Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những điểm tương đồng

Những điểm tương đồng

Tải bản đầy đủ - 0trang

dụng để giải quyết tranh chấp và ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài; các

bên có thể chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ, năng lực.

Thứ hai, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng

động, linh hoạt, mềm dẻo và tiết kiệm thời gian hơn.

So với thủ tục chặc chẽ, khơng khỏi khiến các thương gia cảm thấy bị gò bò

và và đơi khi cảm thấy cứng nhắc của phương thức thơng qua Tòa án thì

phương thức trọng tại thương mại linh hoạt, và mềm dẻo hơn hẳn.

Cụ thể như: các bên thông thường được tự do lựa chọn thời gian, địa điểm

phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu

quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép, thủ tục giải quyết

tranh chấp thương mại cũng đơn giản, khơng có nhiều công đoạn tố tụng. Nếu

như các bên lựa chọn trọng tài viên là người giải quyết tranh chấp thì hầu như

khơng có quy định bắt buộc về thủ tục tố tụng nào. Chỉ khi lựa chọn Hội đồng

trọng tài hoặc Trung tâm trọng tài, các bên mới phải tuân thủ thủ tục tố tụng

trọng tài. Khi xem xét thực tiễn hoạt động của trọng tài thương mại ở mỗi quốc

gia cũng như trên bình diện quốc tế, các nhà nghiên cứu đều nhận xét rằng quá

trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra nhanh hơn rất nhiều so với thủ

tục tiến hành giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Mặc dù trong một vài trường hợp,

tính nhanh chóng của thủ tục trọng tài có thể bị hạn chế và thời gian giải quyết

tranh chấp phải kéo dài thêm, nhất là khi tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định

của trọng tài; tuy nhiên các bên tranh chấp vẫn đánh giá cao ưu điểm này của

trọng tài. Thủ tục giải quyết thông qua trọng tài nhanh, gọn, linh hoạt đáp ứng

đòi hỏi hoạt động thương mại của các bên có liên quan.

Đồng thời hoạt động xét xử của Trọng tài là liên tục vì Hội đồng Trọng tài xét

xử vụ kiện là do các bên thỏa thuận lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết

vụ kiện, các trọng tài viên là người theo vụ kiện từ đầu đến cuối, họ có điều kiện

để nắm bắt và tìm hiểu thấu đáo các tình tiết của vụ việc. Chính điều này có lợi

ngay cả khi các bên ln hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm

phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận. Tức là trong suốt

quá trình giải quyết vụ việc thỏa thuận về sự hòa giải của hai bên luôn được lắng



nghe và được tạo điều kiện thuận lợi nhất để hòa giải để tìm được sự đồng

thuận. Điều mà ít khi xảy ra trong tố tụng kinh tế diễn ra tại các phiên tòa xét xử

tranh chấp. Nếu như các bên hòa giải thành cơng đã đồng ý thì ra biên bản hòa

giải và cơng nhận biên bản.

Hoạt động xét xử của trọng tài là liên tục cũng có thể làm tiết kiệm thời gian

và tăng hiệu quả cho q trình giải quyết tranh chấp. Trong khi đó giải quyết

tranh chấp bằng Tòa án thường rất khó đạt được điều này bởi Tòa án phải giải

quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, do đó tình trạng án tồn đọng là điều không

thể tránh khỏi.

Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có khả năng giữ bí mật rất cao

bởi nguyên tắc của giải quyết tranh chấp trước trọng tài là không công khai.

Nội dung tranh chấp, danh tính và những bí mật liên quan đến kinh doanh của

các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Tính

bảo mật được thể hiện ở chỗ quá trình giải quyết tranh chấp sẽ được tổ chức

dưới hình thức họp kín và quyết định giải quyết tranh chấp chỉ được thông báo

công khai khi được sự đồng ý của các bên.

Còn đối với phương thức giải quyết bằng tòa án, việc tuân thủ nguyên tắc xét

xử cơng khai nên sẽ khó bảo đảm bí mật, uy tín kinh doanh của thương nhân.

