Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ ANH – PHÁP VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA Ở ĐÔNG NAM Á THẾ KỈ XIX

Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ ANH – PHÁP VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA Ở ĐÔNG NAM Á THẾ KỈ XIX

Tải bản đầy đủ - 0trang

69



cứu đặc điểm của quan hệ quốc tế thế kỉ XIX bởi nó mang tính

quyết định mạnh nhất và là minh chứng cho năm đặc trưng của

các nước đế quốc thời cận đại.

Khu vực Đơng Nam Á với vị trí địa chính trị và địa kinh tế

đặc biệt đã sớm lọt vào tầm mắt của chủ nghĩa thực dân, trở

thành điểm xoáy chiến lược, mục tiêu quyền lợi của rất nhiều

cường quốc tư bản. Chính yếu tố này tác động trực tiếp đến

tham vọng bành trướng của Anh, Pháp; là một trong những

nguyên nhân sâu xa của những mâu thuẫn, đối đầu trong quan

hệ ngoại giao giữa hai nước và sự cạnh tranh quyền lợi đầy

quyết liệt, căng thẳng giữa hai nước đế quốc ở khu vực này.

Thế kỉ XIX cũng đã chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của

Anh, trở thành đế quốc đứng đầu thế giới. Địa vị sáng giá mà

Anh có được phần lớn nhờ vào tiềm lực tài chính do cuộc cách

mạng cơng nghiệp đem lại và vùng lãnh thổ rộng lớn sau khi

chiến thắng những cuộc chiến tranh của Napoleon. Chính ưu thế

đó đã đưa nước Anh lên vị trí thống trị thế giới trong lĩnh vực

thương mại, hàng hải và vận tải biển. Anh rất quan tâm đến khu

vực Đông Nam Á, trước hết là ở vùng đất phía Tây của lục địa

này, nơi ngự trị của vương quốc Miến Điện giàu có và bán đảo

Malaya – ngã tư con đường giao thông thương mại của thế giới,

án ngữ cửa ngõ của quan đường qua lại giữa hai đại dương.

Nhất là từ khi eo biển Malaya trở thành nơi thông thương quan

trọng giữa châu Á phì nhiêu và châu Âu tư bản đang khao khát

thị trường, càng làm nhân lên quyết tâm xâm lược của thực dân

Anh. Đơng Nam Á chính là địa bàn lý tưởng để Anh thể hiện sức

mạnh hải quân số một của mình cũng như phát triển hơn nữa

cường quốc thương mại của mình.



70



Với nước Pháp, đến thời kì này, việc xâm chiếm thuộc địa

cũng trở thành vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết. Khu vực

Đông Nam Á đối với Pháp mà nói chẳng những là miền đất hứa

ni dưỡng những tham vọng phát triển lớn mạnh của Pháp, mà

còn là nơi để Pháp khẳng định vị trí của mình trong trên thế

giới, nhất là trong cuộc chạy đua xâu xé thuộc địa với người

Anh. Những triển vọng mà việc xâm chiếm các vùng đất của

Đông Nam Á mang lại là động lực to lớn để Pháp dốc toàn tâm,

toàn lực sở hữu bằng được miếng mồi béo bở này.

Như vậy, xuất phát từ những nhân tố khách quan và chủ

quan ở thế kỉ XIX, xâm chiếm thuộc địa đã trở thành nhu cầu

cực kì bức thiết và tất yếu với tất cả các nước đế quốc. Thuộc

địa vừa là nơi các nước tư bản trút gánh nặng của những cuộc

khủng hoảng hay suy thối kinh tế ở chính quốc, vừa là nơi

cung cấp nguồn lực cho các nước tư bản phát triển. Đối với các

hai nước thực dân hàng đầu lúc bấy giờ là Anh và Pháp, cơn

khát thuộc địa càng nhân lên gấp bội. Quan hệ Anh – Pháp về

vấn đề thuộc địa luôn dai dẳng trong mâu thuẫn và căng thẳng

cũng chính bởi lòng tham vơ đáy ấy.

