Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2. DIỄN BIẾN QUAN HỆ ANH – PHÁP VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA Ở ĐÔNG NAM Á THẾ KỈ XIX

Chương 2. DIỄN BIẾN QUAN HỆ ANH – PHÁP VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA Ở ĐÔNG NAM Á THẾ KỈ XIX

Tải bản đầy đủ - 0trang

34



năm 1824 và Hiệp ước thương mại với Xiêm năm 1826. Những

năm tiếp theo, Anh di chuyển sâu hơn đến Miến Điện và bán

đảo Mã Lai.

Theo sau Anh, Pháp cũng mong muốn đẩy mạnh sự hiện

diện của họ ở Đông Nam Á. Vào những năm 1830, Pháp đề nghị

với Madrid về việc mua một đảo nhỏ là Basilan ở miền Nam

Philippines để phục vụ cho mục tiêu mở rộng ảnh hưởng xung

quanh khu vực Đông Nam Á [4; 67]. Bên cạnh đó, Pháp khơng

ngừng gia tăng ảnh hưởng, đẩy mạnh xâm chiếm Đơng Dương –

bán đảo nằm phía đơng Indochiana mà phương Tây đặt cho

Đơng Nam Á, là vùng có vị trí quan trọng đối với chính sách

bành trướng của Pháp ở châu Á, là vùng giàu hương liệu,

nguyên liệu, nhân cơng nhất nhì Đơng Nam Á cùng với bán đảo

Indonesia. Theo đó, kể từ sau những cuộc thám hiểm của những

nhà buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và giáo sĩ Thiên chúa

giáo, việc xem xét kĩ lưỡng tình hình khu vực này đã được Pháp

chuẩn bị hồn tất từ những năm cuối của thế kỉ XVI, XVII. Đến

năm 1858 liên quân Pháp – Tây Ban Nha bắt đầu nổ súng xâm

lược Việt Nam tại Đà Nẵng, sau đó Pháp bắt đầu thực hiện xâm

chiếm tồn bộ Đơng Dương trong 35 năm, đánh dấu cho cột

mốc hoàn tất cơng cuộc chinh phục bằng vũ lực ấy chính là

Hiệp ước Pháp – Xiêm vào năm 1867 nhượng Campuchia cho

Pháp và hiệp ước năm 1893 nhượng Lào cho Pháp. Như vậy,

Pháp là chủ hợp thức tại bán đảo Đông Dương.

Sự phát triển thuộc địa của Anh ở Miến Điện, bán đảo Mã

Lai, của Pháp ở Đông Dương dẫn đến sự xung đột về quyền lợi

của hai đế quốc lớn này ở Xiêm. Mâu thuẫn Anh – Pháp về vấn

đề Xiêm là tiêu điểm trong quan hệ Anh – Pháp sau suốt mấy

thập kỉ dài hai cường quốc thực dân căng thẳng trong việc cạnh



35



tranh nhằm xác lập địa phận của mình ở Đơng Nam Á. Đó là

cuộc đua khơng khoan nhượng giữa hai nước trong phần còn lại

của cái bể thị trường, nhân công, nguyên nhiên liệu bậc nhất tại

Đông Nam Á.

Tóm lại, q trình xâm lược của Anh và Pháp ở Đơng Nam

Á chính là phản ánh thời kì các nước tư bản đã bước sang giai

đoạn chủ nghĩa đế quốc đang khao khát thị trường, nguyên liệu

và nhân cơng rẻ mạt đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết trong bản

thân mỗi nước. Đồng thời, đó cũng là căn nguyên mấu chốt của

những mâu thuẫn tất yếu sẽ phát sinh giữa hai đối thủ kình địch

này ở khu vực này.

