Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lí do chọn đề tài

Lí do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Những năm gần trở lại đây, bên cạnh những yếu tố tích cực và tiến bộ trong quan hệ

kết hơn có yếu tố nước ngồi nảy sinh các hệ lụy như hiện tượng lấy vợ (chồng) là người

nước ngồi vì mục đích kinh tế, để “xuất ngoại”, kết hơn khơng xuất phát từ sự tự

nguyện. Những hiện tượng này đã làm ảnh hưởng khơng nhỏ đến an ninh chính trị, trật tự

an tồn xã hội, thuần phòng mỹ tục của người Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân cả khách

quan lẫn chủ quan dẫn đến các hiện tượng trên nhưng thực tế cho rằng sự hạn chế của

pháp luật cùng với cách thức thực thi pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ hơn

nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi có ảnh hưởng khơng nhỏ.

Vì vậy, việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của

pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngồi, từ đó rút ra các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn

thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về vấn đề này là hết sức quan trọng, có ý nghĩa

cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vì những lí do trên, em chọn đề tài :”Kết hơn có yếu tố nước

ngồi: một số vấn đề lý luận từ thực tiễn tại Công ty Luật TNHH MTV STARLAW”

làm đề tài cho báo cáo tốt nghiệp của mình.

2. Tình hình ngun cứu

Kết hơn có yếu tố nước ngồi hiện đang là vấn đề có tính thời sự cao. Vì thế nên, từ

trước đến nay có khơng ít các cơng trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể thấy một số đề

tài tiêu biểu như:

-Nguyễn Đức Việt (2014), Kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Trung Quốc,

Đài Loan tại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn : luận văn thạc sĩ luật học, Đại

học Luật Hà Nội.

- Tạ Tùng Hoa (2014), Vấn đề kết hơn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam - Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn : luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.

- Đỗ Văn Chỉnh (2011), Kết hơn có yếu tố nước ngồi và thực tiễn áp dụng pháp luật,

Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, 2011, Số 1, tr29-32.



-4-



- Lưu Chí Thơng (2016), Kết hơn có yếu tố nước ngồi theo pháp luật Việt Nam : Luận

văn thạc sĩ, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.

- Nơng Quốc Bình(2003), Pháp luật điều chỉnh quan hệ hơn nhân có yếu tố nước

ngoài ở Việt Nam : luận án tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.

- Nơng Quốc Bình, Nguyễn Hồng Bắc (2006 ), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngồi ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội.

- Nguyễn Thị Thu Phương (2015), Một số quy định pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn

nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi trong thời kỳ hội nhập : luật văn thạc sĩ luật học,

Đại học Luật Hà Nội.

Các cơng trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào một mảng cụ thể hay là chỉ đề

cập vấn đề này ở khía cạnh xung đột pháp luật và giải quyết vấn đề này dưới góc độ tư

pháp quốc tế và thiếu tính thực tiễn. Nhìn chung cho đến nay vẫn chưa có một cơng trình

khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu và đầy đủ và có hệ thống về kết

hơn có yếu tố nước ngồi. Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính cấp thiết về vấn đề Đề

tài đã có những nhìn nhận tổng qt hơn về tình hình kết hơn có yếu tố nước ngồi tại

Việt Nam. Đề tài khơng chỉ đề cập đến việc xung đột pháp luật mà còn đưa ra những

đánh giá về những quy định của pháp luật về vấn đề kết hơn có yếu tố nước ngồi, song

song với đó là việc xem xét thực tiễn cũng như thực trạng áp dụng pháp luật và tình hình

kết hơn có yếu tố nước ngồi tại Việt Nam rồi từ sự nhận xét đánh giá thực tế đó đưa ra

những kiến nghị để có thể điều chỉnh vấn đề kết hơn có yếu tố nước ngồi một cách chặt

chẽ hơn.

3. Mục đích đề tài

Mục đích nghiên cứu của báo cáo là qua quá trình nghiên cứu các quy định của pháp

Luật HN&GĐ về việc kết hơn có yếu tố nước ngoài và thực trạng của vấn đề này trong

những năm gần đây rồi từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng

cao hơn nữa hoạt động thi hành pháp luật về kết hơn có yếu tố nước ngồi.



-5-



4. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là một số vấn đề lí luận về kết hơn có yếu tố nước

ngồi, các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, pháp luật HN&GĐ của Việt Nam;

những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng các quy định pháp luật về kết hôn có

yếu tố nước ngồi.

5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của báo cáo: Trong khuôn khổ của một báo cáo thực tập, báo cáo

chỉ tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất, những quy định pháp luật về quan hệ kết hơn có yếu tố nước ngồi.