V.I Lênin là người kế tục xuất sắc sự nghiệp của C.Mác và

Ph.Ăngghen trong cuộc đấu tranh giải phóng nhân loại, trong

lĩnh vực nghiên cứu về thuộc địa và chủ nghĩa thực dân, đã rất

công bằng khi nhận định: “điều quan trọng là chủ nghĩa tư bản

không thể tồn tại và phát triển được nếu không thường xuyên

mở rộng phạm vi thống trị của nó, khơng khai phá những xứ sở

mới và không lôi cuốn các xứ sở không phải tư bản chủ nghĩa

vào cơn lốc kinh tế thế giới” [3; 16].

Nhà sử học D.G.E. Hall trong cuốn Lịch sử Đơng Nam Á

cũng có những đánh giá hết sức sâu sắc về quan hệ Anh – Pháp



71



về vấn đề thuộc địa ở Đông Nam Á thế kỉ XIX rằng: “Nó thuộc

về một thời kì căng thẳng nhất của cuộc cạnh tranh giữa các

nước châu Âu trong đánh chiếm thuộc địa và phản ánh những

đặc điểm xấu xa nhất của nó [7; 1006]”.

Chính vì thế, quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở

Đông Nam Á thế kỉ XIX không chỉ là sự phản ánh quan hệ ngoại

giao giữa hai nước lớn mà còn tiêu biểu cho những đặc trưng

trong quan hệ quốc tế giữa các nước tư bản trong giai đoạn

trung chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ

nghĩa.

* Xâm chiếm thuộc địa là để nâng cao uy thế và sức

mạnh của cường quốc thế giới

Về vấn đề này, V. Lênin khi nghiên cứu về chủ nghĩa đế

quốc giai đoạn này đã đưa ra một nhận định hết sức đúng đắn

rằng: “Đặc điểm trọng yếu của chủ nghĩa đế quốc là sự cạnh

tranh của một số cường quốc lớn muốn chiếm bá quyền, nghĩa

là muốn đi xâm chiếm đất đai, chủ yếu không phải nhằm trực

tiếp chiếm cho bản thân mình mà nhằm làm suy yếu đối thủ và

đánh đổ bá quyền của đối thủ nữa” [11; 31].

Nói cách khác, chủ nghĩa đế quốc theo như Lênin phân tích

đã bắt rễ từ hai mặt: một là, từ nhu cầu bành trướng của chủ

nghĩa tư bản quốc gia phát triển và hai là, từ logic thống trị của

những nhà nước của chúng, chính là nâng cao uy thế và vai trò

của mình trong thế giới tư bản.

Có thể nói, thế kỉ XIX là một thời kì đầy biến động trong

quan hệ quốc tế ở châu Âu, có ảnh hưởng chung đến tình hình

thế giới. Các cường quốc một mặt đẩy mạnh công cuộc bành

trướng ra bên ngoài, mặt khác ra sức chạy đua vũ trang, tranh

giành ảnh hưởng lẫn nhau nhằm nâng cao địa vị của mình, do



72



đó khơng tránh khỏi va chạm kịch liệt. Trên cơ sở ấy, mâu thuẫn

giữa các nước diễn biến khá phức tạp, vì chính sách của nước

nào cũng đều xuất phát từ những quyền lợi ích kỷ, kìm hãm,

làm hại lẫn nhau tồn tại và phát triển, cũng như bằng mọi giá

để đạt được vị trí cao trên trường quốc tế.

Trong suốt quãng thời gian thế kỉ XIX, có thể nói là hầu hết

mối quan hệ quốc tế ở khắp các khu vực trên thế giới đều quy

tụ vào việc tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc, chủ

yếu là Anh và Pháp. Nếu như Anh ra sức củng cố địa vị bá chủ

trên mặt biển, địa vị lũng đoạn trong nền công, thương nghiệp

thế giới và theo đuổi một kế hoạch chinh phục thuộc địa rộng

lớn ở phương Đơng thì Pháp cũng ráo riết củng cố nền chuyên

chính của giai cấp đại tư sản phản động Pháp, xúc tiến xây

dựng hạm đội và tăng cường kho vũ khí, bành trướng thuộc địa,

thậm chí Pháp còn trở thành mối đe dọa cướp lấy bá quyền trên

biển của Anh. Bối cảnh lịch sử ấy khiến cho những căng thẳng

trong quan hệ Anh – Pháp trong việc khẳng định sức mạnh và vị

thế của mình ln trở thành tâm điểm nhức nhối và dai dẳng

trong quan hệ giữa hai nước trong suốt thời gian này.

