Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ

NƯỚC NGỒI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP



giảm nỗi đau này chăng?” .Nhưng chúng ta biết rằng nhiều Bộ, Ngành còn thiếu trách

nhiệm trước hiện tượng kết hơn với người nước ngồi.Ví dụ, trong khi cục thống kê Hàn

Quốc có số liệu cụ thẻ những trường hợp kết hơn với người nước ngồi, phân tích ngun

nhân. Sở Tư pháp cấp giấy kết hơn với người nước ngồi nhưng đến số liệu thì phải tách

ra từng nước (Phụ nữ 28/4/2006) qua đó có thể thấy, các tổ chức xã hội, các ngành chức

năng cón thiếu quan tâm hiện tượng hơn nhân có yếu tốn nước ngồi của phụ nữ Việt

Nam, và chưa có đơn vị xã hội nào coi đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình.

Ở những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh trình độ của các cán bộ

Sở Tư pháp tương đối đáp ứng được yêu cầu công việc. Nhưng ở vùng nơng thơn thì kiến

thức của các cán bộ còn hạn chế, chưa kịp thời nắm bắt được sự thay đổi của tình hình xã

hội. Việc quản lý kết hơn có yếu tố ngồi rất khó để thực hiện vì phạm vi tác động của

quan hệ này không nằm trong khn khổ của một quốc gia. Do đó để vận dụng những

quy định của pháp luật vào đời sống một cách hiệu quả, một trong những nhân tố quan

trọng đó là khả năng con người. Vì vậy nên cần có một chương trình đào tạo cán bộ có

chun mơn để làm những công việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực Hơn nhân và gia

đình. Những người này phải đáp ứng những điều kiện về pháp luật, có những hiểu biết

nhất định về pháp luật quốc gia cũng như tinh thần Luật Quốc tế nói chung. Trên cơ sở đó

việc áp dụng pháp luật sẽ được áp dụng một cách đúng đắn và hiệu quả hơn.

Ngồi ra, cần có sự phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước với nhau. Ngồi Bộ

Tư pháp có trách nhiệm chính trong việc quản lý về tình hình kết hơn có yếu tố nước

ngoài, các cơ quan khác như: Bộ Ngoại Giao, Bộ Cơng An, các tổ chức đồn thể… sẽ có

những hỗ trợ nhất định để giải quyết những vấn đề phát sinh hiện nay. Bởi vì, mục đích

chủ yếu và quan trọng trong hoạt động của các cơ quan là đảm bảo trật tự xã hội.

Cụ thể khi tiến hành cơng nhận mối quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi, đòi hỏi

phải có sự xem xét đầy đủ và điều kiện kết hôn của các chủ thể cũng như có những biện

pháp xử lý kịp thời nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.



-36-



CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HỒN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ

NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP



3.2. Nâng cao nhận thức cho phụ nữ về kết hơn có yếu tố nước ngoài

Phụ nữ là những chủ thể chiếm phần lớn trong kết hơn có yếu tố nước ngồi ở Việt

Nam. Như đã nói ở phần thực trạng thì họ kết hơn vì nhiều mục đích khác nhau, đó có thể

là vì tình u hay là vì lợi ích kinh tế với tâm lí muốn thốt khỏi cái “ao làng”. Chính

hồn cảnh gia đình khó khăn, nghèo túng, trình độ học vấn thấp, xuất thân từ những khu

vực có điều kiện kinh tế - xã hội thấp, điều kiện địa lý không thuận lợi. Khi họ thấy bạn

bè, người thân kết hơn với người nước ngồi hoặc những người Việt Nam định cư ở nước

ngoài về nước ăn mặc sang trọng, hào phóng, đã tác động đến một bộ phận phụ nữ nông

thôn bị ảnh hưởng chạy theo xu hướng lấy chồng ngoại, họ đã dễ dàng chấp nhận mai

mối để kết hôn với người ngoại quốc hoặc là kết hôn để được bảo lãnh ra nước ngồi, kết

hơn để được nhập quốc tịch nước ngồi, kết hơn để được bằng chị, bằng em. Đây là một

nhận thức kết hôn lệch lạc dễ dẫn đến hôn nhân đổ vỡ, không hạnh phúc. Nhiều trường

hợp kết hơn có yếu tố nước ngồi vì mục đích kinh tế, thể hiện rõ nhất là các trường hợp

kết hôn với người Đài Loan, Hàn Quốc. Thực tế có một bộ phận sau khi kết hơn đã gửi

tiền về giúp gia đình “đổi đời”, có nhà cửa khang trang, có kinh tế khấm khá hơn, thu

nhập cao hơn; một số khơng ít phụ nữ có cơ hội về việc làm, thu nhập... Tuy nhiên, hình

thái kết hơn này cũng để lại khơng ít hệ quả tiêu cực.

