Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

III. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhưng một số ít đơn vị được thanh tra, Thủ trưởng đơn vị không ban hành

Quyết định giải quyết khiếu nại mà sử dụng hình th ức cơng văn tr ả l ời

đơn cho đương sự. Việc làm này làm ảnh hưởng quyền khiếu n ại tiếp theo

của đương sự đến cơ quan có thẩm quyền, gây khó khăn có c ơ quan có

thẩm quyền giải quyết lần hai. Nguyên nhân của sai phạm này là có yếu tố

lịch sử, một số Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự v ẫn còn "n ếp cũ"

áp dụng Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993, sử d ụng hình th ức văn

bản trả lời đơn để giải quyết khiếu nại. Tuy số lượng sai phạm này r ất ít

nhưng không thể không nhắc đến.

- Cơ quan Thi hành án dân sự phân loại đơn của đ ương s ự không đúng

quy định pháp luật. Qua thanh tra cho thấy, còn hiện t ượng c ơ quan Thi

hành án dân sự xác định nội dung đơn của đương sự là nội dung ph ản ánh,

kiến nghị nhưng qua thanh tra cho thấy, nội dung th ực tế là khiếu n ại.

Phạm vi khiếu nại được quy định rất rõ ở khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu

nại.Tuy nhiên, khi nhận được đơn của đương sự khiếu nại về việc nh ư

chậm tổ chức thi hành án, không ra Quyết định cưỡng chế... thì cơ quan Thi

hành án dân sự lại xác định đây là nội dung "kiến nghị, ph ản ánh" đ ể từ đó

khơng ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại.

- Cơ quan Thi hành án dân sự ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại

trái thẩm quyền. Qua thanh tra một số vụ việc cho thấy, Thủ trưởng cơ

quan Thi hành án dân sự xác định thẩm quyền giải quyết khiếu nại không

đúng quy định pháp luật. Theo quy định tại Điều 142 Luật Thi hành án dân

sự năm 2008 thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự giải quy ết khi ếu

nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của Chấp hành viên do mình

quản lý và hành vi của Thủ trưởng cơ quan cấp dưới. Tuy nhiên, có v ụ việc

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành giải quyết khiếu nại đối

với hành vi của chính mình. Việc làm này vừa vi ph ạm quy đ ịnh v ề th ẩm

quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân s ự v ừa làm ảnh h ưởng

đến quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của đương sự vì Quy ết đ ịnh gi ải



quyết khiếu nại thuộc trường hợp trên là khơng khách quan. Ví d ụ nh ư v ụ

việc bà Nguyễn Thị Oanh, trú tại Đạ Huoai, Lâm Đồng, khiếu nại văn bản

kê biên trái pháp luật của Chi cục trưởng huy ện Đạ Huoai nh ưng Chi c ục

trưởng lại trực tiếp ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của đ ương

sự mà không chuyển hồ sơ để Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự Lâm

Đồng giải quyết theo thẩm quyền.

- Quyền khiếu nại của đương sự

Quyền khiếu nại của đương sự được Hiến pháp quy định cụ thể, do đó,

đương sự có thể khiếu nại bất cứ quyết định, hành vi nào của Th ủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong quá trình tổ ch ức thi

hành án mà đương sư cho là trái pháp luật, xâm phạm quy ền, l ợi ích h ợp

pháp của họ. Nhưng như thế nào là có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi

đó trái pháp luật, và như thế nào là khơng có căn c ứ. Q trình tác nghi ệp

của Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án, th ẩm quy ền

của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đều được pháp luật quy đ ịnh

cụ thể. Đồng thời, mọi thủ tục thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự

đều có sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cùng c ấp ho ặc c ủa Vi ện

kiểm sát nhân dân cấp trên, Luật đã quy định cụ thể quy ền kháng ngh ị của

Viện kiểm sát, vậy nếu quyết định, hành vi trái pháp luật của Th ủ tr ưởng

cơ quan thi hành án, Chấp hành viên có căn cứ là trái pháp luật, thì vi ệc t ổ

chức thi hành án có được tiếp tục thực hiện hay không mà không b ị Vi ện

kiểm sát kháng nghị theo quy định của pháp luật?

Hơn nữa, thi hành án dân sự là nhằm bảo đảm cho bản án được tổ ch ức

thi hành trên thực tế. Các quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi

hành án dân sự, Chấp hành viên đều trực tiếp tác động vào quy ền, l ợi ích

của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Nếu mỗi quy ết

định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân s ự, Ch ấp hành viên

đều bị khiếu nại( vì quyền Hiến định của cơng dân), thì quá trình t ổ ch ức

thi hành một quyết định thi hành án sẽ kéo dài, gây bức xúc trong d ư lu ận



quần chúng nhân dân, đặc biệt là cho những đối tượng đã đ ược bản án

tuyên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

- Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại

Luật thi hành án dân sự quy định cho người khiếu n ại có các quy ền và

nghĩa vụ cụ thể để thực hiện quyền khiếu nại của mình. Nh ưng Luật

khơng quy định trách nhiệm của người khiếu nại nếu khiếu n ại sai, khơng

có căn cứ. Mặt khác, trong q trình thi hành án, người phải thi hành án ch ỉ

có một nghĩa vụ duy nhất là phải tự nguyện thi hành án. Chúng ta đã bi ết,

tâm lý người phải thi hành án ln cảm thấy quyền, lợi ích h ợp pháp c ủa

mình bị xâm phạm, vì bản án đã tuyên cụ thể, cho nên, h ọ luôn mong mu ốn

kéo dài thời gian thi hành án, tìm đủ mọi biện pháp để có th ể hạn chế đến

mức thấp nhất khả ăng thiệt hại cho mình. Trong thời điểm hiện nay, nếu

cơ quan thi hành chậm trễ dù chỉ một ngày, thì có th ể giá tr ị tài tài s ản sẽ

thay đổi, dẫn đến thiệt thòi quyền lợi cho người được thi hành án, ng ười

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Nghĩa vụ của người bị khiếu nại

