Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự.

Sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sự tham gia của Kiểm sát viên trong phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ

việc dân sự là vấn đề cũng được luật quy định một cách cụ thể, chi tiết. Có thể

thấy, các quy định như sau:

2.1.



Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên họp giải quyết việc dân sự

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 367 BLTTDS 2015: “Kiểm sát viên Viện



kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt

thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp”. Do việc dân sự chỉ do một Thẩm phán giải

quyết, trừ một số trường hợp đặc biệt nên để đảm bảo việc giải quyết việc dân sự

khách quan, đúng pháp luật, tránh sự lạm quyền của thẩm phán thì BLTTDS

2015 tiếp tục quy định sự tham gia của Kiểm sát viên cùng cấp tại phiên họp

này. Trước đây BLTTDS 2004 quy định trường hợp vắng Kiểm sát viên phải

hỗn phiên tòa, nhưng quy định này lại dẫn tới ảnh hưởng đến việc giải quyết

u cầu của đương sự, việc hỗn phiên tòa là không cần thiết nên BLTTDS 2015

đã sửa đổi theo hướng trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến

hành phiên họp nhằm khắc phục điểm chưa hợp lí trên.

2.2.



Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 232 BLTTDS 2015: “Kiểm sát viên được Viện



trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân cơng có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu

Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, khơng hỗn

phiên tòa. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa hoặc khơng thể

tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người

này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ

đầu”.

Xuất phát từ Khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015 nên Kiểm sát viên được

phân cơng có nhiệm vụ tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, để nâng cao tinh thần

trách nhiệm của Kiểm sát viên, hạn chế hỗn phiên tòa do Kiểm sát viên vắng

mặt, giảm chi phí cho người liên quan khi phải hỗn phiên tòa thì BLTTDS 2015

quy định việc Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử,

4



khơng hỗn phiên tòa. Đây là quy định mới thể hiện rõ việc tham gia phiên tòa

là trách nhiệm của Kiểm sát viên, không phải là quyền.

2.3.



Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 294 BLTTDS 2015: “Kiểm sát viên Viện kiểm sát



cùng cấp tham gia phiên tòa phúc thẩm” và Điều 296 BLTTDS 2015 quy định:

“Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội

đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, khơng hỗn phiên tòa, trừ trường hợp Viện

kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm”.

Nghĩa là, Kiểm sát viên được phân cơng phiên tòa phúc thẩm vắng mặt,

nếu vụ án khơng có kháng nghị của Viện kiểm sát thì HĐXX vẫn tiến hành xét

xử bình thường mà khơng hỗn phiên tòa, nếu có kháng nghị phúc thẩm của

Viện kiểm sát thì hỗn phiên tòa. Quy định này nhằm khắc phục hạn chế, khó

khăn cho Tòa phúc thẩm các đương sự và những người tham gia phiên tòa khi

Kiểm sát viên vắng mặt một cách cố tình. Đồng thời, đề cao trách nhiệm của

Kiểm sát viên trong việc tham gia giải quyết vụ án dân sự. Trong trường hợp có

kháng nghị của Viện kiểm sát thì phải đặt ra việc hỗn phiên tòa. Điều này là vì,

Kiểm sát viên của Viện kiểm sát cùng cấp bắt buộc phải có mặt để trình bày

kháng nghị, lập luận để bảo vệ kháng nghị, thực hiện quyền bổ sung, thay đổi và

rút kháng nghị tại tòa và tiến hành kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

2.4.



Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái

thẩm

Theo quy định tại Điều 338, 357 BLTTDS 2015: Phiên tòa giám đốc



thẩm, tái thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp.

Để đảm bảo cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát của mình

thơng qua việc tham gia phiên tòa, BLTTDS 2015 quy định phiên tòa giám đốc

thẩm, tái thẩm phải có mặt của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp bởi vì đây

là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mang tính phức tạp

trong q trình giải quyết, được thực hiện trên cơ sở quyền kháng nghị của Tòa

5



án, Viện kiểm sát cấp có thẩm quyền. Sự tham gia của Kiểm sát viên trong

trường hợp này là cần thiết để đảm bảo sự tuân theo pháp luật, bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp cho đương sự.

