Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 1: VAI TRÒ CƠ QUAN CÔNG TỐ MỸ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỸ

PHẦN 1: VAI TRÒ CƠ QUAN CÔNG TỐ MỸ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỸ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cơ quan công tố Hoa kỳ thuộc hệ thống cơ quan hành pháp. Cơng tố viên là

thành viên nhóm hành pháp. Tất cả các công tố viên của Hoa Kỳ đều thuộc Bộ

tư pháp. Liên bang Hoa Kỳ chia thành 93 khu vực tư pháp hình sự. Mỗi khu vực

tư pháp hình sự có một văn phòng cơng tố liên bang để thực hiện việc truy tố tội

phạm hình sự trước tòa án liên bang thuộc khu vực tư pháp đó. Cùng với văn

phòng cơng tố liên bang đặt tại Bộ tư pháp, hệ thống công tố liên bang Mỹ gồm

93 văn phòng cơng tố liên bang đặt tại các khu vực tư pháp hình sự liên bang.

Đứng đầu cơ quan công tố liên bang Hoa Kỳ là Tổng chưởng lý liên bang

cũng đồng thời là người đứng đầu Bộ tư pháp Hoa Kỳ ( là một bộ cấp nội các

trong Chính phủ liên bang Hoa Kỳ).

2. Mối quan hệ giữa cơ quan công tố với cơ quan điều tra, Tòa án.

2.1. Mối quan hệ giữa cơ quan cơng tố và cơ quan điều tra.

Cơ quan công tố Hoa Kỳ thực hiện việc truy tố tội phạm liên bang do các cơ

quan điều tra của liên bang chuyển đến. Các điều tra viên liên bang có quyền

khởi xướng điều tra một vụ án hình sự dựa trên các quy định trong nội bộ cơ

quan mình. Khơng cần có sự phê chuẩn của trợ lý Chưởng lý, Công tố viên hoặc

các Chưởng lý liên bang đối với việc khởi tố một vụ án hình sự.

Trong quá trình điều tra: các trợ lý Chưởng lý, Công tố viên hoặc các

Chưởng lý liên bang khơng có quyền giám sát q trình điều tra hoặc phê chuẩn

bất cứ văn bản nào trong quá trình điều tra. Họ cũng khơng có quyền giám sát

hoạt động của những người đứng đầu cơ quan điều tra FBI, DEA hoặc ATF ở cả

cấp Bộ tư pháp và tại các khu vực tư pháp hình sự liên bang. Các điêu tra viên

khi điều tra có tồn quyền thu thập tất cả các bằng chứng liên quan tới vụ án và

họ không chịu sự giám sát hoặc chỉ đạo nào từ phía các cơ quan cơng tố hoặc

các Cơng tố viên. Tuy nhiên, tất cả những tài liệu, hồ sơ bằng chứng mà họ thu

thập được không mặc nhiên được coi là chứng cứ tại Tòa. Các bằng chứng này

chỉ được coi là chứng cứ tại Tòa khi Cơng tố viên đưa ra tại phiên tòa và được

Tòa án cơng nhận là chứng cứ khi thấy phù hợp với Luật về chứng cứ của Hoa

Kỳ. Vì vậy, Cơng tố viên Hoa Kỳ thường đóng vai trò như luật sư tư vấn cho cơ

2



quan cảnh sát trong việc xác định phương hướng điều tra, thu thập chứng cứ

theo đúng pháp luật…để đảm bảo việc sử dụng hiệu quả chứng cứ tại Tòa.

Chính vì thủ tục này mà cơ quan điều tra Hoa kỳ có một vị trí tương đối độc

lập và không bị giám sát chặt chẽ bởi cơ quan công tố trong quá trình điều tra,

Tuy nhiên, việc quyết định chứng cứ nào sẽ được sử dụng tại Tòa án và thẩm

quyền đưa chứng cứ ra trước Tòa án là một cơ chế hết sức điển hình thể hiện

nguyên tắc kiểm sát quyền lực giữa các cơ quan, một nguyên tắc được qui định

trong Hiến pháp Mỹ.