Đến những năm 50 – 60 của thế kỉ XIX, ưu thế kinh tế thế

giới của Anh đạt tới đỉnh cao. Tự do thương mại và bá quyền

trên nước mặn trở thành khẩu hiệu tiến công của chính sách

ngoại giao Anh. Giai cấp tư sản tự do Anh cho rằng việc tuyên

truyền và thực hiện các khẩu hiệu này là cách tốt nhất, đúng

nhất để bảo đảm địa vị độc quyền trên thị trường quốc tế. Cách

khác, là tiến hành những cuộc chiến tranh thuộc địa và đàn áp

không thương tiếc những cuộc khởi nghĩa của nhân dân phương

Đông [6; 15].



73



Ở Pháp, sau một thời gian phát triển lâu dài, cuộc cách

mạng công nghiệp ở nước này cũng đã hoàn thành vào những

năm 50 – 60 của thế kỉ XIX. Nhịp độ phát triển nhanh chóng của

Pháp về mọi mặt đã đưa quốc gia này trở thành cường quốc tư

bản đứng thứ hai sau Anh. Pháp cũng coi việc chạy đua sức

mạnh quân sự và xâm chiếm thuộc địa là biện pháp hữu hiệu

nhất để nâng cao hơn nữa vị thế của mình. Ngồi ra, một số ý

kiến cho rằng chủ nghĩa đế quốc Pháp thế kỉ XIX còn nhằm phục

vụ một mục tiêu quan trọng là phục hồi danh dự và những thiệt

thòi của Pháp đã bị mất di sau Hội nghị Vienne 1815.

Như vậy, mục đích nâng cao uy thế và khẳng định sức

mạnh của cường quốc thế giới chính là tác nhân khiến cho Anh

và Pháp mở rộng sự thống trị và việc hai nước trở thành những

đối thủ không đội trời chung sẽ là một hệ quả tất yếu. Nói cách

khác, chính tham vọng vươn lên vị trí thống trị của hai cường

quốc Anh, Pháp là động cơ quan trọng để hai nước dồn mọi sức

lực vào cuộc đối đầu với nhau, trong đó vấn đề thuộc địa là mấu

chốt. Trong bối cảnh Đông Nam Á, nơi thực dân Anh, Pháp để

mắt từ lâu đang lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện về mọi

mặt, đã khiến cho tình hình khu vực thật sự chẳng khác nào

một người bệnh để thực dân Anh, Pháp nhảy vào phân chia,

tranh gia tài kếch sù này.

Tóm lại, thế kỉ XIX, không chỉ Đông Nam Á, hầu như đâu

đâu Pháp và Anh cũng là kình địch của nhau, tất cả vì mục đích

tối quan trọng là trở thành đế chế hùng cường. Mâu thuẫn Anh,

Pháp ngày một gay gắt cả ở thế giới cũ cho đến những lục địa

mới. Quan hệ Anh – Pháp về vấn đề Đơng Nam Á là một minh

chứng cho điều đó.



74



3.1.2. Quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở Đông

Nam Á diễn ra trong khoảng thời gian dài và phức tạp

Có thể nói, thế kỉ XIX là thế kỉ của hàng loạt những mối

quan hệ chồng chéo tiếp diễn giữa các nước đế quốc. Những

mâu thuẫn, tranh chấp trở thành điển hình, chủ đạo trong quan

hệ ngoại giao giữa các nước đế quốc và là vấn đề chính yếu

trong quan hệ quốc tế. Trong vô vàn những mâu thuẫn quốc tế

nảy sinh thời kì này, hiếm có mâu thuẫn nào lại diễn ra trong

khoảng thời gian dài và phức tạp như quan hệ Anh – Pháp tại

Đông Nam Á.

Theo đó, bước vào thế kỉ XIX, Anh và Pháp đã chính thức

bắt tay vào hành trình thâu tóm những vùng lãnh thổ ở Đơng

Nam Á vào tay mình. Chính vì cùng ấp ủ chung khát vọng bành

trướng Đông Nam Á, cho nên tiến trình thực hiện mục tiêu của

Anh và Pháp đã trực tiếp hoặc gián tiếp động chạm đến những

phạm vi quyền lợi đôi bên mà hai nước đã vạch ra ở khu vực

này. Đó là cơ sở phát sinh của rất nhiều mâu thuẫn và căng

thẳng trong quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở Đông

Nam Á xuyên suốt thế kỉ XIX.