Vì vậy, đòi hỏi cấp thiết là cần phải nâng cao ý thức của người họ khi kết hôn với

người nước ngồi nhằm tiến tới hơn nhân lành mạnh, hạnh phúc. Để làm được điều đó thì

cần có sự tun truyền, tác động mạnh mẽ để họ hiểu rõ hơn về việc kết hơn với người

nước ngồi. Đồng ý rằng kinh tế, tiền bạc là rất quan trọng để sinh tồn, nhưng quan trọng

hơn đó là hạnh phúc của người phụ nữ. Nghĩ vậy nên em cho rằng cần có những lớp học,

phong trào tuyên truyền ở những vùng đặc biệt là nông thôn cũng như thành thị để họ có

thể hiểu rõ hơn quyền lợi của mình từ đó có sự chuẩn bị tốt cho cuộc đời của mình.

3.3. Đặt ra quy định riêng về điều kiện kết hôn trong kết hơn có yếu tố nước

ngồi

Hiện nay, chỉ có mỗi Luật HN&GĐ là có quy định về các điều kiện kết hôn. Tuy

nhiên những quy định này chỉ mới dừng lại ở các quan hệ hôn nhân trong nước và từ đó



-37-



CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HỒN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ

NƯỚC NGỒI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP



áp dụng chung cho cả các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngồi. Theo đó, cần phải có

những quy định riêng về các điều kiện kết hơn với người nước ngồi. Cụ thể, cần phải có

một số điều kiện như không chênh lệch quá về tuổi tác, hiểu biết lẫn nhau và mục đích

hơn nhân phải là tự nguyện, tiến bộ.

Trong đó quan trọng nhất là bổ sung các quy định riêng về điều kiện riêng về độ tuổi

các hai bên trong kết hơn có yếu tố nước ngoài:

Hiện nay pháp luật chỉ quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu, không quy định độ tuổi kết

hôn tối đa trong quan hệ kết hơn có yếu tố nước ngồi, khơng quy định độ tuổi kết hơn tối

đa trong quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi. Điều này đang ảnh hưởng trực tiếp tới

đạo đức, truyền thống văn hóa của người Việt Nam… Nhằm loại bỏ kết hơn khơng lành

mạnh, kết hơn khơng vì mục đích hôn nhân, đảm bảo thuần phong mỹ tục và văn hóa của

người Việt Nam, tơi đề nghị nên quy định độ tuổi chênh lệch tối đa giữa các chủ thế kết

hơn có yếu tố nước ngồi xin đăng kí kết hôn là 20 tuổi

Để đảm bảo quy định về việc xác định điều kiện sức khỏe của các bên khi kết hôn tối

đa theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 8 Luật HN&GĐ 2014 được thực hiện hiệu

quả, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu để bổ sung chi tiết các thủ tục để xác

định người mất năng lực hành vi dân sự, bổ sung các giấy tờ sức khỏe cần thiết (không

mắc bệnh tâm thần, HIV…) khi kết hôn.

Pháp luật cũng cần quy định thêm về điều kiện ngôn ngữ và mức độ hiểu biết tối thiểu

về hồn cảnh gia đình, văn hóa của nhau nếu chủ thể kết hôn là hai người đến từ hai đất

nước khác nhau. Về vấn đề này, pháp luật nên quy định cơ quan có thẩm quyền phải kiểm

tra hai bên nam nũ có thể nói và hiểu được tiếng của một trong hai bên khơng hoặc nếu

khơng thì họ có thể dùng nói và hiểu được ngơn ngữ thứ ba hay không. Nếu hai bên

không đáp ứng được điều kiện này thì tạm thời chưa cho họ đăng kí kết hơn.