Ngoài ra, cơ quan cơng tố Hoa kỳ còn có một đặc quyền là “tùy nghi truy

tố”. Quyền này được hiểu là kể cả trong trường hợp vụ án đã có đầy đủ chứng

cứ nhưng Cơng tố viên vẫn có thể khơng truy tố tội phạm, đình chỉ vụ án vì lợi

ích cơng cộng. Đây là một đặc quyền duy nhất chỉ có cơ quan cơng tố mới có.3

2.2. Mối quan hệ giữa cơ quan cơng tố và Tòa án.

Về mối quan hệ giữa cơ quan cơng tố và Tòa án, có một ngun tắc cơ bản

đã được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa kỳ hơn 200 năm qua chi phối mối quan

hệ giữa 2 cơ quan này, đó là nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án. Theo đó,

khơng có một thiết chế nào, một cơ quan nào, trong đó có cả cơ quan cơng tố, có

thẩm quyền giám sát hoạt động của Tòa án. Tòa án xét xử độc lập và chỉ tn

theo pháp luật.

Các phiên tòa hình sự ở Mỹ được tổ chức theo ngun tắc tranh tụng. Theo

đó, Cơng tố viên và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo sẽ tranh luận, đưa

ra bằng chứng, thẩm tra nhân chứng tại Tòa. Bồi thẩm đồn sẽ quyết định người

đó có tội hay khơng có tội trên cơ sở chứng cứ và những luật giải của các bên.

Thẩm phán sẽ quyết định hình phạt hay tun vơ tội dựa trên quyết định của Bồi

thẩm đoàn và sẽ phải chịu trách nhiệm và quyết định đó trước pháp luật. Với

một mơ hình như vậy, có thể thấy cơ quan công tố không thực hiên bất kỳ sự

giám sát nào đối với hoạt động của Tòa án4.

3 Tập bài giảng Tư pháp hình sự so sánh , Trường đại học kiểm sát Hà Nội, tr 850

4 Tập bài giảng Tư pháp hình sự so sánh , Trường đại học kiểm sát Hà Nội, tr 84



3



II. Vai trò của cơ quan công tố Mỹ thể hiện qua các giai đoạn tố tụng

hình sự

1. Giai đoạn tiền xét xử

Trình tự, thủ tục tố tụng một vụ án hình sự ở Hoa Kỳ chia thành 11 bước

trong đó có 07 bước tiến hành ở giai đoạn tiền xét xử trước khi mở phiên tòa:

Trong giai đoạn điều tra, người thực hiện nhiệm vụ điều tra chính là điều tra

viên với sự tư vấn pháp lý của công tố viên. Việc điều tra sẽ tập trung vào 2

nhiệm vụ chính: xác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không và xác định

danh tính của người đã thực hiện hành vi phạm tội.

Hoạt động điều tra đầy đủ sẽ được kết thúc bằng: Một báo cáo từ chối nếu

khơng có đủ cơ sở để cho rằng đã có hành vi phạm tội và báo cáo này phải được

công tố viên xem xét, đồng ý. Một báo cáo truy tố khi nhân viên điều tra FBI

cho rằng có đủ căn có về hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và

đã được chuyển giao cho giám sát viên điều tra để được chuyển tới cho công tố

viên phục vụ việc truy tố.

Buộc tội: Sau khi công tố viên nhận hồ sơ và nghiên cứu tồn bộ vụ án, cơng

tố viên sẽ phải quyết định có buộc tội nghi phạm khơng? Nếu quyết định buộc

tội nghi phạm, công tố viên sẽ phải ban hành bản cáo trạng. Cáo trạng sẽ phải có

đủ thơng tin để người bị tình nghi biết được là mình bị buộc tội gì. Đồng thời

với việc buộc tội, cơng tố viên sẽ phải quyết định có đưa vụ án ra trước đại bồi

thẩm đồn hay khơng

Bồi thẩm đồn thường gồm 23 cơng dân được lựa chọn với thời gian hoạt

động là 18 tháng. Hoạt động của bồi thẩm đồn thường đặt dưới sự kiểm sốt

của cơng tố viên có nghĩa là Cơng tố viên là người quyết định các vụ án và nhân

chứng mà bồi thẩm đoàn nghe. Cơng tố viên có thẩm quyền ra lệnh triệu tập

thay mặt bồi thẩm đoàn để bắt buộc nhân chứng phải xuất hiện trước bồi thẩm

đoàn để khai báo hay cung cấp tài liệu, đồ vật. Khi nhân chứng khai báo trước

bồi thẩm đồn, chỉ có cơng tố viên và một nhân viên tòa án có mặt tại phòng làm

viêc cùng với bồi thẩm đồn. Điều tra viên khơng bao giờ được phép có mặt tại

4



phòng làm việc của bồi thẩm đoàn, trừ khi điều tra viên được mời đến với tư

cách là nhân chứng cho vụ án.