2.1.2. Khởi đầu quan hệ Anh – Pháp ở Đông Nam Á

Trước hết, phải khẳng định rằng, mâu thuẫn trong quan hệ

Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa ở Đông Nam Á không phải đến

thế kỉ XIX mới phát sinh, mà là một sự tiếp nối của một chuỗi

những mâu thuẫn từ các thế kỉ trước trong bối cảnh chủ nghĩa

tư bản ngày càng cần thuộc địa. Cuộc chiến tranh Bảy năm

(1756 – 1763) giữa Anh và Pháp ở Ấn Độ là minh chứng cho

điều đó. Đây là một sự kiện có tác động trực tiếp đến khu vực

Đơng Nam Á, bởi vì, nhờ thắng lợi của cuộc chiến tranh này mà

suốt khoảng thời gian 100 năm, từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế

kỉ XIX, Anh bình tĩnh một mình chinh phục Ấn Độ, xâm chiếm và

thiết lập chế độ thuộc địa các vùng đất phía tây của Đông Nam

Á: ở Malaya, Brunei, Miến Điện.

Đầu thế kỉ XIX, tình hình quốc tế có bước xoay chuyển

cùng với những thay đổi về địa vị của các cường quốc châu Âu.

Nếu trước hội nghị Vienne, nước Pháp đóng vai trò chi phối tình

hình châu Âu thì sau năm 1815, vị trí này được nhường lại cho

nước Anh. Trật tự ở châu Âu đã tác động nhất định đến vị thế



36



của các quốc gia thuộc châu lục này trong việc tranh giành

những vùng lãnh thổ của họ ở hải ngoại, trong đó có khu vực

Đơng Nam Á.

Là một đối thủ ngang ngửa và tiềm tàng của Anh, lại chịu

phần thua thiệt ở Ấn Độ, Pháp quyết tâm không để Anh độc

chiếm những nguồn lợi cực kì to lớn ở Đơng Nam Á. Miến Điện

chính là địa bàn đầu tiên châm ngòi cho những mâu thuẫn trong

quan hệ Anh – Pháp về vấn đề thuộc địa tại khu vực này.

Theo đó, quan hệ giữa Miến Điện và các quốc gia châu Âu

như Anh và Pháp đã có từ rất sớm. Người Anh đến đây vào cuối

thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII họ đã lập được những thương điếm

đầu tiên ở Negrais và Bátxây. Cuối thế kỉ XVII, Pháp cũng đã đặt

chân đến Miến Điện và âm mưu biến vùng đất này thành thuộc

địa. Từ giữa thế kỉ XVIII, cả Anh và Pháp đều tìm cách can thiệp

vào nội bộ Miến Điện. Trong cuộc chiến tranh của vua Alaun Pai

chinh phục người Môn ở Hạ Miến, Công ty Đông Ấn Anh (EIC) đã

giúp người Miến, còn cơng ty Đơng Ấn của Pháp (CIO) thì ủng hộ

người Mơn. Cuộc đấu tranh để tranh giành ảnh hưởng giữa

người Anh và người Pháp ở Miến Điện bắt đầu từ đấy. Tuy nhiên,

lúc bấy giờ, nước Miến Điện phong kiến còn đủ mạnh để ngăn

cản hai kẻ thù cạnh tranh này.

Thực dân Anh chú ý đến Miến Điện trước hết là vị trí chiến

lược quan trọng của nước này. Từ đây, trước hết là Hạ Miến, Anh

sẽ củng cố được chỗ đứng vững chắc trên vịnh Bengan, tạo nên

một mắt xích trung gian trên đường từ Ấn Độ đi Malacca để qua

Thái Bình Dương. Miến Điện còn là cửa ngõ để xâm nhập vùng

tây nam Trung Quốc. Sự giàu có về lúa gạo và tài nguyên thiên

nhiên (đặc biệt là gỗ tếch và các mỏ kim loại, dầu lửa) của Miến

Điện càng thôi thúc dã tâm xâm lược của thực dân Anh.



37



Cũng giống như Anh, Pháp cũng nhận thức được lợi ích của

Miến Điện và lập những chiến lược tương tự để tìm kiếm cơ hội

ở vùng đất này. Điều này thể hiện rất rõ thông qua một số căn

cứ việc Pháp xây dựng xưởng đóng tàu ở Miến Điện nhằm khống

chế hoạt động hàng hải ở vùng vịnh Bengal; những hậu thuẫn

quân sự của Pháp cho người Mơn và triều đình Pegu để đổi lấy

những đặc quyền thương mại cũng như gây dựng ảnh hưởng tại

đây (hiệp ước Pháp – Môn 1751) ở thế kỉ XVIII. Tuy nhiên, những

động thái của người Pháp chẳng thể qua nổi con mắt quan sát

của người Anh ở vùng vịnh Bengal, chính vì vậy, quan hệ Anh –

Pháp về vấn đề Miến Điện thời điểm thế kỉ XVIII đã chứa đựng

bất hòa sâu sắc.