Tuy nhiên, Anh và Pháp cũng nhận thức được rằng: một khi

đã là những đua tranh về quyền lợi – yếu tố quan trọng thiết

thân với bất kì quốc gia tư bản nào, thì đều là những cuộc cạnh

tranh khốc liệt không thể giải quyết trong một sớm một chiều.

Mặc dù bản thân hai nước không đặt vấn đề phải nuốt trọn

Đông Nam Á về mình, nhưng tính chất ích kỷ của chủ nghĩa tư

bản sẽ không cho phép Anh và Pháp khoanh tay nhìn đối

phương vượt mặt mình hay làm phương hại đến những quyền lợi

chiến lược của mình ở Đơng Nam Á. Mặt khác, q trình Anh –

Pháp thơn tính thuộc địa ở Đơng Nam Á cũng vấp phải khơng ít



75



khó khăn từ sự phản kháng của nhân dân bản địa, cũng như

chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan hệ quốc tế châu Âu. Việc

bản thân quan hệ Anh – Pháp chịu tác động từ nhiều mặt như

vậy khiến cho ở những thời kì khác nhau, quan hệ Anh – Pháp

cũng có những chuyển biến khác nhau trong vấn đề phân chia

thuộc địa, khi thì căng thẳng đối đầu, lúc lại thỏa hiệp đàm

phán. Chính xác là những đắn đo khi phải đặt quyền lợi ở Đông

Nam Á lên bàn cân để tính tốn để cả Anh và Pháp đều có thể

chấp nhận được đã làm cho quá trình giải quyết ln vấp phải

những bất hòa, vướng mắc, những lắt léo ngoại giao kéo dài. Vì

vậy, con đường để Anh – Pháp thống nhất lập trường chung về

phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Đông Nam Á diễn ra rất lâu, mãi

cuối thế kỉ XIX mới phân định được ranh giới.

Bên cạnh đó, quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở

Đơng Nam Á thế kỉ XIX còn là mối quan hệ diễn biến phức tạp

với các lợi ích đan xen chồng chéo, các nhân tố tác động tới mối

quan hệ cũng mang tính phức tạp và ln biến động không

ngừng. Đặc biệt, quan hệ Anh – Pháp vẫn nằm trong xu thế

chung trong quan hệ quốc tế giữa các nước lớn, do đó mỗi hành

động, mỗi bước đi dù là nhỏ nhất cũng phải được suy nghĩ cẩn

trọng, tùy biến linh hoạt theo hồn cảnh.

Nhìn chung, sự phức tạp trong quan hệ Anh – Pháp được

biểu hiện thông qua có một số đặc điểm chính như sau:

Thứ nhất, quan hệ Anh - Pháp luôn phản ánh đầy đủ hai

mặt hợp tác và cạnh tranh lẫn nhau, trong đó cạnh tranh là chủ

yếu. Nói cách khác, những tác động từ q trình xâm chiếm

thuộc địa là nó đã khiến mối quan hệ giữa Anh và Pháp trở nên

hết sức phức tạp: lúc thì tranh giành, căng thẳng, lúc thỏa hiệp,

hợp tác. Sự tranh giành đã trở thành tất yếu đối với các nước đế



76



quốc khi mà nhu cầu thuộc địa đã trở nên bức thiết và những

mảnh đất vô chủ thì chẳng còn bao nhiêu. Hai đế quốc này

đụng độ về quyền lợi với nhau ở rất nhiều khu vực: tại Châu Phi,

nổi bất nhất là quyền lợi ở Ai Cập (vụ kênh đào Xuyê), Xuđăng

(vụ Phasôđa)… Năm 1898, tại làng Beticubas ở Tây Ni-giê, quốc

kì Anh và Pháp kéo lên chỉ cách nhau 800 thước. Nhưng rồi sự

căng thẳng cuối cùng cũng phải dịu xuống và giải pháp hợp tác

đã được lựa chọn, Pháp buộc phải nhường Ai Cập cho Anh và rút

lui khỏi vùng Fasôđa, không dám tranh chấp Đông Xu-đăng với

Anh. Ở châu Á, Pháp chấp nhận giải pháp của Anh biến Xiêm

thành vùng đệm giữa khu vực thuộc địa của Anh và của Pháp và

cuối cùng đành để Xiêm trở thành nơi ảnh hưởng nhiều hơn của

Anh. Sự phát triển quan hệ hợp tác chỉ có thể diễn ra khi cả hai

quốc gia khơng can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn

trọng sự lựa chọn của đối phương hay khi có sự xuất hiện của

một bên thứ ba nào đó đe dọa đến quyền lợi của Anh và Pháp.