Luật thi hành án dân sự quy định người bị khiếu nại có nghĩa v ụ b ồi

thường thiệt hại do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo

quy định của pháp luật. Đây là một quy định ch ưa tạo ra s ự bình đ ẳng

trước pháp luật giữa đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ới

người có trách nhiệm, quyền hạn tổ chức thi hành bản án, quyết định c ủa

tồ án. Một bên có quyền khiếu nại, dù có hay khơng có căn c ứ cho r ằng

quyết định, hành vi đó là trái pháp luật. Khiếu nại xong, ch ỉ đ ược h ưởng

quyền lợi mà khơng có chế tài để xử lý hành vi khiếu nại sai. Một bên khác

chỉ bị khiếu nại, bị bồi thường thiệt hại, bị xử lý kỷ luật nếu có căn cứ cho

rằng quyết định, hành vi do mình gây ra là trái pháp luật, nh ưng n ếu quy ết

định, hành vi của mình là đúng pháp luật thì thôi, không ai ph ải b ồi th ường

cho những tổn thất mà mình phải gánh chịu, trong đó, tổn thất về m ặt ti.h

thần là không thể nào cân đo, đong đếm được.



IV. Kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khi ếu nại

1. Kiến nghị

Luật Khiếu nại 2011 quy định: "Khiếu nại là việc công dân, c ơ quan, t ổ

chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị c ơ

quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quy ết định hành chính,

hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà n ước, của người có th ẩm

quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quy ết định kỷ luật cán bộ,

công chức khi có căn cứ cho rằng quy ết đ ịnh hoặc hành vi đó là trái pháp

luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.". Nh ưng th ế nào “trái

pháp luật”, hiện tại tơi chưa tìm được văn bản quy ph ạm pháp lu ật nào

định nghĩa “trái pháp luật” là gì. Do đó, cần có văn bản h ướng dẫn nh ư th ế

nào là có căn cứ cho rằng, quyết định, hành vi đó là trái pháp lu ật ho ặc

quyết định hành vi đó là không trái pháp luật. Điều này hạn ch ế đ ược kh ả

năng lợi dụng quyền khiếu nại của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa v ụ

liên quan để trì hỗn, kéo dài thời gian thi hành án, làm ảnh h ưởng đến quá

trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của toà án do cơ quan thi hành án

thực hiện.

Cần quy định chế tài đối với hành vi khiếu nại không đúng sự th ật. Đi ều

này giúp cho người khiếu nại có suy nghĩ đúng đắn h ơn về quy ền khi ếu

nại của mình, chỉ khi nào thật sự cần thiết, chắc chắn rằng quy ết đ ịnh,

hành vi đó của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Ch ấp hành viên có

căn cứ là trái pháp luật, họ mới tiến hành việc khiếu nại. Đồng th ời, đi ều

này cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận th ức về pháp luật thi hành án

dân sự đối với đương sự, người có quy ền lợi, nghĩa v ụ liên quan. Ngăn

chặn mầm mống chủ nghĩa cá nhân trong tư tưởng của họ như những quy

định về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự đã quy định rỏ.

Cần quy định thời hạn giải quyết khiếu nại về thi hành án là một trong

những cơ sở để hoãn thi hành án (nếu thấy cần thiết), để cơ quan thi hành

án dân sự có cơ sở trả lời cho người được thi hành án trong tr ường hợp



chậm thi hành án do giải quyết khiếu nại, cũng như đảm bảo quyền lợi

cho người phải thi hành án không phải nộp lãi suất chậm thi hành án trong

thời gian hoãn thi hành án. Hiện tại, Luật chỉ quy định tạm ngừng vi ệc thi

hành án, mà đối chiếu với các quy định hoãn, thì việc tạm ng ừng khơng

được tính là hỗn thi hành án.

2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả.

Đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ th ống chính

trị trong cơng tác giải quyết khiếu nại, trước hết là nhờ vai trò lãnh đ ạo

của các cấp ủy, quản lý điều hành của chính quy ền. Các c ấp chính quy ền có

kế hoạch thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, phân công trách nhiệm

một cách rõ ràng, cụ thể để giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc khiếu

nại. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên kiểm tra, đôn

đốc, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại thuộc th ẩm

quyền.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi

hành án dân sự, về khiếu nại trong thi hành án dân sự cho quần chúng

nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi để quần chúng nhân dân nâng cao ý

thức pháp luật về thi hành án dân sự, giúp họ tự bảo vệ quyền, lợi ích h ợp

pháp của mình trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Đ ối v ới các tr ường h ợp

lợi dụng khiếu nại để kích động, gây rối thì ph ải tiến hành làm rõ, x ử lý

nghiêm minh theo pháp luật.

Mở các lớp tập huấn cho tất cả cán bộ, công chức làm công tác thi hành

án những quy định của pháp luật về thi hành án dân s ự theo luật thi hành

án dân sự năm 2008. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công ch ức

làm công tác thi hành án dân sự th ực hiện đúng nh ững quy đ ịnh c ủa pháp

luật về thi hành án, hạn chế đến mức thấp nhất những khiếu n ại phát sinh

trong quá trình tổ chức việc thi hành án.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×