hảo và cs (2010), ứng dụng kháng nguyên

Mycoplasma gallisepticum tự chế xác định tỷ lệ nhiễm bệnh

viêm đường hơ hấp mạn tính tại một số cơ sở chăn nuôi gà

công nghiệp, kết quả cho thấy khả năng gây ngưng kết và

thời gian xuất hiện của phản ứng kháng nguyên tự chế đều

cho kết quả tương tự với kháng nguyên của Nhật Bản, đáp

ứng được yêu cầu dùng chẩn đoán bệnh CRD bằng phản ứng

ngưng kết nhanh trên các đàn gà công nghiệp nuôi ở Việt

Nam.

2.3. Đặc điểm căn bệnh

2.3.1. Hình thái

Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, Mycoplasma đa

dạng về hình thái: hình sợi, hình nhẫn...Mycoplasma có kích

thước 0,2 – 0,6 µm, phần lớn có dạng cầu trực khuẩn, bắt màu

gram âm và dễ nhuộm Giemsa. Khi quan sát tiêu bản tổ chức



8



0983772100

học, Mycoplasma có hình hơi tròn, nằm ngồi hoặc trong tế

bào.

2.3.2. Cấu tạo

Mycoplasma chưa có thành tế bào vững chắc nên dễ bị

biến đổi hình dạng. Lớp vỏ ngồi cùng của Mycoplasma chỉ là

màng nguyên sinh chất, dày 75 - 100AO. Trong tế bào

Mycoplasma, có thể tìm thấy các hạt Riboxom có đường kính

0,2mm và các sợi nhẫn, các khuẩn lạc đang phát triển, khi

nghiên cứu các tế bào sơ khai có hình 6 cạnh và có nguồn gốc

từ tế bào lớn hơn.

2.3.3. Phân loại

Mycoplasma thuộc nhóm vi sinh vật gây bệnh viêm phổi

và màng phổi, theo phân loại vi sinh vật thì nó có vị trí nằm ở

giữa vi khuẩn và virus. Nó khác vi khuẩn là khơng có màng tế

bào và qua lọc, có kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn các loại vi

khuẩn thường thấy nhưng lớn hơn các loại virus và thường kí

sinh nội bào. Mycoplasma có thể phát hiện trên mơi trường

nhân tạo khơng có tế bào sống, mẫn cảm với nhiều loại kháng

sinh và phần nhiều giống hình dạng chữ L. Các đặc điểm này

giống vi khuẩn, do đó khơng xếp Mycoplasma vào nhóm siêu

vi trùng. Mycoplasma phát triển được trên tế bào nuôi và gây

hiện tượng hủy hoại tế bào như các virus.

Trong giống Mycoplasma có rất nhiều chủng (35 chủng).

Đến nay người ta phân lập được các serotype gây bệnh cho

gia cầm ở các mức độ khác nhau.

2.3.4. Tính chất ni cấy

Mycoplasma được coi là vi sinh vật hiếu khí hay yếm khí

tùy tiện, phát triển tốt trong điều kiện 37⁰-38⁰C, pH 7-8, độ



9



0983772100

ẩm cao 80-90%, và có 4-5% CO2. Ngồi ra mơi trường ni

cấy Mycoplasma cần có thành phần dinh dưỡng cao, là mơi

trường chọn lọc (mơi trường có nhiều nước chiết tim bê và 1020% huyết thanh).

+ Môi trường lỏng: Mycoplasma mọc chậm và làm môi

trường vẩn đục nhẹ, mùi trắng đục hay đục đều.

+ Môi trường bán cố thể: Mycoplasma mọc tạo thành

những đám mây đa hình.

+ Mơi trường đặc: Mycoplasma tạo thành những khuẩn

lạc khơng màu, tròn nhỏ có thể nhìn thấy bằng mắt thường

hoặc kính hiển vi có phóng đại 30-60 lần.

+ Môi trường P.P.L.O (môi trường thạch được làm giàu

bằng huyết thanh ngựa): sau khi ria cấy, nuôi dưỡng ở nhiệt

độ 37⁰C với độ ẩm cao trong vòng 3-5 ngày đường ria cấy

thấy xuất hiện khuẩn lạc tròn, nhỏ, bóng láng, hình cúc áo,

kích thước 0,2-0,3 µm, trung tâm khuẩn lạc tối và dày, mọc

lấn xuống thạch. Ria khuẩn lạc mỏng và dẹt.

+ Môi trường nuôi cấy tế bào (môi trường lỏng P.P.L.O):

do môi trường giàu chất dinh dưỡng nên Mycoplasma làm

chuyển màu môi trường hơi vàng và có vẩn bơng nhẹ.

+ Mơi trường thạch máu: Mycoplasma gây bệnh cho

người có thể làm dung huyết máu.

