Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



động rõ rệt. Chính sự ảnh hưởng trực tiếp về tình hình này mà việc kết hôn với đã mở

rộng đối tượng chủ thể và ngày càng trở nên phổ biến.

Đa số các trường hợp kết hơn có yếu tố nước ngồi hiện nay các bên nam nữ đều nhằm

vào lợi ích kinh tế nhất định, đặc biệt là người phụ nữ Việt nam. Khi đất nước bước sang

cơ chế thị trường, xóa bỏ bao cấp, hàng loạt những thay đổi trong chính sách của nhà

nước tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, hợp tác giao lưu với

nhiều quốc gia trên thế giới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa… Tuy nhiên mặt trái của

nên kinh tế thị trường đã có những ảnh hưởng nhất định đến lối sống của người dân Việt

Nam, đua đòi chạy theo những mục tiêu thực dụng, xem thường những giá trị đạo đức

truyền thống. Cụ thể các tình trạng này được minh họa rõ nét trong việc kết hôn, một

quyền cơ bản của con người. Kết hôn ngày nay được thương mại hóa một cách rõ rệt, nó

được hình thành trên cơ sở chiếm hữu một tỉ lệ rất yếu, kết hơn để đạt lợi ích kinh tế

trước mắt, hạnh phúc gia đình được đem ra mua bán trao đổi bằng khoản tiền. phổ biến là

người phụ nữ do hoàn cảnh gia đình khó khăn, muốn thay đổi cuộc sống bằng việc kết

hơn với người nước ngồi, họ sẵn sàng, bất chấp tất cả chấp nhận cuộc hôn nhân này dù

không có tình u hay chênh lệch tuổi tác hay kết hôn với người bị dị tật.

2.1.2. Xuất phát từ nhận thức của các chủ thể kết hôn

Do nhu cầu của cuộc sống ngày càng cao, người dân giờ đây luôn đòi hỏi phải có một

cuộc sống mà ở đó các nhu cầu của họ được thõa mãn. Có nhiều cách thức để đạt được

mục đích đó, và một trong những phương pháp nhanh nhất đó là kết hơn với người nước

ngoài. Những đối tượng trên chủ yếu là sinh sống tại các đơ thị lớn trong cả nước, nhưng

phần còn lại không phải là ở các tỉnh thành lân cận các thành phố lớn mà là một bộ phận

dân cư sống ở cùng nông thôn, miền núi. Những người này có cuộc sống khó khăn và

trình độ nhận thức còn hạn chế. Tuy nhiên, đây lại là đối tượng kết hơn với người nước

ngồi khá nhiều trên thực tế.

Cả hai nhóm chủ thế trên tuy ở những hồn cảnh điều kiện sống khác nhau, nhưng khi

kết hôn với người nước ngồi thì phần lớn đều nhằm một mục đích đó là đáp ứng nhu cầu



-25-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



cá nhân.Ví dụ, kết hơn là để được ra nước ngồi; kết hơn theo sự áp đặt của cha mẹ, gia

đình; kết hơn theo phòng trào để tránh bị coi thường bởi người xung quanh; thậm chí kết

hơn chỉ vì muốn một lần được đi máy bay…Điều này dẫn đến thực trạng là hôn nhân

hiện nay bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau của cuộc sống và không được xây dựng

trên cơ sở tình u chân chính

2.1.3. Kết hơn dưới tác động của hoạt động môi giới

Sự hoạt động mạnh mẽ của việc mua giới bất hợp pháp trong thời gian gần đây là một

trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng tiêu cực đến kết hơn có u tố nước ngoài hiện

nay. Về bản chất hoạt động này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các bên nam nữ

trong và ngồi nước tìm hiểu tiếp xúc lẫn nhau. Chỉ riêng hoạt động này đã làm tăng đáng

kể các trương hợp kết hơn có yếu tố nước ngồi trên thực tế.