Thứ hai, các quy định pháp luật về đăng kí kết hơn có yếu tố nước ngồi trong một số

văn bản pháp luật như: Luật HN&GĐ 2014, Nghị định 126/2014, Luật Hộ tịch 2014,

Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và

các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Thứ ba, những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về đăng kí kết

hơn có yếu tố nước ngồi.

6. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu của đề tài

Báo cáo được viết trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ yếu sau:

1. Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử;

2. Phương pháp phân tích luật học;

3. Phương pháp đánh giá định tính dựa trên số liệu thống kê thứ cấp.

Trên cơ sở phương pháp phân tích, tồng hợp đánh giá về cơ sở lí luận và thực tiễn quy

định pháp luật điều chỉnh về kết hơn có yếu tố nước ngồi; phân tích thực tiễn áp dụng

quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết hơn có yếu tố nước ngồi đặc biệt là

việc đăng kí kết hơn có yếu tố nước ngồi từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm khắc phục

những khó khăn vướng mắc khi áp dụng pháp luật



-6-



7. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng đề tài

Mặc dù chỉ là một bài báo cáo nhưng nó đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn

đề về cơ sở lí luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hơn có yếu tố nước

ngồi đặc biệt là về việc đăng kí kết hơn có yếu tố nước ngoài. Thiết nghĩ kết quả nghiên

cứu của đề tài báo cáo sẽ mang lại một số đóng góp nhỏ về khoa học pháp lý:

Thứ nhất, tổng hợp, phân tích đánh giá một cách khoa học những quy định của pháp

luật về quan hệ đăng kí kết hơn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, việc nghiên cứu này

một phần sẽ giúp ích cho việc giảng dạy và nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh quan hệ

hơn nhân có yếu tố nước ngoài.

Thứ hai, đề tài đã nêu được những khó khăn, vướng mắc trong cơng tác áp dụng quy

định pháp luật về kết hơn có yếu tố nước ngoài đồng thời xác định các nguyên nhân của

thực trạng đó.

Thứ ba, từ những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong quy định pháp luật điều

chỉnh quan hệ kết hơn có yếu tố nước ngồi đưa ra những đề xuất các kiến nghị nhằm

hoàn thiện quy định pháp luật về đăng ký kết hơn có yếu tố nước ngồi.

8. Bố cục của Báo cáo

Nội dung báo cáo gồm 3 chương :

Chương 1: Một số vấn đê lý luận chung về kết hơn có yếu tố nước ngồi

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về kết hơn có yếu tố nước ngoài

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về kết hơn có yếu tố nước ngồi trong

bối cảnh hội nhập



-7-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ

NƯỚC NGỒI

1.1. Khái niệm về kết hơn có yếu tố nước ngồi

1.1.1. Khái niệm kết hơn

Tại Khoản 5, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đã đưa ra khái niệm về kết hơn, theo

đó: “Kết hơn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về

điều kiện kết hôn và đăng ký kết hơn”.

Như vậy, có thể khẳng định kết hơn chính là sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền về quan hệ vợ chồng của hai người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ giữa họ đối với nhau. Theo đó Luật Việt Nam chỉ cơng nhận hơn nhân giữa nam và

nữ, mặc dù đã có những chuyển biến nhưng sự khác biệt về lễ giáo phương Đông với

phương Tây cho nên hôn nhân giữa những người cùng giới được không được chấp nhận

ở Việt Nam minh chứng rõ ràng là từ việc từ việc “cấm” đã chuyển sang “không thừa

nhận”(Khoản 2, Điều 8, Luật HNGĐ 2014). Trong khi đó các quốc gia phương Tây, hầu

hết đã sớm công nhận việc này với lý do bảo vệ quyền con người, đảm bảo sự bình đẳng

và quyền lợi giữa những người thuộc các thiên hướng giới tính khác nhau trong xã hội;

loại bỏ được kỳ thị và phân biệt đối xử.

1.1.2. Khái niệm kết hơn có yếu tố nước ngoài

Luật HN&GĐ hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về

khái niệm kết hơn có yếu tố nước ngồi, cho nên căn cứ vào khái niệm quan hệ hôn nhân

và gia đình có yếu tố nước ngồi, ta có thể đưa ra khái niệm về kết hơn có yếu tố nước

ngồi như sau:



-8-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



“Kết hơn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy

định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trong đó có ít nhất một bên

chủ thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc việc kết

hơn được xác lập ở nước ngồi và theo pháp luật nước ngồi”1.