Đại bồi thẩm đồn sau khi lắng nghe ý kiến của cơng tố viên và nhân chúng

sẽ bỏ phiếu kín để xác định có đủ bằng chứng cho việc buộc tội.

Trong ngày bị bắt/bị buộc tội hoặc sau đó một ngày, nghi phạm sẽ được đưa

đến trình diện lần đầu tiên trước một thẩm phán tại Tòa án quận liên bang.

Để chuẩn bị cho phiên tòa, Cơng tố viên phải tiến hành rất nhiều việc trong

đó có các việc quan trọng như: nghiên cứu kĩ các tình tiết của vụ án; trò chuyện

với nhân chứng sẽ được triệu tập ra tòa; xem xét, đánh giá chứng cứ; dự kiến

những vấn đề sẽ nảy sinh tại Tòa và lập kế hoạch cho phiên tòa cũng như chuẩn

bị tranh tụng và lời buộc tội tại phiên tòa.

Một trong những thao tác quan trọng nhất của luật sư và công tố viên trong

giai đoạn này là trao đổi nhân chứng vụ án. Để tránh cho những điều bất thường

có thể xảy ra tại phiên tòa đồng thời để xác định nhân chứng nào sẽ được triệu

tập tại Tòa, thơng thường trong giai đoạn này, cơng tố viên sẽ trao đối với từng

nhân chứng về những nội dung mà họ có thể trình bày tại Tòa.

Theo quy định của tố tụng hình sự Hoa Kì, cơng tố viên phải cung cấp cho

nghi phạm bản sao của những tài liệu, chứng cứ mà công tố viên dự kiến sẽ sử

dụng tại phiên tòa. Đây là nghĩa vụ của công tố viên và nếu công tố viên không

thực hiện nghĩa vụ này thì sẽ bị Tòa án phạt. Cùng với nghĩa vụ này, nếu trong

quá trình thu thập chứng cứ, cơng tố viên có những bằng chứng chứng minh

nghi phạm vơ tội thì cơng tố viên có nghĩa vụ phải cung cấp bằng chứng đó cho

luật sư của nghi phạm. Nếu công tố viên không thực hiện nghĩa vụ này, phiên

tòa sẽ bị hủy và phải mở một phiên tòa khác.

-Tại phiên điều trần sơ bộ

Khi nghi phạm khơng nhận tội, vụ việc không được giải quyết bởi phiên tòa

mặc cả thú tội thì phiên điều trần sơ bộ sẽ được tiến hành. Công tố viên phải

cung cấp đủ bằng chứng để buộc tội nghi phạm. Đây là một thủ tục khơng bắt

buộc, nên nghi phạm có thể tham gia hoặc từ chối.

5



Phiên điều trần sơ bộ giống như một phiên tòa mini, tại đó cơng tố viên sẽ

triệu tập người làm chứng, trình chứng cứ và luật sư sẽ cùng hỏi nhân chứng,

kiểm tra chứng cứ.

- Kiến nghị trước phiên tòa

Ở bước cuối cùng cơng tố viên có thể thực hiện trước phiên tòa là đưa ra

những kiến nghị với Tòa án trước khi phiên tòa được tiến hành. Các kiến nghị

đó thường là:

Thứ nhất, kiến nghị hủy bỏ xét xử: là những kiến nghị yêu cầu thẩm phán

hủy bỏ việc xét xử trong trường hợp công tố viên cho rằng khơng có đủ chứng

cứ để kết tội hoặc khơng có đủ tình tiết của một vụ phạm tội.

Thứ hai, kiến nghị hủy bỏ chứng cứ: là những kiến nghị không coi một dữ

liệu thông tin thu thập được là chứng cứ theo nguyên tắc chứng cứ liên bang, ví

dụ nếu Điều tra viên cần tiến hành khám xét khơng có lý do chính đáng thì tất cả

những tài liệu, dấu vết… thu thập được trong quá trình khám xét đó sẽ khơng

được coi là chứng cứ.

Thứ ba, kiến nghị thay đổi địa điểm xét xử: là những kiến nghị thay đổi địa

điểm mở phiên tòa thường với mục đích bảo vệ quyền của nghi phạm.5

2. Giai đoạn xét xử

Sau một thời gian chuẩn bị, phiên tòa sẽ được mở. Tại phiên tòa, cơng tố

viên sẽ triệu tập nhân chứng, trình diện chứng cứ để chứng minh với bồi thẩm

đoàn nghi phạm là người đã thực hiện hành vi phạm tội.