II.



Các công việc cần tiến hành để kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự trong tình

huống

1.



Kiểm sát thụ lí vụ án



Thụ lí vụ án là hoạt động của tòa án sau khi xem xét các điều kiện thụ lí

(điều kiện khởi kiện, nộp tạm ứng án phí nếu có và tài liệu, chứng cứ kèm theo)

tiến thành thụ lí. Việc thụ lí sẽ được thơng báo bằng văn bản đến Viện kiểm sát

cùng cấp trong 03 ngày để thực hiện kiểm sát thơng báp thụ lí. Trong vụ án trên,

ngày 01/07/2017 Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã tiến hành thụ lí vụ án.

Sau khi Viện kiểm sát nhận được thơng bá thụ lí trên, Kiểm sát viên được

phân công tiến hành công tác kiểm sát giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng

giữa nguyên đơn là K và bị đơn là M, N” phải tiến hành các công tác sau:

Thứ nhất, vào sổ thụ lý:

Số vụ án dân sự được thụ lý và số văn bản thông báo về việc thụ lý.

Ngày, tháng, năm, thụ lý là 1/7/2016 và ngày, tháng, năm, của văn bản

thông báo thụ lý là ngày ghi trong thơng báo thụ lí (trong thời hạn 03 ngày làm

việc, từ ngày thụ lí vụ án).

Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp hợp đồng giữa nguyên đơn là K và bị đơn

là M, N.

Thông tin đương sự: Nguyên đơn: ông K; Bị đơn: M, N – hộ khẩu tại

Vĩnh Tuy – Thanh Trì – Hà Nội.

Kiểm tra văn bản thông báo: Thực hiện đầy đủ theo quy định tại Điều 196

BLTTDS 2015, có đầy đủ nội dung theo yêu cầu và tuân thủ theo biểu mẫu số

30 - DS Ban hành kèm Nghị quyết 01/2017 NQ - HĐTP TANDTC.



6



Thứ hai, kiểm tra thời hạn gửi thông báo: trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày

thụ lý.

Thứ ba, kiểm tra nội dung văn bản thông báo:

Thẩm quyền thơng báo: TAND huyện Thanh Trì là đúng quy định pháp

luật.

Họ tên người khởi kiện, hộ khẩu thường trú… Nghiên cứu vấn đề cụ thể

người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Kiểm tra thời hiệu, kiểm tra tư cách

pháp lý và kiểm tra việc Thẩm phán có thơng báo cho những đối tượng được

nhận thông báo hay không.

Thứ tư, lập phiếu thông báo kiểm sát thụ lý: Tuân thủ mẫu số 22 Ban hành

quyết định 204/2017 QĐ-VKSTC. Cần theo dõi những vấn đề về thời hạn gửi

thông báo thụ lý vụ án; hình thức thơng báo bằng văn bản; nội dung thông báo;

đề xuất giải quyết của Kiểm sát viên.

Thứ năm, Báo cáo lãnh đạo về công tác kiểm sát thơng báo thụ lí, phát

hiện các vi phạm nếu có để đề nghị lãnh đạo cho phương hương giải quyết (theo

mẫu số 13 Quyết định 204/QĐ – VKSTC.

Thứ sáu, kiến nghị khắc phục vi phạm. Sau khi báo cáo đề xuất, nếu có vi

phạm Viện trưởng tiến hành quyền kiến nghị hoặc tập hợp vi phạm để kiến nghị

Tòa án khắc phục.

2.



Kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử



Trong giai đoạn này, Kiểm sát viên sẽ kiểm sát các quyết định của Tòa án

như quyết định chuyển, tách, nhập vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ

biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên;

quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án… Kiểm sát viên thực hiện

một số kỹ năng như sau:

Thứ nhất, nếu có nhiều loại quyết định cần phân loại các quyết định có thể

kiến nghị và các quyết định có thể kháng nghị. Trong tình huống trên khơng đề

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sự tham gia của Kiểm sát viên trong các phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×