-38-



CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HỒN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ

NƯỚC NGỒI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP



3.4. Quy định chặt chẽ về quản lí hoạt động của các trung tâm tư vấn hôn nhân,

bãi bỏ hoạt động mơi giới

Hiện nay mơ hình các Trung tâm hỗ trợ kết hôn vẫn chưa được phổ biến, số lượng chỉ

dừng lại ở con số rất khiêm tốn và chủ yếu được thành lập ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở

những tỉnh khác thì rất ít. Một số ý kiến cho rằng việc giao độc quyền môi giới hôn nhân

cho Hội Liên Hiệp phụ nữ quản lý khó hiệu quả. Quản lý nhà nước với hoạt động này

cũng chưa chặt chẽ làm xuất hiện nhiều hiện tưọng môi giới bất hợp pháp. Một số người

đã lợi dụng vào việc hướng dẫn hỗ trợ kết hôn để kiếm lời từ khách hàng có nhu cầu.

nghiêm trọng hơn là hành vi buôn bán phụ nữ, lừa đảo ẩn sau việc đăng ký kết hơn là dấu

hiện vi phạm pháp luật hình sự.

Để khắc phục những hiện tượng tiêu cực đang diễn ra hiện nay và áp dụng nội dung

của quy định pháp luật về hỗ trợ kết hơn thì trước hết cần thay đổi hai khái niệm môi giới

và tư vấn có nội hàm khơng trùng khớp với nhau. Tư vấn chỉ mức độ đưa thơng tin còn

mơi giới có thể tham gia làm trung gian.

Theo tôi trong quản lý nhà nước đối với vấn đề kết hơn có yếu tố nước ngồi chưa có

sự ổn định và chặt chẽ thì đối với hoạt động môi giới kết hôn nên bãi bỏ. Ở đây cần tập

trung vào xây dựng các trung tâm Tư vấn hỗ trợ kết hơn. Do tính chất của cơng việc này

khơng đòi hỏi khả năng hay trình độ chuyên sâu mà chủ yếu là hướng dẫn trợ giúp những

thơng tin cần thiết cho những người có nhu cầu kết hơn.

Để thực hiện có hiệu quả Hội Liên Hiệp Phụ nữ cần xem xét để có sự phối hợp trợ

giúp từ các cơ quan nhà nước có chức năng liên quan như cơ quan Tư pháp, cơ quan

Ngoại vụ, Đồn Thanh niên, Trung tâm văn hóa thơng tin…Tổ chức nhiều hình thức như:

Lớp học về văn hóa nước ngồi, về phong tục các nước đặt biệt là ngơn ngữ. Hỗ trợ về

kiền thức pháp luật cho các cá nhân có nguyện vọng kết hơn thơng qua các buổi sinh

hoạt, phổ biến, các cuộc thi…



-39-



CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ

NƯỚC NGỒI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP



Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn đến những đối tượng là phụ nữ. Một trong những đối

tượng chịu hậu quả từ môi giới bất hợp pháp, ảnh hưởng đến dư luận, nhân phẩm và cuộc

sống của họ.

3.5. Ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia trên thế giới

Đây là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài nhưng rất cần thiết trong lĩnh vực pháp

luật. Hoạt động tương trợ tư pháp giữ vai trò quan trọng trong tình hình đang có nhiều

biến động như hiện nay, đặc biệt là khi Tòa án và các cơ quan Nhà nước giải quyết các sự

việc phát sinh có u tố nước ngồi, trong đó có vấn đề kết hơn. Chủ yếu các hoạt động

này là do các cơ quan Tư pháp của quốc gia thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ lẫn nhau

trên nhiều lĩnh vực. Trong kết hơn có yếu tố nước ngồi thơng qua việc đăng ký kết hơn

các Hiệp định trong tương trợ tư pháp giữa các quốc gia sẽ giải quyết được nhiều vấn đề

đang tồn tại bất cập. Cụ thể là xem xét tính hợp pháp của hơn nhân, điều kiện kết hơn của

các chủ thể có đáp ứng được hay không, cũng như việc theo dõi cuộc sống sau hơn nhân.

Vì đối tượng trong quan hệ này thường tồn tại trên những khu vực lãnh thổ khác nhau.

Đa số các vấn đề tiêu cực này nảy sinh sau khi kết hôn, quyền và nghĩa vụ của các bên

bị xâm phạm, đặc biệt về phía người phụ nữ. Qua nghiên cứu xã hội về cuộc sống của

cặp nam nữ sau khi kết hơn có yếu tố nước ngồi phần lớn đều thiếu hạnh phúc và có khả

năng dẫn đến ly hơn. Trong đó người phụ nữ bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm mà

khơng có sự hỗ trợ từ phái pháp luật. Pháp luật nước sở tại cũng như pháp luật Việt Nam

vẫn chưa có cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người nước ngồi.