+ Mơi trường nước thạch: khi phát hiện khuẩn lạc không

làm vẩn đục hoặc làm hơi vẩn môi trường.

+ Môi trường xơ phôi gà một lớp: Mycoplasma có thể

phát triển được.

+ Một số Mycoplasma có đặc tính gây ngưng kết hồng

cầu gà, nhưng chỉ các giống Mycoplasma gây bệnh mới có

đặc tính này. Có thể ni cấy Mycoplasma trên mơi trường

nhân tạo và trên phơi trứng bằng tiêm vào túi lòng đỏ phơi gà



10



0983772100

7 ngày tuổi. Khi đó ta thấy phơi chết sau 5-7 ngày với bệnh

tích phơi còi cọc, phù, hoại tử, lách sưng to.

2.3.5. Đặc tính sinh hóa

Mycoplasma có khả năng lên men các loại đường khác

nhau.

Lên men sinh acid nhưng không sinh hơi: Glucoza,

Mantoza, Dextrin.

Không lên men đường Lactoza, Dulcitol, Salicin, ít lên

men Sacaroza.

Kết quả lên men Galactoza, Fructoza, Maltal, cũng khác

nhau lúc dương tính lúc âm tính.

Khơng phân hủy Gelatin, khơng thay đổi sữa.

Phản ứng Agrinin âm tính.

Các chủng Mycoplasma gây bệnh tạo độc tố (Hemasilin)

có tính chất ngưng kết nguyên, có chứa ngưng kết nguyên

hồng cầu. Mycoplasma gallisepticum gây dung huyết một

phần hồng cầu gà, gà tây, gây dung huyết hồn tồn hồng

cầu ngựa trong mơi trường thạch.

2.3.6. Đặc điểm sinh sản

Mycoplasma sinh sản tương đối ngẫu nhiên theo hình

thức phát triển ra xung quanh theo nhiều phía: từ một hồng

cầu phát triển thành một hình vơ quy tắc, thể này phình to ra,

bên trong xuất hiện một hạt nhuộm màu rất đậm. Hạt này

phân tách thành nhiều hạt nhỏ trong một khối. Tế bào chất có

được một màng mỏng bao bọc, về sau mỗi hạt nhỏ cùng với ít

tế bào bao quanh sẽ giải phóng ra và tạo ra một cá thể mới.

2.3.7. Sức đề kháng của Mycoplasma

Theo



Nguyễn







Hiên







cs



(2009),



trong



tự



nhiên



Mycoplasma có sức đề kháng rất kém, bị tiêu diệt ở nhiệt độ



11



0983772100

45 – 50⁰C trong 15 phút.

Mycoplasma sống trong phân gà 37⁰C tồn tại trong 3

ngày, trên vỏ trứng chúng giữ được khả năng lây nhiễm trong

5 ngày trong nhiệt độ của máy ấp. Các chất sát trùng thông

thường có thể tiêu diệt được Mycoplasma nhanh chóng.

Mầm bệnh mẫn cảm với tác dụng của xà phòng, các chất

tẩy trùng khác, dễ chết trong nước cất, nước sinh lý và mơi

trường khơng có huyết thanh hoặc máu. Theo tài liệu của

Fabricant (1962), thì bệnh phẩm bảo quản ở -25⁰C sau 1 năm

phân lập được 35% và sau 3 năm còn 13%. Trong canh trùng

ở nhiệt độ -5⁰C thì Mycoplasma khơng có khả năng gây bệnh

sau 20 ngày, còn ở nhiệt độ dưới 45⁰C thì chỉ sau 1 giờ.

Mycoplasma rất mẫn cảm với một số loại kháng sinh

như: nhóm Tetracylin, Tylosin, Tiamulin, trong đó Tylosin có tác

dụng rất tốt. Cùng với sự tiến bộ về khoa học kĩ thuật thú y

hiện nay có rất nhiều thuốc mới có hiệu quả điều trị cao như:

Losin, Terrin...

2.4. Đặc điểm dịch tễ học

2.4.1. Loài vật mắc bệnh

Trong thiên nhiên những loài gia cầm như: gà, gà sao,

vịt, ngan, ngỗng... đều có thể mắc bệnh CRD. Gà nuôi theo

phương thức công nghiệp bệnh phổ biến hơn gà ni gia đình

theo phương thức tự nhiên do mật độ nuôi cao, các yếu tố

nuôi dưỡng nhân tạo nên sức đề kháng của gia cầm thấp hơn

trong tự nhiên.