Đối với các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế, thì việc giữ bí mật

các vụ kiện là rất quan trọng bởi vì bí mật nghề nghiệp, uy tín trên thương

trường có ý nghĩa sống còn đối với họ. Đặc biệt là những bí mật liên quan đến bí

quyết cơng nghệ, chất lượng sản phẩm, bí quyết kinh doanh…Nếu những bí mật

này bị tiết lộ, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh trong tương

lai của họ, do đó các thương nhân khơng một ai muốn tiết lộ các bí mật đó ra

bên ngồi. Nhưng khi tranh chấp xảy ra, thì họ phải nhờ đến sự phân giải của

bên thứ ba, khi đó, mặc nhiên những bí mật đó có thể bị tiết lộ nhất là khi giải

quyết tại tòa án bởi một trong các nguyên tắc xét xử tại tòa án là cơng khai. Bởi

vậy, khác với ngun tắc xét xử cơng khai tại tòa án, thì trọng tài lại hoạt động

theo nguyên tắc xét xử kín, các quyết định của trọng tài không được công khai,

nếu không được sự đồng ý của các bên. Quy định này làm cho các bên, nhất là



bên thua, không cảm thấy lo ngại vì kết quả giải quyết tranh chấp có thể có tác

động khơng tốt đến hoạt động kinh doanh của họ, điều đó có ý nghĩa lớn trong

điều kiện cạnh tranh.

Đồng thời, vì tố tụng tại trọng tài là tự nguyện nên việc thắng, thua trong tố

tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hồ khí lâu dài giữa các bên tranh

chấp, đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các

đối tác. Trong trường hợp xét xử công khai tại Tòa án thường dễ làm cho các

bên rơi vào thế đối đầu nhau với kết cục là một bên được thừa nhận như một

người chiến thắng, còn bên kia thấy mình là một kẻ thua cuộc, hơn nữa trong

một vụ tranh chấp, dù là nguyên đơn hay bị đơn, một khi đã ra tồ thì uy tín của

thương hiệu ít nhiều giảm sút nơi khách hàng. Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm

mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi

mở, sự hợp tác, thiện chí giữa các bên… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các

bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt là sự

tự nguyện thi hành quyết định trọng tài cuả một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin

tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai.

Thứ tư, trọng tài viên có kiến thức chun mơn cao.

Các trọng tài viên thường là người có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong

một số lĩnh vực cụ thể, như bảo hiểm, tài chính, vận tải, xây dựng… Những

tranh chấp chuyên ngành này đòi hỏi người phân xử phải có kiến thức rộng và

am hiểu trong lĩnh vực đó. Do vậy, việc giải quyết sẽ được chính xác và khách

quan hơn.

Hơn nữa, vì các bên được quyền tự lựa chọn trọng tài viên cho mình, họ có

thể là các luật sư, hay các chun gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực như

thương mại, tài chính ngân hàng… nên các bên linh động hơn trong việc lựa

chọn trọng tài viên phù hợp, trọng tài viên được chọn phần lớn là những người

đã quen biết và có tín nhiệm cao với các bên. Họ có kinh nghiệm giải quyết

tranh chấp thuộc các lĩnh vực chuyên môn (thương mại, đầu tư, bảo hiểm…)

hơn hẳn các thẩm phán ở tòa án, do đó, thời gian xét xử sẽ ngắn, quyết định của

trọng tài sẽ sát thực, hợp lí và có độ tin cậy cao. Đồng thời, quyết định của trọng



tài dường như không bị chi phối bởi yếu tố chính trị - điều thường gặp trong các

phán quyết của tòa án. Vì thế, nó sẽ mang tính khách quan hơn các phán quyết

của tòa án

Ngồi ra, Luật của các nước cũng có quy định rõ tiêu chuẩn trọng tài viên. Ví

dụ như ở Việt Nam, Điều 20 Luật Trọng tài thương mại 2010 có quy định rõ cá

nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế

công tác từ năm năm trở lên có thể là trọng tài viên. Đặc biệt, Luật dành cho các

Trung tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng

tài viên trong danh sách của mình (khoản 3, Điều 20). Trong trường hợp đặc

biệt, các bên đương sự có thể lựa chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chun

nghiệp, kiến thức chun mơn, uy tín của cá nhân đó và trong trường hợp đó thì

nhà chun mơn nào cũng có thể được các bên chọn làm Trọng tài cho vụ việc

của họ (khoản 1, điểm c, Điều 20). Luật Trọng tài thương mại 2010 cũng khơng

u cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là người

nước ngồi cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên

tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu

thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời

việc quy định những trọng tài viên phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu và năng lực

chuyên môn sẽ đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và đúng

đắn.