Hoạt động môi giới đang phát triển ngày càng mạnh mẽ. Một số cá nhân là tổ chức đã

lợi dụng việc mơi giới để kiếm lợi bằng chính thủ đoạn gian dối nhưng về hình thức lại là

hợp pháp. Điều này đã đưa đến hậu quả sau hôn nhân đã làm ảnh hưởng đến các bên

trong quan hệ đặc biệt là người phụ nữ.

Nhìn nhận vấn đề một cách tích cực thì chúng ta có thể thấy mơi giới có thể dẫn đến

hạnh phúc gia đình nếu các bên đến với nhau bằng tình u chân chính và vì mục đích tốt

đẹp của hơn nhân. Nhưng đó chỉ là thiểu số, thực tế cho thấy phần đông các cặp vợ chồng

chung sống với nhau thông qua hoạt động mơi giới chỉ trong thời gian ngắn và sau đó ly

hơn, nền tảng của gia đình khơng đươc đảm bảo.

2.1.4. Về mặt pháp lý

Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngồi trên cơ sở những phát

sinh thay đổi từ thực tế cuộc sống. Đây không chỉ đơn thuần mang tính chất nội bộ của

vùng miền mà có liên quan đến vấn đề quốc gia dân tộc, mối quan hệ giữa Việt Nam với

các nước trên thế giới nhà nước đã xây dựng hành lang pháp lý cụ thể cũng là nguyên

nhân thúc đẩy và làm phát sinh tình trạng kết hơn có tính chất nước ngoài. Bởi pháp luật



-26-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



được đặt ra không chỉ là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội mà còn là một trong những

biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơng dân tại quốc gia đó.

Tại thời điểm này cơ sở pháp lý của hơn nhân có u tố nước ngoài được ghi nhận cụ

thể trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như tại Nghị định số 126/2014/NĐ-CP được sửa

đổi bổ sung bởi Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Về mặt nội dung các văn

bản này đã được nhà làm luật xây dựng trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, ghi nhận

những thay đổi của tình hình xã hội để điều chỉnh phù hợp đối với quan hệ hơn nhân có

yếu tố nước ngồi. Tuy nhiên, những thay đổi không đầy đủ, không giải quyết được

những vướng mắc còn tồn tại trong quy định pháp luật về quan hệ kết hơn có yếu tố có

yếu tố nước ngoài. Điều này lại là vấn đề gây ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân

cũng như các chính sách của nhà nước, do tính chất biến đổi khơng ngừng của các hiện

tượng trong xã hội làm cho một số cá nhân đã không tuân thủ quy định của pháp luật về

kết hôn, đi ngược lại với tinh thần chung của pháp Luật HN&GĐ .

Tóm lại, việc kết hơn có yếu tố nước ngoài là một hiện tượng xã hội hình thành như

một lẽ đương nhiên theo sự phát triển của xã hội. Sự hội nhập kinh tế quốc tế, giao thoa

văn hóa.. giúp cho con người được tiếp xúc với nhau, được tìm hiểu nhau. Nhưng cũng

chính sự tác động của những nguyên nhân này đã làm nảy sinh những khó khăn trong

hoạt động kết hơn và cần phải được khắc phục và giải quyết kịp thời.

2.2. Tình hình kết hơn có yếu tố nước ngồi trong những năm gần đây

Theo dữ liệu thống kê cho thấy, những năm gần đây, số lượng công dân Việt Nam kết

hôn với người nước ngồi có số lượng ổn định. Theo số liệu thống kê tại các Sở Tư pháp

trong Khu vực, từ năm 2011 đến 2014, hàng năm có trên 9.000 trường hợp đăng ký kết

hôn tại Sở Tư pháp chiếm khoảng 75% so với cả nước và bình quân 3.000 trường hợp ghi

chú kết hôn/năm. Tuy số lượng kết hôn năm sau ln cao hơn năm trước nhưng khơng có

sự gia tăng đột biến. Trong đó, chủ yếu là nữ công dân Việt Nam tham gia trong quan hệ

kết hôn với người nước ngoài (chiếm khoảng 95%), chủ yếu tập trung các tỉnh phía Nam

ở TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.