1.1.3. Phân loại kết hơn có yếu tố nước ngoài

Căn cứ vào khái niệm của kết hơn có yếu tố ngước ngồi, ta có thể chia ra các trường

hợp kết hơn có yếu tố nước ngồi thành nhiều loại khác nhau.

 Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ kết hôn:

(1) Kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài hoặc người Việt Nam định

cư ở nước ngồi.

(2) Kết hơn giữa người nước ngoài với nhau nhưng thường trú tại Việt Nam.

(3) Kết hôn giữa công dân Việt nam với nhau mà căn cứ xác lập , thay đổi, chấm dứt

quan hệ đó theo quy định pháp luật nước ngoài.

 Căn cứ vào nơi tiến hành kết hôn:

(1) Kết hôn tại Việt Nam và;

(2) Kết hơn tại nước ngồi.

1.2. Đặc điểm của quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các dấu hiệu để xác định quan hệ hơn nhân có

yếu tố nước ngồi được nghi nhận trong Luật HN&GĐ 2014. Khi giải thích từ ngữ,

Khoản 25, Điều 3, Luật HN&GĐ 2014 quy định:

“Quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi là quan hệ hơn nhân và gia

đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước

ngồi; quan hệ hơn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là cơng dân Việt Nam nhưng

căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngồi, phát sinh

tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngồi”2.

So sánh với quy định theo luật HN&GĐ 2000 thì có thể thấy rằng, Luật HNGĐ 2014

đã có sự mở rộng về chủ thể chịu sự điều chỉnh của Luật này cụ thể điều chỉnh thêm quan

hệ hôn nhân của những người Việt Nam định cư ở nước ngồi. Có thể giải thích là các

1 Nguyễn Cáo Hiến (2011), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước

ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam trong xu thế hội nhập: luật văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc

gia Hà Nội.

2 Khoản 25, Điều 3, Luật HN&GĐ 2014



-9-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI



nhà làm luật muốn pháp luật Việt Nam được áp dụng rộng rãi, có ảnh hưởng hơn nhưng

phải chăng nó đã q ơm đồm và dẫn đến một câu hỏi khó trả lời là “người Việt Nam

định cư ở nước ngồi có khi nào phải chịu sự điều chỉnh của 2 hệ thống pháp luật khác

nhau khi tiến hành kết hơn?”.

1.3. Điều kiện kết hơn có yếu tố nước ngồi

Điều kiện kết hơn là những quy định mang tính pháp lý mà nhà nước đặt ra cho các

bên nam nữ khi kết hôn phải tuân thủ. Muốn xác lập quan hệ hơn nhân hợp pháp thì đòi

hỏi phải có sự thừa nhận của nhà nước tức là phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm

quyền và điều kiện kết hơn chính là tiền đề để các chủ thế kết hôn được pháp luật chấp

nhận nhằm tiến tới xây dựng gia đình hạnh phúc.

Một câu hỏi được đặt ra là: Dựa vào tiêu chí gì mà các nhà làm luật đặt ra nhưng điều

kiện như vậy?

Để trả lời cho câu hỏi trên chúng ta cần đi từ góc độ y học. Cơ sở xây dựng kết hôn là

những nghiên cứu về tâm lí, sức khỏe, khả năng ảnh hưởng đến cuộc sống con người.

Nghĩa là, khi tiến đến hôn nhân các bên nam nữ phải đáp ứng đầy đủ sự phát triển cả vể

thể chất lẫn tình thần, đảm bảo việc thực hiện các chức năng quan trọng của gia đình và

vai trò trách nhiệm của từng thành viên trong đó.

Ngồi ra, các yếu tố truyền thống đạo đức, các chính sách lớn của nhà nước liên quan

đến lĩnh vực hơn nhân và gia đình cũng ảnh hưởng khơng nhỏ đến tình hình kết hơn hiện

nay khi nó tác động tới cách đánh giá của cán bộ có thẩm quyền khi xem xét việc kết

hôn.

Xuất phát từ những lí luận khoa học và thực tiễn, Luật HN&GĐ 2014 quy định ba điều

kiện mà các chủ thể phải đáp ứng khi tiến hành kết hôn:

1.3.1. Điều kiện về độ tuổi



-10-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



Theo quy định tại Luật hơn nhân gia đình 2014, có quy định độ tuổi kết hôn“ Nam từ

đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”3.