Thứ năm, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ

chức phi Chính phủ, nhưng được hỗ trợ, đảm bảo về pháp lý của toà án trên

nhiều mặt như: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết

khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định

trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài.

Nhằm giúp cho cơ chế tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả, Luật Trọng tài

các nước cũng cho phép Hội đồng Trọng tài được thu thập chứng cứ, triệu tập

nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đối với Việt Nam, thì

cơ chế này đươc quy định tại Điều 47, 48, 49 và 50 Luật Trọng tài thương mại

2010. Quy định này là sự tiếp thu những quy định mẫu của UNCITRAL được



thông qua 2006. Điều này cũng thể hiện sự tiếp thu và từng bước điều chỉnh của

cơ quan lập pháp Việt Nam để các quy định trọng tài thương mại Việt Nam hội

nhập với các thơng lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, kết quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại theo phương

thức trọng tài được đảm bảo bằng sự cưỡng chế từ phía cơ quan nhà nước có

thẩm quyền. Thể hiện củ thể Tại điều 66 của luật trọng tài thương mại 2010 quy

định về quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài.

Với sự hỗ trợ từ phía cơ quan tư pháp, quyết định trọng tài được thi hành một

cách triệt để tạo điều kiện cho tranh chấp được giải quyết một cách dứt điểm,

tránh tình trạng một bên kéo dài thời gian thi hành án. Có thể nói, đây là ưu

điểm nổi trội so với hai phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thương

lượng và hòa giải.

Thứ sáu, phán quyết trọng tài là phán quyết chung thẩm không thể bị kháng

cáo, kháng nghị theo bất cứ thủ tục nào bởi vì tố tụng trọng tài là tố tụng một

cấp.

Quyết định trọng tài sẽ được thi hành nếu như quyết định đó là hợp pháp (khi

khơng có đơn u cầu huỷ quyết định trọng tài, hoặc hội đồng xét xử đã bác đơn

yêu cầu huỷ quyết định trọng tài) các bên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Đây là

điểm khác biệt và cũng là ưu điểm hơn hẳn so với tòa án vì bản án, quyết định

của tòa án có thể bị kháng cáo lên cấp trên. Quyết định trọng tài được thực hiện

ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh

doanh thương mại. Chính điều này tạo điều kiện cho tranh chấp được giải quyết

một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp.

Ưu điểm này xuất phát từ quyền định đoạt của các bên, từ việc tự do lựa chọn

phương thức trọng tài đến lựa chọn trọng tài viên cũng như thủ tục tố tụng. Do

vậy khi quyết định trọng tài đã được đưa ra thì các bên có nghĩa vụ thực hiện.

nếu có khó khăn trong việc thi hành thì có thể nhờ đến sự giúp đỡ của cơ quan

tư pháp.



Thứ bảy, phương thức giải quyết tranh chấp theo trọng tài thương mại được

sự thừa nhận của quốc tế.

Trọng tài thương mại không đại diện cho quyền lực Nhà nước nên rất phù hợp

để giải quyết các tranh chấp mà các bên có quốc tịch khác nhau (Tồ án nói là

được độc lập nhưng cũng dễ bị chi phối bởi quyền lợi dân tộc, do đó các bên

tranh chấp có quốc tịch khác nhau thường khơng thích chọn tồ án của nhau). Vì

vậy, họ thường thích chọn trọng tài, nhất là trọng tài của nước thứ ba để đảm bảo

tính khách quan trong việc giải quyết tranh chấp. Công ước New York 1958 về

công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài đã quy định

rằng các nước thành viên của cơng ước này có nghĩa vụ công nhận và cho thi

hành phán quyết của trọng tài của nước bên kia cũng là thành viên.

b) Nhược điểm

Thứ nhất, phán quyết của trọng tài, tuy là chung thẩm, nhưng bên bị đơn có

thể u cầu tồ án xem xét lại, Tòa án có thể tun hủy quyết định trọng tài đó.