Ban đầu, để thơn tính Miến Điện, người Anh đã tiến hành

chính sách ly gián dân tộc, ủng hộ phong trào ly khai của các

dân tộc thiểu số. Năm 1753, lợi dụng tình hình khó khăn, nội

chiến giữa lực lượng Alaungpaya – người sáng lập ra vương triều

Konbaung (1752 – 1785) và người Môn, Công ty Đông Ấn Anh

(EIC) đã chiếm một điểm hết sức chiến lược trên vịnh Bengal, đó

là đảo Negrais. Từ vị trí này, người Anh hi vọng kiểm soát được

hoạt động của người Pháp đang gia tăng ở khu vực này. Bị xâm

phạm chủ quyền, ban đầu Alaungpaya phản ứng nhẹ nhàng qua

cơng thư đệ trình gửi đến vua nước Anh là George II. Nhưng tình

hình trở nên xấu đi khi chính phủ Anh khơng những phớt lờ trả

lời mà còn hậu thuẫn cho người Môn chống lại vương triều

Konbaung. Hành động này của Anh đã làm cho quốc vương Miến

Điện phẫn nộ, đi đến quyết định tàn sát các viên chức EIC có

mặt trên đảo Negrais vào tháng 10 – 1759. Hành động này có

sự giúp đỡ của người Pháp. Có lẽ đây là hành động đáp trả của

người Pháp đối với những gì mà họ thua thiệt trong cạnh tranh



38



ảnh hưởng và thuộc địa với người Anh tại vùng vịnh Bengal nói

riêng. Trò chơi quyền lực Pháp – Anh trên tiểu lục địa Ấn Độ làm

cho EIC phải ngậm bồ hòn làm ngọt, chấp nhận thua một keo ở

đảo Negrais và thả lỏng Miến Điện suốt gần ba thập niên.

Bản thân nội bộ thực dân Pháp thời điểm giữa thế kỉ XVIII

tồn tại hai lập trường khác nhau: một là, đối đầu với Anh, tiếp

tục lấn sân thâu tóm Miến Điện; hai là, tạm thời tập trung cơng

cuộc thơn tính các quốc gia trên bán đảo Đông Dương, tránh

những đụng độ đầy bất lợi trước Anh – đối thủ sẽ khơng bao giờ

bằng lòng nhân nhượng trong vấn đề Miến Điện. De Bruno –

người đại diện Pháp kí với triều đình Pegu của người Mơn Hiệp

ước thương mại 1751 - từng khẳng định trong báo cáo của mình

rằng: người Pháp đã được dâng một cơ hội mười mươi và chỉ cần

khoảng 500 đến 600 quân thiện chiến thì người Pháp có thể

kiểm sốt được Vương quốc Mơn. Ý tưởng này được Thống đốc

Dupleix ủng hộ và thỉnh cầu Ban Giám đốc Công ty Đông Ấn

Pháp (CIO) khẩn trương phê duyệt kế hoạch dùng quân đội

chinh phạt vương quốc của người Môn. Tuy nhiên, Ban Giám đốc

CIO đã khước từ đề nghị này, khuyến cáo Dupleix rằng: “những

quyền lợi thương mại trong bản hiệp ước thương mại năm 1751

là quá đủ cho hoạt động của Công ty tại Pegu, những can thiệp

quân sự không chỉ gây tốn kém tiền bạc mà đồng thời làm căng

thẳng thêm mối quan hệ với người Anh” [9; 78]. Như vậy, Pháp

đã chọn phương án thứ hai, tạm gác đi những mưu toan đối với

Miến Điện – đây là điều rõ ràng là có lợi hơn cho Pháp khi mà

vấn đề Đông Dương chưa được giàn xếp ổn thỏa. Do đó, những

thập niên cuối thế kỉ XVIII, mâu thuẫn Anh – Pháp về vấn đề

Miến Điện tạm thời lắng xuống.