Thứ hai, sự hợp tác hay cạnh tranh trong chiều dài quan hệ

Anh – Pháp chịu tác động của các nhân tố điểm và diện. Pháp

có thể xác định Anh là đối thủ trong lĩnh vực này nhưng lại là đối

tác trong lĩnh vực khác và ngược lại. Yếu tố này biến đổi theo

từng giai đoạn, theo từng lĩnh vực, từng vấn đề cụ thể và ở cấp

độ toàn cầu, khu vực hay song phương. Ví dụ như vào giữa thế

kỉ XIX, khi vấn đề thuộc địa ở Đơng Nam Á vẫn đang là điểm

nóng trong quan hệ Anh – Pháp thì ở châu Âu Anh và Pháp vẫn

là đồng minh với nhau: dưới thời đế chế II, nước Pháp tham gia

chiến tranh Crưm (1853 – 1856) đã liên minh với Anh để hạn

chế ảnh hưởng của Nga ở vùng Hắc Hải [20; 65]. Hay sự kiện

tháng 4 – 1893, khi Pháp dẫn ba đạo quân chiếm đóng vùng

lãnh thổ mà họ đã yêu sách ở vùng hạ lưu sông Mê Công, Xiêm



77



yêu cầu Anh giúp đỡ nhưng Huân tước Rosebery đã trả lời một

cách rất thẳng thắn và nó cũng được chuyển ngay cho Bộ ngoại

giao Pháp rằng Xiêm nên tránh không làm bất cứ điều gì có thể

kích động Pháp gây ra chiến tranh. Khi vị trí của Pháp tại đảo

Khone bị tấn công, tướng Pháp Thoreux bị bắt, Anh ủng hộ yêu

cầu của Pháp đòi Xiêm thả viên tướng này. Hay sự xuất hiện và

gây áp lực muốn chia sẻ một phần quyền lợi của tư bản Đức ở

nước Xiêm trong những năm cuối thế kỉ XIX đòi hỏi Anh – Pháp

nhanh chóng hợp tác với nhau để đi đến xác định lãnh địa và

ranh giới chính thức của mình là một ví dụ.

Thứ ba, Anh và Pháp ln coi đối phương là nhân tố hàng

đầu trong chính sách đối ngoại của mình, thậm chí là nhân tố

quan trọng nhất trong giai đoạn bành trướng thuộc địa thế kỉ

XIX. Có thể coi quan hệ Anh - Pháp là trục chính, xuyên suốt

trong chính sách bành trướng tồn cầu và khu vực vì lợi ích

quốc gia mà thực dân châu Âu theo đuổi trong thế kỉ XIX. Cả hai

nước đã hoạch định đối sách để cạnh tranh ảnh hưởng với nhau,

nâng cao vai trò của mình, mong muốn thiết lập một trật tự thế

giới có lợi nhất cho mình, nhưng đơi lúc hai nước cũng cần có

nhau như là một đối tác phát triển, một đồng minh tức thời

không thể thiếu.

Thứ tư, luôn tồn tại sự thiếu tin tưởng lẫn nhau trong quan

hệ Anh - Pháp do đặc điểm của cạnh tranh chiến lược giữa hai

cường quốc này. Thực tế đã chứng minh trong q trình Anh –

Pháp theo đuổi mục đích bành trướng của mình ở Đơng Nam Á,

bất cứ động thái nào dù là nhỏ nhất của Anh hoặc Pháp cũng

khiến bên kia nghi ngờ, đề phòng, đòi hỏi sự giải thích, cam kết

ngay cả khi nó hồn tồn vơ hại. Ví dụ như sự kiên tháng 4 –

1893, khi tình hình Băng Cốc trở nên căng thẳng bởi xung đột



78



Pháp – Xiêm, hai chiếc tàu chiến Anh mang tên Swift và Pallas

lần lượt được Anh điều tới đây để bảo vệ các công dân và tài

sản Anh trong trường hợp có rắc rối. Việc này vơ tình dấy lên

mối nghi ngờ của Pháp, sau đó Anh đã gửi tới lời giải thích đầy

đủ cho chính phủ Pháp và đảm bảo rằng, Chính phủ Anh đang

làm hết sức mình để thuyết phục Xiêm đi tới một hiệp nghị thân

thiện với Pháp. Để đáp lại, chính phủ Pháp sẽ thơng báo ngay

lập tức cho Anh mọi hoạt động của hạm đội Pháp trong khu vực

lân cận Xiêm [7; 996].