2.4.2. Lứa tuổi mắc bệnh và mùa mắc bệnh

Gà mắc bệnh ở mọi lứa tuổi trong đó tỷ lệ mắc bệnh tập

trung ở tuần tuổi từ 4-8 , gà đẻ thời kỳ đẻ bói, gà đẻ khi tỷ lệ



12



0983772100

đẻ cao nhất. Tỷ lệ mắc ở gà trưởng thành và gà đẻ trứng

thương phẩm cao hơn tỷ lệ mắc bệnh ở gà con.

Nước ta khí hậu nóng ẩm về mùa hè và gió lạnh về mùa

đơng là điều kiện thuận lợi để cho bệnh phát triển, đặc biệt

trang trại chăn nuôi theo hướng cơng nghiệp có số lượng lớn

và mật độ cao. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng tập trung chủ

yếu vào các tháng đầu xuân (tháng 1 - 2), khi thời tiết lạnh

giá cùng với gió bấc và mưa phùn làm giảm sức đề kháng của

gà bệnh, bệnh có chiều hướng giảm dần vào tháng 6-7 (Đào

Trọng Đạt, 1975; Nguyễn Vĩnh Phước, 1985).

2.4.3. Phương thức truyền lây và chất chứa mầm bệnh

Trong thiên nhiên, nguồn bệnh chủ yếu là các con vật

mang bệnh. Gia cầm mắc bệnh có thể ẩn tính và mang trùng,

thải mầm bệnh ra ngồi mơi trường.

Đường lây bệnh chủ yếu là đường hơ hấp. Vì trong nước

mũi, miệng, mắt, khí quản, túi khí của gia cầm chứa nhiều

mầm bệnh và khi gà hắt hơi mầm bệnh theo nước bọt bắn

vào khơng khí ở dạng bụi sương, con lành hít phải sẽ mắc

bệnh. Ngồi ra, mầm bệnh còn lây lan theo dụng cụ chăn ni

bị ơ nhiễm, qua thức ăn, nước uống nhưng phương thức này ít

có ý nghĩa vì ở ngồi khơng khí mầm bệnh có sức đề kháng

tương đối yếu. Mycoplasma cũng được phân lập từ ống dẫn

trứng của gà mái bị bệnh, tinh hoàn. Vì vậy con trống bị bệnh

có thể truyền cho con mái. Bệnh có khả năng lây qua đường

tiêu hóa nhưng khơng có ý nghĩa quan trọng.

Bệnh thường diễn biến dưới thể mạn tính, âm ỉ và lây lan

chậm, kéo dài. Vì vậy, tỷ lệ mắc bệnh trong đàn rất cao nhưng

số lượng chết lại ít hơn các bệnh truyền nhiễm khác.



13



0983772100

2.5. Cơ chế sinh bệnh

Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, Mycoplasma

đến kí sinh ở đường hơ hấp. Tùy sức đề kháng của cơ thể mà

bệnh phát ra theo các chiều hướng khác nhau.

Lúc đầu mầm bệnh xâm nhập vào niên mạc cơ quan hô

hấp, các tế bào biểu mô và các lớp dưới gây các biến đổi loạn

dưỡng và viêm. Sau đó mầm bệnh theo máu đến cơ quan

trong cơ thể như gan, tủy xương, lách...mầm bệnh gây tổn

thương cơ quan hơ hấp, tuần hồn ở phổi làm rối loạn trao đổi

khí và rối loạn tồn bộ cơ thể vật bệnh. Khi sức đề kháng cơ

thể tốt bệnh nhẹ đi có thể khơng nhìn thấy. Mầm bệnh có thể

kết hợp với một số vi khuẩn, virus khác làm tổn thương niêm

mạc đường hô hấp, làm con vật gầy sút rất nhanh rồi chết.

Nhiều trường hợp vật mắc bệnh thường xuất hiện các bệnh

khác đặc biệt là E.coli. Khi xuất hiện bệnh ghép với E.coli và

virus gây viêm phế quản truyền nhiễm thì túi khí bị viêm

nặng, mức độ và thời gian bệnh tăng lên rõ rệt. Chứng viêm

túi khí nặng là bệnh hơ hấp mạn tính ghép, bệnh này thường

gặp trong thực tế. Vì vậy bệnh CRD được gọi là “thứ chỉ thị”

cho sức đề kháng của cơ thể.

2.6. Đặc điểm triệu chứng và bệnh tích

2.6.1. Triệu chứng

Do bệnh CRD có nhiều serotype khác nhau, nên triệu

chứng lâm sàng và bệnh tích cũng rất khác nhau giữa các đàn

bị nhiễm, có loại chỉ gây viêm đường hơ hấp, có loại gây viêm

túi khí, có loại gây viêm khớp. Bệnh rất dễ bùng nổ khi có mặt

các yếu tố gây stress gây hại và khi đã mắc bệnh CRD thì sẽ

kéo theo các bệnh thứ phát xuất hiện, làm cho triệu chứng



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần II: Tổng quan tài liệu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×