Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các dấu hiệu pháp lý

Các dấu hiệu pháp lý

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hành vi giật tài sản của người phạm tội được thực hiện một cách cơng khai, tức là

khơng có ý thức che giấu hành vi của mình đối với chủ sở hữu hoặc người có trách

nhiệm quản lý tài sản và những người khác. Đây cũng là một đặc trưng để phân biệt

với những trường hợp phạm tội khác như hành vi trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài

sản không có tính cơng khai, trắng trợn.

Để thực hiện được hành vi giật tài sản, người phạm tội thường sử dụng nhiều

thủ đoạn khác nhau mà điển hình nhất là lợi dụng sơ hở chủ sở hữu hay người đàn

quản lí tài sản khơng đề phòng để thực hiện nhanh chóng hành vi giật tài sản và tẩu

thoát hoặc lợi dụng người đang quản lý tài sản đang tập trung điều khiển phương

tiện giao thông không chú ý để áp xát và thực hiện hành vi phạm tội.

Trong các thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng, có một số thủ đoạn mà

hành vi dễ gây nhầm lẫn với các nhóm tội liền kề như tội công nhiên chiếm đoạt tài

sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu không xem xét kĩ hành

vi khách quan. Thủ đoạn phạm tội cướp giật tài sản cũng chính là dấu hiệu đặc

trưng để phân biệt tội cướp giật tài sản với các tội phạm khác gần kề.

b.Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp

hoặc cá nhân.Trong một sô trường hợp diễn ra trong thực tiễn, hành vi cướp giật có

thể cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân

thân), nhưng chủ yếu là quan hệ tài sản. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay nhiều

vụ cướp giật tài sản đã gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức

khoẻ của người bị hại như các vụ cướp giật của người đang điều khiển xe đạp, xe

máy làm cho những người này ngã xe gây tai nạn. Mặc dù những thiệt hại về tính

mạng, sức khoẻ không phải là đối tượng mà người phạm tội nhằm vào, nhưng trước

khi thực hiện hành vi cướp giật, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy

hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện, muốn ra

sao thì ra. Cũng chính vì vậy Bộ luật hình sự năm 2015 khi quy định tội cướp giật

3



tài sản đã đưa vào trong cấu thành dấu hiệu về thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ và

coi đây là những tình tiết định khung hình phạt.

c.Mặt chủ quan của tội phạm

Cũng như đối với tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng

đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người

phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản của nạn nhân.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng xuất hiện trước khi

hành vi cướp giật được thực hiện,mục đích chiếm đoạt khơng thể xuất hiện sau bởi

vi hành vi giật tài sản đã bao hàm mục đích chiếm đoạt.

d.Chủ thể thực hiện tội phạm

Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16

tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản thuộc trường

hợp quy định tại khoản 1 Điều 171, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật

hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội phạm tại khoản 1 Điều 171 BLHS.

Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình

điều tra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội cưỡng đoạt tài sản cần chú ý độ tuổi

của người phạm tội và các tình tiết định khung hình phạt. Nếu người phạm tội

thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 171 Bộ luật hình

sự thì chỉ cần xác định người phạm tội đã đủ 14 tuổi là đã phải chịu trách nhiệm

hình sự, nhưng nếu người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều

170 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm

hình sự.

e.Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Hậu quả của tội cướp giật tài sản trước hết là những thiệt hại về tài sản, ngồi ra

còn có những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ hoặc những thiệt hại khác. mặc dù