Như vậy, trên nền tảng chịu sự chi phối của nhân tố lợi ích

quốc gia và và tham vọng nâng cao tầm ảnh hưởng trên trường

quốc tế đã khiến cho quan hệ Anh – Pháp ở Đông Nam Á diễn ra

dai dẳng suốt gần một trăm năm dài và hết sức phức tạp, xoay

quanh những tị hiềm, mâu thuẫn trong vấn đề giành giật thuộc

địa – điều cực kì quan trọng đối với tư bản Anh, Pháp.

3.1.3. Quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở Đơng

Nam Á là một trong ít những mâu thuẫn có thể giải

quyết bằng biện pháp hòa bình

Có thể nói, trên con đường bành trướng thuộc địa của chủ

nghĩa đế quốc thế kỉ XIX, Đông Nam Á không phải là địa bàn

duy nhất mà Anh – Pháp giao tranh, mà hầu như bất cứ khu vực

được giới thực dân châu Âu để mắt tới thì y rằng ở đó có những

mâu thuẫn, xung đột giữa hai quốc gia này.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý khi biện giải những nội dung

liên quan đến quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở Đông

Nam Á lại nằm ở chỗ đây là một trong số ít những mâu thuẫn có

thể giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Nhất là trong bối cảnh

của thế kỉ XIX, khi mà xâm chiếm thuộc địa đã trở thành một

vấn đề sống còn, là đặc trưng, mục đích hàng đầu của bất kì



79



nước tư bản nào trong quá trình chuyển mình lên giai đoạn đế

quốc chủ nghĩa và giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực được xem

như là con đường ngắn nhất để đạt được ý đồ của mình. Ví dụ

như: chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895), chiến tranh Mĩ –

Tây Ban Nha (1898)...

Hơn nữa, không phải đến thời điểm thế kỉ XIX, Anh và Pháp

mới xuất hiện những bất đồng về vấn đề thuộc địa, mà ngay từ

những thế kỉ trước đó, hai nước đã là kẻ thù khơng đội trời

chung, ln tìm cách phá hoại lẫn nhau. Có thể kể đến một vài

ví dụ như cuộc chiến tranh Anh – Pháp ở Ấn Độ (1746 – 1763);

liên minh Pháp – Mỹ trong cuộc chiến tranh giành độc lập của

13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ năm 1776 nhằm mục đích trả

thù nước Anh do sự thất bại của Pháp trong cuộc chiến tranh

giành giật đất đai ở Bắc Mỹ - một thất bại đã làm sụp đổ giấc

mơ của đế chế Pháp tại đây; dưới thời Đế chế Napoleon, suốt

trong giai đoạn từ 1792 – 1815, Anh đã 7 lần tổ chức, tham gia

liên minh chống Pháp nhằm làm suy yếu sự hùng mạnh về kinh

tế của tư bản Pháp, gạt bỏ mối đe dọa từ nước Pháp trên những

địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược đối với Anh. Quá khứ

đầy thù hằn sâu sắc ấy khiến cho quan hệ Anh – Pháp luôn bị

đặt trước ranh giới hết sức mong manh của một cuộc chiến một

mất một còn bất cứ lúc nào giữa hai cường quốc.

Chính vì vậy, việc Anh và Pháp có thể ngậm đắng nuốt cay

để đi tới một thỏa hiệp với nhau ở Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX

quả là một cái kết bất ngờ, song đây cũng là kết thúc không

mấy ngạc nhiên bởi những nguyên nhân khách quan và chủ

quan như sau:

* Nguyên nhân khách quan:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ ANH – PHÁP VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA Ở ĐÔNG NAM Á THẾ KỈ XIX

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×