-27-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



“Tại các tỉnh phía Bắc, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

chủ yếu là ở các tỉnh giáp với Trung Quốc, như Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai

Châu, Lào Cai… và đa số đều không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

hoặc Trung Quốc”7

Ngồi ra, cơng dân Việt Nam kết hôn với công dân Hoa Kỳ (bao gồm cả người Việt

Nam định cư tại Hoa Kỳ), Trung Quốc (Đài Loan) tại Sở Tư pháp chiếm đa số, còn ghi

chú kết hơn đa phần lại tập trung ở việc kết hôn với công dân Hàn Quốc, Singapore, ....

do luật pháp của nước sở tại thơng thống trong việc đăng ký kết hơn. Điều này cho thấy

tình chất phức tạp của vấn đề này và cần phải có biện pháp cụ thể để giải quyết.

Xét về tính chất địa lý, các tỉnh Miền Đông Nam Bộ là khu vực có nhưng thuận lợi

về mặt địa lý cũng như tình hình kinh tế xã hội ổn định trong cả nước, mức sống người

dân cơ bản được đảm bảo thông qua các chính sách được hỗ trợ từ phía nhà nước cũng

như bằng sự nổ lực của cá nhân. Hơn nữa, do những ảnh hưởng từ trình độ đơ thị hóa mà

hiện nay số lượng người đăng kí kết hơn có liên quan đến yếu tố nước ngồi đã thay đổi

đáng kể.

Trong đó:

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: So với cả nước thì thành phố Hồ Chí Minh là địa

phương có số lượng kết hơn với người nước ngồi cao nhất. Về trường hợp phụ nữ Việt

Nam lấy chồng là cơng dân Trung Quốc (Đài Loan) có khoảng 13.000 trường hợp. Tuy

nhiên từ năm 2003 đến nay thì giảm dần, tỷ lệ giảm mỗi năm từ 30 đến 40 %

Tại An Giang: Tính từ 2008 đến nay có gần 2.000 trường hợp kết hơn có yếu tố nước

ngồi, trong đó tỷ lệ kết hôn với Người Đài Loan chiếm 25%, Hàn quốc chiếm gần 15%,

Mỹ chiếm 40%. Đặc biệt, tỷ lệ kết hôn năm sau cao hơn năm trước ( Năm 2010 là 290

trường hợp, Năm 2011 là 308, Năm 2012 là 371 và 6 tháng năm 213 là 208). Trong đó, tỷ

lệ kết hơn với Người Đài Loan hàng năm vẫn tăng trên 10%. Riêng tỷ lệ kết hôn với

Người Hàn Quốc tăng nhanh từ năm 2011 đến nay ( Năm 2012 là 85 trường hợp, tăng

229% so với năm 2011; năm 2013 dự kiến tăng từ 350 – 370% so với năm 2011). Lý do

7 Xem: http://www.thanhnien.com.vn/doi-song/18000-cong-dan-viet-nam-ket-hon-voi-nguoi-nuoc-ngoai-moi-nam438073.html



-28-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



có sự chuyển dịch này là thủ tục kết hôn của Hàn Quốc khá đơn giản, thậm chí khi kết

hơn khơng cần có mặt cơ dâu.

Tại Long An:

Năm



2001



2002



2003



61



83



90



2004



2005



2006



2007



2008



2009



115



150



173



185



199



190



Số

trườn

g hợp

Bảng 1.Thống kê số lượng phụ nữ Long An kết hôn với người Đài Loan từ năm 2001

đến năm 2009

Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan đã trở thành mối quan tâm

khơng của chính nhân dân trong tỉnh mà còn là cả nước. Số lượng người nước ngồi nhất

là người Đài Loan có nhu cầu đến Việt Nam kết hôn ngày càng tăng. Cùng với đó là xu

hướng gả con cho người nước ngồi vì mục đích kinh tế trước mắt đang tăng lên một

cách đáng kể.