Như vậy quyết định trọng tài chưa phải là quyết định cuối cùng, bên thắng lợi

trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng chưa chắc giành thắng lợi cuối

cùng. Như vậy, phán quyết của trọng tài nhiều lúc làm cho bên thắng kiện không

yên tâm, mà lo ngại về việc nếu như phán quyết của Hội đồng trọng tài bị hủy

thì sẽ dẫn tới việc tranh chấp giữa các bên dường như vẫn còn nguyên và việc

giải quyết tranh chấp này sẽ lại phải bắt đầu lại từ đầu nếu họ muốn bảo vệ

quyền lợi của mình. Điều này sẽ làm mất khơng ít thời gian, chi phí… ảnh

hưởng rất nhiều tới cơng việc kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng với đó việc

thực thi các quyết định của Trọng tài không phải lúc nào cũng được thuận lợi

như thực thi bản án, quyết định của Tòa án.

Thứ hai, trọng tài là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, không phải cơ quan

quyền lực nhà nước nên khi xét xử giải quyết tranh chấp gặp khá nhiều khó

khăn.

Điểm này lại là thế mạnh của Phương thức tòa án bởi vì bản án, quyết định

của tòa án được bảo đảm thi hành bằng cưỡng chế của nhà nước. Mục đích hàng

đầu của nguyên đơn khi khởi kiện là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của



minh được đáp đứng. Chính vì vậy, sự bảo đảm thi hành phán quyết của Tóa án

bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước được coi là ưu điểm, tạo ra sự khác biệt

trong cơ chế thi hành phán quyết của các loại tài phán.

Khi bị đơn không tự giác thi hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan thi

hành án có quyền tổ chức cưỡng chế buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ của

mình theo quyết định của Tòa án. Với đặc điểm này, hiệu lực thi hành phán

quyết của Tòa án sẽ cao hơn phán quyết của trọng tài.

Ví dụ như là những vụ tranh chấp phức tạp, trong biện pháp cần áp dụng biện

pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đảm bảo chứng cứ, trọng tài không thể ra quyết

định mang tính chất bắt buộc về điều đó mà phải yêu cầu tòa án thi hành thực

hiện thay theo quy định của pháp luật. Điều này khiến việc áp dụng các biện

pháp khẩn cấp mất thêm thời gian, khơng kịp thời và có thể tạo cơ hội cho một

bên thực hiện một số hành vi gây ảnh hưởng bất lợi cho quá trình tố tụng và thi

hành phán quyết sau này.

Thứ ba, là trọng tài ad-hoc phải phụ thuộc hồn tồn vào thiện chí của các

bên.

Nếu một bên khơng có thiện chí, q trình tố tụng sẽ ln có nguy cơ bị trì

hỗn, và nhiều khi khơng thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì khơng có

quy tắc tố tụng nào được áp dụng và khơng có tổ chức nào giám sát việc tiến

hành trọng tài và giám sát các Trọng tài viên. Vì vậy, kết quả phần lớn phụ thuộc

vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm sốt q trình tố tụng của các Trọng

tài viên. Cả Trọng tài viên và các bên sẽ khơng có cơ hội nhận được sự ủng hộ

và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức trọng tài thường trực trong trường hợp phát

sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các Trọng tài viên không

thể giải quyết được vụ việc. Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là

từ các Tòa án.

Thứ tư, phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, theo đó việc thiếu

quyền phúc thẩm có thể là lợi thế theo mong muốn sớm kết thúc tranh chấp,

nhưng nếu trọng tài viên ra phán quyết rõ ràng là sai, theo pháp luật hay thay

thực tế thì việc thiếu quyền phúc thẩm sẽ là một điều thất vọng đối với một bên



tranh chấp. Điểm này lại là thế mạnh của phương thức Tòa án. Vì nếu thấy phán

quyết của Tòa án khơng thỏa đáng, đương sự có thể kháng cáo, yêu cầu xét xử

lại. Với cơ chế nhiều cấp xét xử, pháp luật cho phép đương sự được thực hiện

quyền kháng cáo đối với những bản án, quyết định chưa có hiệu lực của Tòa án

sơ thẩm. Ngay cả khi bản án, quyết đinh đã có hiệu lực pháp luật, thì đương sự

vẫn có quyền khiếu nại, người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết của tòa

án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. xét ở khía cạnh tích cực, trình tự

xét xử nhiều cấp cho phép xem xét lại phán quyết của Tòa án một cách chắc

chắn trước khi cho thi hành.