4



điều luật không quy định, nhưng về lý luận tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu

thành vật chất, do đó, chỉ khi nào người phạm tội giật được tài sản thì tội phạm mới

hồn thành, nếu có hành giật nhưng chưa giật được tài sản thì thuộc trường hợp

phạm tội chưa đạt. Tội cướp giật tài sản là tội phạm nghiêm trọng nên nhà làm luật

không quy định mức tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu cấu thành tội phạm như đối

với các tội khác như tội trộm cắp, tội công nhiên chiếm đoạt, tội lừa đảo chiếm đoạt

tài sản… Do đó người phạm tội cướp giật tài sản có giá trị lớn hay chỉ có giá trị rất

nhỏ ( hoa tai giả, dây chuyền giả) vần là phạm tội cướp giật tài sản. Tuy nhiên, nếu

chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn thì thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2,

khoản 3 hoặc khoản 4 của Điều 171 tuỳ theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

Các thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ hoặc các thiệt hại khác là những dấu hiệu

định khung tăng nặng của tội cướp giật tài sản.

II.Phân biệt tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tội cướp giật tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hai tội hay bị

nhầm lẫn trong thực tế bởi vì dấu hiệu hành vi, thủ đoạn phạm tội có những nét

tương đồng. Nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét kĩ hành vi khách

quan của tội phạm thì rất dễ nhầm lẫn. Dưới lý luận pháp luật hình sự Việt Nam thì

hai tội này có những sự khác biệt nhất định sau:

Đối với tội cướp giật tài sản: tội cướp giật tài sản đòi hỏi người cướp giật

phải có hành vi chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt ở tội cướp giật tài sản có hai dấu

hiệu để phân biệt với những hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác:

Tội cướp giật tài sản phải có dấu hiệu cơng khai, là hình thức thực hiện cho

phép chủ tài sản có khả năng biết ngay khi hành vi xảy ra. Có nghĩa rằng người

phạm tội có ý thức cơng khai và khơng có ý thức che đậy hành vi phạm tội đó.

Tội cướp giật tài sản phải có dấu hiệu nhanh chóng: Đó là lợi dụng sơ hở của

chủ tài sản (sơ hở này có thể sẵn sàng có hoặc do người phạm tội chủ động tạo ra).

5



Nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn tránh.

Thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt tài sản có thể diễn ra ở nhiều hình thức khác

nhau, phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản chiếm đoạt, vị trí, cách thức giữ tài sản

cũng như những hồn cảnh bên ngồi khác, hình thức này có thể là nhanh chóng

giật lấy giành lấy và tẩu thoát…Với thủ đoạn như vậy người phạm tội muốn chủ tài

sản không thể kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của mình và khơng có ý định

dùng bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản.

Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

là lợi dụng lúc chủ tài sản khơng có điều kiện ngăn cản ngang nhiên chiếm đoạt tài

sản của họ. Hành vi trong tội này phân biệt với hành vi chiếm đoạt của các tội khác

dấu hiệu công nhiên, Ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thì hành vi chiếm đoạt

này có tính cơng khai như hành vi cướp giật nhưng hành vi này xảy ra trong hồn

cảnh chủ tài sản khơng có điều kiện ngăn cản, do vậy, người phạm tội khơng cần và

khơng có ý định có bất cứ thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản, người

phạm tội không dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhanh

chóng, nhanh chóng chiếm đoạt và lẩn tránh.

Cả hai tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và tội cướp giật tài sản một cách

công khai. Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt tài sản giữa hai tội khác nhau ở chỗ:

Thứ nhất, Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được hiểu là ngang nhiên chiếm

đoạt tài sản đang do người khác quản lý, bất chấp sự có mặt của chủ tài sản. Đặc

trưng của tội này là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản, khi thực

hiện hành vi chiếm đoạt. Trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, người phạm tội

thường lợi dụng chủ tài sản khơng có khả năng, điều kiện để chống trả , bảo vệ nên

khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không cần nhanh chóng

chiếm đoạt cũng như khơng cần phải nhanh chóng lẫn trốn và khơng sợ bị bắt giữ

vì người chủ tài sản khơng có khả năng ngăn cản việc chiếm đoạt. Đây là điểm

khác biệt với tội cướp giật tài sản. Còn đối với tội cướp giật tài sản, thủ đoạn phạm

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các dấu hiệu pháp lý

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×