Một công việc mà công tố viên phải thực hiện trước phiên tòa là lựa chọn

bồi thẩm đồn cho vụ án. Khi lựa chọn bồi thẩm đồn, cơng tố viên không được

tạo ra bất kỳ sự phân biệt, đối xử nào, ví dụ như thẩm phán sẽ khơng cho phép

họ chỉ lựa chọn bồi thẩm là nam hoặc nữ. Một bồi thẩm đồn phải có đủ đại diện

về giới tính, tơn giáo, tầng lớp, độ tuổi…

Tại phiên tòa, cơng tố viên và luật sư được phép trình bày ngắn gọn về nội

dung vụ án. Vì ngắn gọn nên phần trình bày này giống như là một phần tóm tắt

5 Tập bài giảng Tư pháp hình sự so sánh, Trường đại học kiểm sát Hà Nội



6



và thường không đề cập đến nhân chứng hoặc chứng cứ. Công tố viên sẽ là

người trình bày phần tóm tắt trước vì đây là đại diện cho chính phủ liên bang

thực hiện việc chứng minh người bị tình nghi đã thực hiện tội phạm.

Sau khi kết thúc phần mở đầu, công tố viên bắt đầu phần thẩm tra nhân

chứng đầu tiên nhằm chứng minh hành vi phạm tội. Việc thẩm tra này có thể kéo

dài trong vài phút hoặc trong một vài ngày. Trong q trình thẩm vấn, cơng tố

viên có thể đưa ra những chứng cứ như vũ khí hoặc bất kỳ chứng cứ nào thu

được từ hiện trường vụ án.

Sau khi luật sư thẩm vấn chéo nhân chứng, công tố viên sẽ hỏi nhân chứng

những câu hỏi cuối cùng để làm rõ những điểm còn nghi ngờ cho bồi thẩm đồn.

Thủ tục này gọi là thủ tục thẩm vấn đổi hướng. Trong suốt q trình thẩm vấn

hoặc thẩm vấn chéo cơng tố viên có thể đưa ra phản đối với một câu hỏi hoặc

một bằng chứng.

Khi quá trình thẩm vấn, thẩm vấn chéo, thẩm vấn đổi hướng tất cả các nhân

chứng kết thúc, công tố viên sẽ kết thúc phần nhiệm vụ của mình. Sau khi cơng

tố viên đã kết thúc phần nhiệm vụ của mình, khơng còn nhân chứng nào được

đưa ra trình diện với tư cách là nhân chứng cho chính quyền.

Cơng tố viên có trách nhiệm chứng minh bị cáo phạm tội trong bản cáo

trạng.

Như vậy, các phiên tòa hình sự ở Mỹ được tổ chức theo ngun tắc tranh

tụng. Theo đó, cơng tố viên và luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo sẽ tranh luận,

đưa ra bằng chứng, thẩm tra nhân chứng tại Tòa, vị trí của cơng tố viên và luật

sư là bình đẳng trước Tòa. Bồi thẩm sẽ quyết định người đó có tội hay khơng có

tội trên cơ sở chứng cứ và những luận giải của các bên. Thẩm phán sẽ quyết

định hình phạt hay tun vơ tội dựa trên quyết định của bồi thẩm đồn là người

đó có tội hay khơng có và sẽ phải chịu trách nhiệm về quyết định đó trước pháp

luật. Nếu được tun vơ tội, bị cáo sẽ được trả tự do ngay tại phiên Tòa và cơ

quan công tố không được quyền kháng nghị phúc thẩm bản án đã tun bị cáo

vơ tội, mà chỉ có quyền lưu ý Tòa án về chứng cứ, tài liệu có thể chứng minh

7



được sự phạm tội của bị cáo và những thơng tin gây nghi ngờ về tính đúng đắn ở

bản án. Với một mơ hình như vậy, có thể thấy rằng cơ quan công tố không thực

hiện bất kỳ sự giám sát nào đối với hoạt động của Tòa án.6

PHẦN 2: VAI TRỊ CỦA CƠ QUAN CƠNG TỐ ANH TRONG TỐ

TỤNG HÌNH SỰ ANH

I. Vị trí, chức năng của cơ quan công tố Anh và mối quan hệ với cơ

quan điều tra, Tòa án

1. Vị trí, chức năng của cơ quan cơng tố Anh.

Cơng tố Hồng gia Anh là cơ quan độc lập, thuộc nhánh hành pháp, thực

hiện chức năng truy tố tội phạm.