Qua phân tích số liệu cho thấy tình hình phụ nữ Việt Nam kết hơn với người nước

ngồi tại một số tỉnh thành đang là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội. Mặc dù tình trạng

này xảy ra là do nhiều nguyên nhân nhưng không thể phủ nhận những tồn tại đang diễn ra

hiện nay.

2.3. Thực trạng của việc đăng kí kết hơn có yếu tố nước ngồi

2.3.1. Sự hạn chế về trình độ

Theo tổng kết của vụ Hành chính Tư pháp, khi giải quyết việc kết hơn có yếu tốn nước

ngồi, cán bộ Hộ tịch của các sở tư pháp có rất nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc

áp dụng các quy định không thống nhất. Cùng một việc, nhưng địa phương này giải

quyết dễ dàng, địa phương khác lại gây khó khăn, thậm chí khơng giải quyết, dẫn đến

bức xúc trong dư luận. Chính vì vậy, đã có trường hợp, đương sự phải làm động tác



-29-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



chuyển khẩu từ địa phương này đến sang địa phương khác mới được công nhận việc kết

hôn.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì từ ngày 1-1-2016 khi Luật Hộ Tịch và Nghị

định 123/2015/NĐ-CP có hiệu lực thì biện pháp phỏng vấn trong thủ tục đăng ký kết hôn

được coi như “rào cản pháp lý” nhằm góp phần lành mạnh hố quan hệ hơn nhân có yếu

tố nước ngồi và bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ kết hôn được quy định trước

kia đã bị bãi bỏ. Được coi là “rào cản pháp lý” làm lành mạnh hóa quan hệ hơn nhân có

yếu tố nước ngồi nhưng tại sao nó lại bị bãi bỏ. Để chứng minh việc này thì chúng ta sẽ

đi từ thực tế triển khai quy định này. Thời gian qua biện pháp phỏng vấn chưa đem lại

hiệu quả thiết thực, còn mang tính hình thức; trình độ năng lực của công chức làm công

tác hộ tịch chưa đáp ứng yêu cầu. Thực tế cho thấy một số cán bộ hộ tịch lại không cập

nhật kịp thời những quy định mới, thậm chí khơng nghiên cứu kĩ những quy định hiện

hành nên đã dẫn đến việc gây phiền hà cho các bên kết hơn. Nhiều khi, chính người đi

làm thực tục đăng kí kết hơn lại hiểu luật hơn cán bộ giải quyết việc đăng kí kết hơn.

Nhưng vì tâm lý “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, nên họ vẫn phải đáp ứng đủ các giấy tờ

mà cán bộ yêu cầu, dù biết rõ mười mươi rằng pháp luật khơng có quy định nào u cầu

như vậy. Ngoài ra, ở một số địa phương, thủ tục phỏng vấn đã vơ tình tạo cơ hội cho cơng

chức gây phiền hà đối với người dân, phát sinh tiêu cực.

Nhưng quy định bãi bỏ luôn thủ tục phỏng vấn, và chuyển thẩm quyền đăng kí kết hơn

cho cơ quan có thẩm quyền cấp huyện theo quy định của Luật Hộ Tịch và Nghị định

123/2015/NĐ-CP có hồn tồn hợp lý. Theo em ngại việc bỏ ngay thủ tục phỏng vấn khi

giải quyết u cầu đăng ký kết hơn có yếu tố nước ngoài sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy.

Thứ nhất, khi chuyển thẩm quyền này cho UBND cấp huyện mặc dù cho là để dễ dàng

hơn cho người dân trong việc đăng kí kết hơn do tình trạng kết hơn với người nước ngoài

đã quá phổ biến nhưng khi chuyển thẩm quyền về cho cấp huyện như vậy thì các cán bộ

hộ tịch có thể đáp ứng được yêu cầu về trình độ, năng lực để giải quyết vấn đề trên hay

chỉ làm cho qua loa đại khái. Đây vẫn đang là một vấn đề bỏ ngỏ cần phải giải quyết.