Theo đó, bất kì các bên nam nữ khi bước sang độ tuổi mà pháp luật quy định thì có

quyền kết hơn phù hợp với nguyện vọng của bản thân. Như vậy đã có sự đổi mới so với

quy định của Luật HNGĐ 2000 khi mà chủ thể khi muốn kết hôn phải đạt độ tuổi đúng

tức là đối với nam là phải qua sinh nhật tuổi 20 và tương tự đối với nữ. Điều này cũng

phù hợp với thực tế khi quy định phản ánh được sự phát triển về mặt sinh lí, tâm lí con

người. Pháp luật của các nước châu Âu đều cho phép kết hôn khi nam, nữ đủ 18 tuổi và

đủ 16 tuổi khi được sự đồng ý của bố, mẹ hay chấp thuận của tòa án. Như vậy pháp luật

của các nước phương Tây quy định độ tuổi kết hơn đối với nam, nữ là như nhau điều đó

thể hiện được sự bình đẳng và với độ tuổi này coi như đã phát triển đầy đủ về các mặt

tâm sinh lý. Nhưng tại sao pháp luật Việt Nam, cũng như của hầu hết các nước Châu Á

đòi hỏi độ tuổi kết hôn của nam phải hơn nữ từ 2-3 tuổi? Có thể lấy ví dụ: Trung Quốc:

Nam 21, Nữ: 20, Ấn Độ: Nam 21, Nữ:18 hay Việt Nam: Nam 20, Nữ 18. Phải chăng các

nhà làm luật cho rằng với độ tuổi này nam giới mới đủ chín chắn suy nghĩ về việc kết

hôn, tạo ra cuộc hôn nhân tốt đẹp đúng với văn hóa của người Phương Đơng. Quy định

như vậy cũng có nhiều mặt lợi ích nhưng vơ hình chung nó có thể sẽ tạo ra sự bất bình

đẳng và nhiều hệ lụy khác sẽ phát sinh.

Thêm một vấn đề nữa khi mà quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn chỉ đưa ra mức

giới hạn tối thiểu mà chủ thể phải đáp ứng, không yêu cầu về độ chênh lệch tuổi giữa hai

bên nam nữ. Do đó khi áp dụng pháp luật trên thực tế, tình trạng kết hơn mà nam nữ cách

xa nhau đến vài chục tuổi đang trở nên phổ biến hiện nay. Điều này ảnh hưởng không

nhỏ đến sự phát triển của thế hệ tương lai cũng như những giá trị đạo đức truyển thống

trong xã hội.

1.3.2. Điều kiện về sự tự nguyện



3 Điểm a, Khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ 2014



-11-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



Việc kết hơn do nam nữ tự nguyện quyết định (Điểm b, Khoản 1, Điều 8 Luật

HN&GĐ 2014). Tự nguyện là xuất phát từ ý chí của mình khơng chịu tác động từ bên

ngồi từ đó thể hiện ý chí đó ra bên ngồi. Hai bên nam nữ tự nguyện là cùng thống nhất

ý chí, tự mình quyết định việc kết hơn, tỏ rõ thái độ ưng thuận lấn nhau và trở thành vợ

chồng, không chịu sự tác động hay chi phối từ bên ngồi.

Con người được tự do quyết định việc hơn nhân của mình, nó như quyền con người

được pháp luật cũng tôn trọng và bảo vệ. Đây là một quy định hoàn toàn phù hợp với

pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế.

Hơn nhân được hình thành trên cơ sở tình u chân chính giữa hai bên nam nữ,được

thể hiện thơng qua sự tự nguyện kết hơn nhưng đó không phải tất cả, trong nhiều trường

hợp, kết hôn không dựa trên sự tự nguyện, tức là các chủ thể xác lập quan hệ hôn nhân

không xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của chính bản thân mình mà là do sự tác động,

thúc đẩy từ bên ngoài: Cụ thể:

Một bên ép buộc (Ví dụ: đe dọa dung vũ lực hoặc uy hiếp tình thần hoặc dung vật chất

nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn,

Một bên lừa dối (Ví dụ: Lừa dối là nếu kết hơn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết

hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngồi; khơng có khả năng sinh lí nhưng cố tính giấu, biết mình

bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn.

Một bên hoặc cả hai bên nam nữ đều bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người

nữ do nợ người nam một khoản tiền nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau…)

buộc người bị cưỡng ép phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ.

Do đó, để đảm bảo việc kết hơn giữa hai bên nam nữ, trên cở sở tự nguyện, pháp luật

đã có những quy định bắt buộc tiến hành khi các đối tượng này có nguyện vọng tiến tới

hơn nhân. Chẳng hạn như khi đăng kí kết hơn phải có mặt của hai bên nam nữ, khơng cho

phép kết hơn vắng mặt (Pháp luật Mỹ thì có một số quy định khá khác biệt khi “ quân

nhân làm việc trong lực lượng quân đội Mỹ được phép cử người dại diện trong hơn lễ

của chính mình. Trong 4 tiểu bang thực hành điều luật này là California, Colorado,



-12-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



Texas và Montana thì Montana thậm chí còn cho phép cả cơ dâu chú rể cùng vắng mặt”).