Đối với các quốc gia theo truyền thống án lệ như Anh, Mỹ, cơ quan công tố

chỉ thực hiện chức năng truy tố tội phạm. Hoạt động điều tra tội phạm hoàn toàn

do cảnh sát đảm nhiệm, cơ quan công tố không chỉ đạo điều tra. Trên cơ sở kết

quả điều tra của Cảnh sát chuyển đến, cơ quan công tố quyết định truy tố hay

không truy tố. Trường hợp nếu không đủ chứng cứ thì trả lại Cơ quan điều tra,

yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp thêm hồ sơ hoặc đình chỉ vụ án. Trong việc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, Điều tra viên sẽ

phải đề xuất với Công tố viên để Công tố viên đề nghị Tồ án quyết định. Nếu

thấy khơng có cơ sở, Cơng tố viên có thể từ chối đề nghị của cảnh sát về việc bắt

hay tạm giam.

2. Mối quan hệ giữa cơ quan công tố và cơ quan điều tra, Tòa án

2.1. Mối quan hệ giữa cơ quan cơng tố và cơ quan điều tra

Trong giai đoạn điều tra, hầu hết các vụ việc hình sự đều do cảnh sát đảm

trách. Cơ quan Cơng tố Hồng gia khơng có quyền kiểm tra công tác quản lý nội

bộ của cảnh sát cũng như không được can thiệp vào cách thức thực hiện chức

năng của họ. Cơ quan công tố Anh chỉ làm chức năng tư vấn, cơ quan này khơng

có quyền chỉ đạo việc điều tra của cảnh sát và cũng khơng có quyền chỉ thị cho

cảnh sát về thu thập chứng cứ. Cơ quan cơng tố chỉ có quyền hướng dẫn cho các

6 Tập bài giảng Tư pháp hình sự so sánh, Trường đại học kiểm sát Hà Nội

8



cảnh sát về các vấn đề pháp lý trong điều tra như tính liên quan, giá trị chứng

minh của chứng cứ và khả năng có thể chấp nhận được của chứng cứ đó được

thu thập. Ngồi ra cảnh sát có thể yêu cầu Công tố viên chỉ dẫn các vấn đề pháp

luật liên quan đến việc điều tra.

Nếu cảnh sát quyết định việc buộc tội, họ phải chuyển toàn bộ hồ sơ cho cơ

quan công tố. Tại đây, Công tố viên sẽ xem xét vụ án để quyết định có tiếp tục

truy tố hay đình chỉ. Sự tham gia của cơ quan cơng tố vào q trình điều tra là

khá mờ nhạt và gần như chỉ là cầu nối giữa cơ quan điều tra và Tòa án.

2.2. Mối quan hệ giữa cơ quan cơng tố và Tòa án

Cơ quan cơng tố Hồng gia Anh được chính thức thành lập và hoạt động vào

01/10/1986. Trong giai đoạn trước khi xét xử Cơ quan cơng tố Anh có vai trò

mờ nhạt. Chức năng chủ yếu là thực hiện hoạt động truy tố thông qua các nhiệm

vụ quyền hạn sau:

- Hướng dẫn Cảnh sát điều tra các vụ án. Để đảm hoạt động truy tố đạt được

hiệu quả, các chứng cứ thu thập được phù hượp với luật về chứng cứ, cơ quan

công tố sẽ tư vấn cho cơ quan cảnh sát về phương hướng điều tra, các chứng cứ

cần thu thập tuy nhiên cơ quan công tố không can thiệp vào cụ thể biện pháp

điều tra mà cảnh sát thưc hiện để đảm bảo tính độc lập.

- Xem xét lại các vụ án cảnh sát gửi để thực hiện việc truy tố

- Khi đã quyết định truy tố, cơ quan công tố chuẩn bị hồ sơ truy tố ra tòa và

trình bày bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa.

Nhìn chung chức năng chính của cơ quan cơng tố hồng gia Anh chủ yếu là

thực hiện việc truy tố, không can thiệp vào hoạt động điều tra của cảnh sát cũng

như đối với Tòa án. Do vậy, một lần nữa có thể khẳng định Cơ quan cơng tố

hồng gia Anh có vai trò như cầu nối giữa cơ quan điều tra Anh và Tòa án Anh.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 1: VAI TRÒ CƠ QUAN CÔNG TỐ MỸ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỸ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×