-30-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



Thứ hai, việc bỏ đi thủ tục phỏng vấn có nên hay khơng khi mà thủ tục phỏng vấn vốn

được coi là “rào cản pháp lý” mạnh mẽ để làm lành mạnh hóa quan hệ hơn nhân có yếu

tố nước ngồi từ trước đến nay. Mặc dù nó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu là “ rào cản

pháp lý” để làm lành mạnh hóa quan hệ này nhưng theo em, thủ tục phóng vấn vẫn rất

quan trọng trong việc giải quyết việc kết hơn có yếu tố nước ngồi trong tình hình hiện

nay. Bởi vì nó là một bước quan trọng để các bên có thể tìm hiểu lẫn nhau, thơng qua sự

đánh giá khách quan của người tiến hành phỏng vấn để chấp nhận hay khơng việc đăng kí

kết hơn tránh được những hậu quả sau này xảy ra như kết hôn trái pháp luật, kết hơn vì

mục đích vụ lợi... Những năm gần đây những phương tiện truyền thông đại chúng liên

tục phản ảnh khơng ít trường hợp các cơ gái Việt Nam lấy chồng ngoại nhưng cuộc sống

hôn nhân không hạnh phúc. Họ bị đối xử bất công, bị đánh đập, thậm chí có nhiều người

đã chết, có thể do tự tử hoặc trước sự đánh đập tàn nhẫn của người chồng. Điển hình gần

đây nhất là trường hợp cơ dâu Đỗ Thị Mĩ Tiên bị chồng người Hàn Quốc sát hại, ném xác

xuống núi8. Đây là trường hợp điền hình cho thấy việc kết hôn thông qua mai mối do họ

không hiểu nhau cả về ngôn ngữ và lối sống. Đặc biệt là phương diện tình cảm họ khơng

thấu hiểu được tâm lí mong muốn của nhau. Mặc dù đây là một trong những sai sót mang

lại hệ lụy cay đắng cho cô gái người Việt nhưng thiết nghĩ rằng nếu các cán bộ phỏng vấn

nghiêm túc hơn, tìm hiểu một cách cặn kẽ, làm việc cơng minh hơn thì đã khơng có

trường hợp này xảy ra. Theo đánh giá của em thủ tục phỏng vấn vẫn cần được áp dụng

hay nói cách khác “ Nó đã tàn nhưng chưa phế” vẫn còn cách để nó phát huy đúng như là

cơng cụ để làm lành mạnh hóa việc kết hơn có yếu tố nước ngoài.

2.3.2. Hoạt động mạnh mẽ của các tổ chức môi giới

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nước ta mở rộng giao lưu

về nhiều mặt với các nước, người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống lâu dài ngày cành

nhiều, bà con Việt kiều về nước thăm người thân, học hành, đầu tư kinh doanh đông hơn,

xét theo số lượng kết hơn có yếu tố nước ngồi cũng ngày càng tăng. Trong khi đó, pháp

luật về hơn nhân và gia đình còn nhiều sơ hở; quy định về cơng nhận và ghi chú việc kết

8 Xem: www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/vu-co-dau-viet-chet-o-han-quoc-no-moi-vua-roi-khoi-nha-da-xay-rachuyen-442982.html



-31-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



hơn đã tiến hành ở nước ngồi còn lỏng lẻo, chưa cụ thể; thủ tục ghi chú khá đơn giản.