Còn về khả năng nhận thức, pháp luật nghiêm cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết

hôn.Trường hợp này đòi hỏi sự thể hiện ý chí của chính các chủ thể, đặc biệt khi kết hơn

có liên quan đến yếu tố nước ngồi.

1.3.3. Khơng bị mất năng lực hành vi dân sự.

Theo đó, người mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền , nghĩa

vụ dân sự. Một người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa

án tun người đó mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự. Pháp

luật đưa ra quy định như vậy bởi vì việc lập gia đình của những người mắc bệnh tâm thần

nhẹ sẽ để lại sự thiệt thòi, đau khổ cho người bạn đời của họ. Những cuộc hôn nhân này

mang lại hậu quả thường nặng nề, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội. Có thể khi người

chồng khi lên cơn sẽ mắng chửi, đánh đập vợ con, có khi còn gây ra tội ác. Còn người vợ

nếu mắc bệnh chưa chắc đã sinh ra được những đứa con bình thường, khỏe mạnh. Ngay

cả khi đứa trẻ sinh ra bình thường thì trong quá trình chung sống, những biểu hiện khơng

bình thường của cha (mẹ) sẽ ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý và sự phát triển của trẻ. Thế

nên cần thiết phải cấm trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn.



1.3.4.



Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn.



Cũng như trường hợp kết hôn thông thường, việc kết hôn có yếu tố nước ngồi đòi hỏi

các chủ thể kể cả cơng dân Việt Nam và người nước ngồi phải tuân thủ một cách tuyệt

đối các điều kiện kết hôn. Các bên nam nữ cần đáp ứng đầy đủ yêu cầu về độ tuổi cũng

như tự nguyện khi kết hôn. Đồng thời việc kết hôn này phải không thuộc một trong

những trường hợp pháp luật cấm kết hôn. Cụ thể, đây là điều kiện cần và đủ để xem xét

tính hợp pháp của một quan hệ hôn nhân được quy định rõ luật.

“(1) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người

khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hơn hoặc chung sống như vợ chồng với

người đang có chồng, có vợ;



-13-



CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



(2) Tảo hơn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

(3) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực

hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa

người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể,

cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

(4) Kết hôn giả tạo 4 ”

Nhìn chung, luật pháp của hầu hết các nước đều quy định về tình trạng hơn nhân của

các bên kết hôn như một điều kiện kết hôn. Nội dung pháp luật quy định về vấn đề này

của các bên kết hôn như một điều kiện kết hôn. Nội dung pháp luật quy định về vấn đề

này phụ thuộc vào chế độ kinh tế và phong tục tập quán của mỗi xã hội khác nhau.

Ở Việt Nam, tình trạng hôn nhân được xem như một điều kiện trong việc kết hơn có

quy định khác nhau trong từng thời kì lịch sử.

Trong quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi, tình trạng hơn nhân của các bên cũng

được xem như một trong những điều kiện kết hôn. Theo quy định tại khoản 1,Điều 18 và

khoản 1 Điều 38, Luật Hộ tịch 2014 thì một trong các giấy tờ cần thiết cho việc đăng kí

kết hơn là Giấy xác nhận tình trạng hơn nhân hoặc tờ khai đăng kí kết hơn có xác nhận

tình trạng hơn nhân của cơng dân Việt Nam được cấp chưa quá 06 tháng (kể từ ngày nhận

hồ sơ) của cơ quan có thẩm quyền, xác nhận hiện tại khơng có vợ hoặc khơng có chồng.

Việc pháp luật quy định như vậy không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các

bên chủ thể trong quan hệ hơn nhân mà còn bảo vệ các nguyên tắc pháp lí của pháp luật

Việt Nam đảm bảo ngun tắc kết hơn một vợ, một chồng.

Như đã trình bày ở trên việc cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn, lừa dối kết hôn là

những hành vi bị cấm việc kết hôn khi bị các yếu tố này tác động sẽ không đảm bảo sự tự

nguyện giữa các bên. Việc cấm kết hôn trong các trường hợp này là có cơ sở rõ ràng.

Thật vậy, việc kết hơn mà bị cưỡng ép, cản trở hay bị lừa dối sẽ khơng thể khơng đạt

được mục đích của hơn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc mà nó chỉ gây ra nhiều tội

4 Khoản 2, Điều 5 Luật HN&GĐ 2014



-14-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lí do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×