Thứ năm, là hình thức Trọng tài quy chế có nhược điểm là tốn kém nhiều chi

phí.

Các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ khơng trực thuộc nhà nước,

họ hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi. Nguồn thu chủ yếu của các trung tâm

trọng tài là từ lệ phí giải quyết tranh chấp thương mại, do vậy chi phí cho một vụ

việc tranh chấp được giải quyết theo thủ tục tố tụng trọng tài thường cao và tốn

kém hơn phí của tòa án.

Khi vụ việc được đưa ra giải quyết tranh chấp tại Trọng tài quy chế, ngoài

việc phải trả chi phí thù lao cho các Trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các

chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các trung tâm trọng tài. Ngoài ra

trong một số trường hợp quá trình giải quyết tranh chấp bị kéo dài mà Hội đồng

Trọng tài các các bên bắt buộc phải tuân thủ vì phải tuân theo các thời hạn theo

quy định của Quy tắc tố tụng trọng tài làm giảm hiệu quả của việc giải quyết

tranh chấp thương mại bằng trọng tài.

Ở đặc điểm này thì mức phí của Tòa án thấp hơn. Tuy nhiên nếu việc xét xử

kéo dài thì có thể làm tổng chi phí cao hơn nhiều so với phí trọng tài của các

Trung tâm trọng tài.

III. Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế giữa các

thương nhân tại Việt Nam.

Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước mạnh mẽ trong phát triển

kinh tế. Để đạt được điều này, Việt Nam đã tích cực thu hút các nhà đầu tư nước



ngoài nhằm tranh thủ vốn và các công nghệ của các nước tiên tiến. Bên cạnh đó,

Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế - một xu thế phát triển tất yếu của

các nền kinh tế trên thế giới. Thương mại phát triển tất yếu không tránh khỏi

những tranh chấp thương mại quốc tế. Với điều kiện thực tế Việt Nam hiện nay,

hiện có rất nhiều phương thức giải quyết tranh chấp nhưng phương thức trọng

tài được xem trọng trên trường quốc tế vì những ưu điểm và thuận lợi mà nó

mang lại đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên việc giải

quyết bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cấp,

chưa tạo được niềm tin với các nhà kinh doanh, đặc biệt là các thương nhân

nước ngoài.

Trên thực tiễn những tổ chức trọng tài này chủ yếu giải quyết các tranh chấp về

hợp đồng thương mại quốc tế, còn với những tranh chấp về hợp đồng thương

mại trong nước thì rất hạn chế. Từ năm 2010 trở lại đây, xu hướng các vụ việc

giải quyết bằng trọng tài với số lượng lớn hơn, lớn từng năm, thay thế cho giải

quyết bằng tòa án. Tuy nhiên, do nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn

chế, do thiếu thói quen sử dụng các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, thiếu người

hướng dẫn, tư vấn về luật pháp quốc tế, trọng tài quốc tế. Do vậy, trong rất nhiều

trường hợp khi doanh nghiệp Việt Nam đi kiện những vụ việc có tính quốc tế thì

thường bỏ lơ trọng tài quốc tế, đến khi có phán quyết xảy ra thì hậu quả rất

nghiêm trọng. Nhận thức của doanh nghiệp trong nước về trọng tài quốc tế vẫn

còn hạn chế hơn các doanh nghiệp nước ngồi, bởi vì cơ chế giải quyết bằng

trọng tài còn khá mới mẻ

Hiện nay, nước ta có 14 trung tâm trọng tài đang hoạt động với tổng số 349

trọng tài viên, trong đó, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) có số

trọng tài viên nhiều nhất, chiếm gần 43% tổng số trọng tài viên của cả nước.

Thời gian gần đây, các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt là đội ngũ doanh

nghiệp đã nhìn nhận và đánh giá tích cực hơn về vai trò của phương thức giải

quyết tranh chấp bằng trọng tài trong bối cảnh nước ta hội nhập kinh tế toàn cầu

ngày càng sâu rộng hơn. Số lượng vụ việc tranh chấp mà các Trung tâm trọng tài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những điểm tương đồng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×