Đương sự chỉ cần xuất trình giấy tờ hộ tịch đã đăng kí hợp lệ tại cơ quan có thẩm quyền

của nước ngồi thì được cơng nhận và ghi chú vào sổ hộ tịch (tức là cơng nhận giá trị

pháp lí giấy tờ hộ tịch đó tại Việt Nam). Trong khi đó, pháp luật về hơn nhân gia đình của

nhiều nước rất thống. Ví dụ như quy định tại Hàn Quốc: Khi người đàn ông Hàn Quốc

muốn kết hôn với phụ nữ Việt nam, họ yêu cầu phía nữ gửi giấy xác nhận độc thân, bản

sao khai sinh, chứng minh nhân dân để kê khai việc kết hôn và nhập tên vào sổ hộ khẩu

gia đình người chồng tại Hàn Quốc. Sau đó, họ tiếp tục đến lãnh sự quán Hàn Quốc tại

Tp.Hồ Chí Minh để được cấp giấy chứng nhận không cản trở việc kết hôn theo luật pháp

Hàn Quốc và đến Sở Tư Pháp làm thủ tục ghi chú. Điều đáng nói là suốt q trình đó

người phụ nữ Việt Nam vẫn chưa từng đến Hàn Quốc, mọi thủ tục tại Hàn Quốc do bên

nam thực hiện.

Phần lớn các cô gái lấy chồng Đào Loan, Hàn Quốc hiện nay đều xuất thân từ những

gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa, khơng có việc làm và thu nhập ổn định. Hầu hết có

trình độ học vấn thấp, khơng có điều kiện tiếp cận thông tin, càng không am hiểu pháp

luật. Lợi dụng điều đó, nhiều tổ chức, cá nhân hoạt đồng môi giới kết hôn nhằm trục lợi

đã ráo riết khai thác, đối tượng chính mà bọn chúng nhằm vào là phụ nữ nghèo vùng sâu.

Một số trường hợp phụ nữ lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc và đã theo chồng định cư ở

nước ngồi và may mắn có được cuộc sống ổn định, có việc làm, sau đó lại đưa người

nước ngoài về nước về giới thiệu mai mối cho chị em, họ hàng và cứ thế ngày càng nhân

rộng… Một bộ phận phụ nữ nông thôn ảnh hưởng lối sống thực dụng, đua đòi chạy theo

xu hướng lấy chồng nước ngoài với hy vọng “đổi đời” đã dễ dàng chấp nhận sự mai mối

để lấy chồng ngoại quốc.

2.3.3. Khó khăn khi áp dụng pháp luật Hơn nhân Gia đình

Theo quy định của Luật HN&GĐ 2014, thì điều kiện kiện kết hơn (Điều 8 và Điều 9)

chính là các quy định mang tính pháp lý bắt buộc mà Nhà nước đặt ra cho các bên nam,



-32-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



nữ khi kết hơn phải tn thủ. Muốn xác lập một hơn nhân hợp pháp thì đòi hỏi phải có sự

thừa nhận của Nhà nước tức là phải đăng kí kết hơn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng điều kiện kết hơn, ta gặp khơng ít những khó khăn:



 Trường hợp pháp luật của hai bên đăng kí kết hơn có sự tương đồng về điều kiện

kết hơn

Thực tế công tác tư pháp ở các Sở Tư pháp trước đây và Phòng Tư pháp hiện nay cho

thấy khi giải quyết đăng kí kết hơn có yếu tố nước ngồi thì: nếu trường hợp pháp luật

của hai bên có sự tương đồng về điều kiện kết hơn thì khi giải quyết cho hai bên đăng kí

tại cơ quan Tư pháp khơng gặp bất kì sự khó khăn và vướng mắc nào khi giải quyết cho

đăng kí kết hơn. Sau khi nhận hồ sơ thì lúc đó Phòng Tư pháp mới xem xét đến phần các

bên có điều kiện đăng kí kết hôn hay không. Thông thường khi các bên đến nộp hồ sơ thì

họ hầu như đã chuẩn bị đầy đủ cà phù hợp với các điều kiện kết hôn theo quy định của

Pháp luật Việt Nam.