-40-



KẾT LUẬN

Gia đình là một tập hợp những con người có liên kết gắn bó với nhau về vật chất lẫn

tình cảm. Do đó, khi thiết lập quan hệ hơn nhân đặc biệt là quan hệ kết hơn có yếu tố

nước ngồi, một trong những mục tiêu quan trọng được xác định là phải xây dựng một

gia đình no ấm, hạnh phúc trên cơ sở tình u chân chính. Nhưng thực tế lại cho thấy các

hoạt động kết hơn có yếu tố nước ngoài đã và đang làm biến đổi những giá trị truyền

thống trong hôn nhân, làm ảnh hưởng đến lối sống và suy nghĩ của con người về gia đình.

Tình trạng kết hôn giữa công dân trong nước với người nước ngồi thường khơng dựa

trên tình u mà thay vào đó là mục đích kinh tế để đáp ứng như cầu cuộc sống, hơn nhân

khơng còn giữ được những giá trị như ban đầu mà bị thương mại hóa một cách rõ rệt, một

phần cũng do những nguyên nhân khách quan từ thực tế, nhưng chủ yếu vẫn phụ thuộc

vào nhận thức của con người.

Báo cáo này thực hiện dựa trên cơ sở tìm hiểu những quy định pháp luật hiện hành

thực trạng của việc áp dụng những quy định đó và từ đó đưa ra những giải pháp đối với

tồn tại trong tình hình kết hơn có yếu tố nước ngoài hiện nay. Mặc dù đây chưa hẳn là

những giải pháp hữu hiệu để giải quyết những khó khăn, vướng mắc đang tồn đọng

nhưng em hy vọng rằng với việc nghiên cứu và đưa ra những giải pháp, báo cáo này sẽ

góp phần hồn thiện, tạo ra những cơ sở nhất định cho việc xây dựng chiến lược lâu dài

trong việc kết hơn có u tố nước ngồi này. Bởi trên thực tế đây là vấn đề mang yếu tố

tâm lý tình cảm cần phải được tác động tích cực . Tuy nhiên phạm vi của báo cáo này chỉ

phản ánh ở một nội dung nhất định trong khi kết hơn có yếu tố nước ngồi hiện nay đang

bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan bên ngồi thì pháp luật với vai trò

là cơng cụ để nhà nước quản lý xã hội chính là chiếc chìa khóa để có những tác động tích

cực lên quan hệ này để đảm bảo cho trật tự và ổn định xã hội nhằm tiến tới một xã hội

văn minh, lành mạnh.



-41-



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Danh mục văn bản pháp luật

1.1. Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.

1.2. Quốc hội (2014), Luật Hơn nhân và Gia đình (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.

1.3. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

1.4. Quốc hội (2015), Luật hộ tịch, Hà Nội.

1.5. Chính phủ (2015), Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn

thi hành Luật hộ tịch 2015 và điều chỉnh một số điều của Nghị định 126/2014/NĐ-CP về

quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi, Hà Nội.

1.6. Bộ Tư pháp (2010) Báo cáo tổng kết công tác tư pháp từ năm 2007 đến năm 2010,

Hà Nội.

1.7. Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo số 153/BC-BTP ngày 15/7/2013 về Tổng kết thi hành

Luật hơn nhân và gia đình năm 2013, Hà Nội.

2. Danh mục tài liệu tham khảo

2.1. Bộ Tư pháp (2006) Bình luận khoa học luật hơn nhân và gia đình Việt Nam 2010,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2.2. Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb

Cơng an nhân dân, Hà Nội.

2.3. Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

2.4. Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh ( 2010), Giáo trình Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2.5. Huỳnh Thị Bé (2011), Vài suy nghĩ về việc kết hơn có yếu tố nước ngồi,

(www.tiengiang.gov.vn.)

2.6. Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình Việt

Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.7. Nguyễn Thị Hương (2006), Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngồi tại Việt Nam

- thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội .

2.8. Nguyễn Huệ Nguyệt (2010), Thực trạng và vướng mắc về hôn nhân có yếu tố nước

ngồi tại thành phố Hồ Chí Minh, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/5.

2.9. Nơng Quốc Bình, Nguyễn Hồng Bắc (2006), Quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngồi ở Việt Nam trong thời kì hơi nhập quốc tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội.

2.10. Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Báo cáo tình hình kết hơn có yếu tố

nước ngồi tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm 2008, Thành phố Hồ Chí

Minh.



-42-



2.11. Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Thống kê tình

hình cơng dân Hàn Quốc kết hơn với cơng dân Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.



-43-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×