Điều đáng nói ở đây là trường hợp khi Phòng tư pháp nhận hồ sơ của các bên kết hôn

mà phát hiện pháp luật hai nước của hai bên kết hơn có sự khác biệt về điều kiện kết hôn,

tức là pháp luật hai nước có sự xung đột về điều kiện kết hơn. Đối với trường hợp này

Phòng Tư Pháp sẽ tiến hành trả hồ sơ đăng kí kết hơn của các bên và khơng chấp nhận

cho đăng kí kết hơn. Vì vậy đối với trường hợp này, rõ ràng pháp luật hai nước của hai

bên kết hơn có sự khác biệt về điều kiện kết hơn thì làm sao có thể tiến hành cho đăng kí

kết hơn được. Điều này được xem là vướng mắc khi áp dụng điều kiện kết hôn khi tiến

hành cho hai bên kết hôn nên hầu như mọi trường hợp đều từ chối cho đăng kí kết hôn.

Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ giấy tờ hợp lệ của các bên kết hơn, Phòng tư pháp sẽ xem

xét nếu thấy hai bên kết hôn không vi phạm điều kiện kết hơn thì Phòng Tư pháp sẽ chấp

nhận cho hai bên đăng kí kết hơn. Tuy nhiên, thực tế của việc kết hôn này dù phù hợp với

các điều kiện kết hôn do hai nước đặt ra nhưng không phải trường hợp trường hợp kết

hôn nào cũng dựa trên tình u chân chính và với mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc.



-33-



CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI



 Trường hợp pháp luật hai nước của hai bên kết hơn có sự mâu thuẫn về điều

kiện kết hơn.

Ta thấy rằng một khi quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngoài phát sinh thường làm

phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật. Xung đột pháp luật được thể hiện trong các quan

hệ về kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đặc biệt là các quyền về tài

sản, quyền và nghĩa vụ giưa cha mẹ và con gái và cuối cùng là các quan hệ về nuôi con

nuôi, giám hộ. Theo nguyên tắc chung, xung đột pháp luật trong lĩnh vực này được giải

quyết bằng cách ký các điều ước quốc tế hoặc xây dựng quy phạm xung đột trong pháp

luật quốc gia

Trong phạm vi báo có tơi xin phân tích trường hợp pháp luật hai nước có sự mâu thuẫn

về điều kiện kết hơn trong đó khơng tồn tại bất kì một Hiệp định tương trợ tư pháp nào để

giải quyết xung đột về điều kiện kết hôn.

Thực tế tại các Sở Tư Pháp các tỉnh trước đây trong quá trình tiếp nhận hồ sơ đăng kí

kết hơn. Thơng thường khi xác định pháp luật hai nước của hai bên kết hơn có xung đột

pháp luật về điều kiện kết hơn thì Cán bộ Sở Tư pháp sẽ trả hồ sơ đăng kí và khơng chấp

nhận cho đăng kí kết hơn.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 126, Luật HN&GĐ năm 2014 thì trong việc kết hơn

có yếu tố nước ngồi, mỗi bên phải tuân theo Pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn;

nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì

người nước ngồi còn phải tn theo quy đinh tại Điều 8, Điều 9 Luật HN&GĐ Việt

Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp kết hơn.

Như vậy,khi kết hơn có yếu tố nước ngoài phải tuân thủ theo quy định của pháp luật

của nước mà người đó là cơng dân về điều kiện kết hôn

Mặc dù đã thay đổi, tuy nhiên Luật HN&GĐ 2014 cũng không thay đổi nội dung

trên . Nhược điểm của quy định này là sẽ dẫn đến cách hiểu: Nếu họ đạt điều kiện kết hôn

theo pháp luật nước họ, nhưng không đạt điều kiện kết hơn theo pháp luật của nước họ thì

họ cũng khơng được đăng kí kết hơn. Trường hợp này phía cơng dân nước ngồi phải xin

đăng kí ở nước họ hoặc nước thứ ba.



-34-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×