39



Như vậy, ngay từ đầu, khi tiến hành kế hoạch xâm chiếm

Đông Nam Á, giữa Anh và Pháp đã có sự đối đầu với nhau. Trên

thực tế, cả hai nước đã thực hiện ý đồ của mình hiển nhiên với

một mục đích duy nhất là: khai thác triệt để bất kì tình hình nào

có thể sử dụng được để phục vụ lợi ích của họ, thơn tính lãnh

thổ Đơng Nam Á vào tay mình. Những mâu thuẫn ban đầu giữa

hai cường quốc trong thế kỉ XVIII ở Miến Điện đã báo hiệu cho

một thời kì căng thẳng tất yếu xảy ra trong quan hệ Anh – Pháp

ở thế kỉ tiếp sau.

2.2. Quan hệ Anh – Pháp về vấn đề Miến Điện

2.2.1. Anh xâm lược Miến Điện

Cũng giống như chính sách đối với thế giới Malaya, sự

quan tâm của Anh về Miến Điện trong thế kỉ XVIII – XIX trước

hết là phục vụ cho lợi ích an ninh của xứ thuộc địa ở Ấn Độ và

mở đường thâu tóm bn bán tại Trung Quốc. Tuy nhiên, mục

tiêu bao trùm của người Anh, nhất là từ nửa sau thế kỉ XIX là

nhằm thỏa mãn tham vọng đế quốc, muốn khẳng định và duy

trì vị thế nổi trội của mình ở Đơng Nam Á cũng như trên tồn

thế giới. Chính vì vậy, trong suốt thế kỉ XIX cho đến những thập

niên đầu thế kỉ XX sau này, người Anh luôn coi Miến Điện là một

phần mở rộng của Ấn Độ - về cả kinh tế, văn hóa cũng như

chính trị. Quá trình này được xúc tiến mạnh mẽ từ cuối thế kỉ

XVIII, khi nền móng thuộc địa của Anh được khẳng định vững

chắc tại Ấn Độ.

Đầu thế kỉ XIX, thực dân Anh đã xâm chiếm gần hết bán

đảo Ấn Độ, đặc biệt miền Bengal của Ấn Độ đã trở thành thuộc

địa của Anh. Lúc ấy, Anh là cường quốc châu Âu mạnh nhất ở

Đơng Nam Á, lại có thuộc địa sát nách Miến Điện, việc chiếm

đất nước này đã nằm trong tầm tay của người Anh. Cụ thể,



40



Bengal nằm ở bờ biển phía Đơng của Ấn Độ, sát với vương quốc

Ava của người Miến Điện, là bàn đạp để người Anh tấn công vào

quốc gia này.

Tuy nhiên, thực dân Anh biết rằng để đạt được mục đích áp

đặt quyền uy tối thượng ở Miến Điện, Anh cần phải loại trừ vĩnh

viễn ảnh hưởng của Pháp ở vương quốc này, quyết định mà

chính quyền Anh cho là để tránh đêm dài lắm mộng chính là sử

dụng vũ lực thơn tính Miến Điện ngay dứt điểm.

Đầu năm 1824, Anh tuyên chiến với Miến Điện. Theo quan

điểm chính thức của Anh (thơng qua lời Tuyên bố chiến tranh

với Miến Điện do Tổng đốc Amherst của Anh tại Calcutta ngày 5

– 3 – 1824) thì việc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miến

Điện lần thứ nhất là để “tạo một dấu ấn về quyền lực và các

nguồn tài nguyên của đế chế Anh ở Ấn Độ và để ngăn cản

vương triều Ava khỏi bất kì một nỗ lực nào làm rối lên mối quan

hệ thân thiện. Điều này có thể đạt được nhờ kết quả của cuộc

chiến tranh này”, rằng “người Miến Điện phải bị trừng phạt một

cách thích đáng để họ khơng thể gây thêm một điều gì bất lợi

cho an ninh của Anh, và không đủ để biến họ thành kẻ thù

không đội trời chung, những kẻ sẽ quấy rối cố chấp trong tương

lai” [8; 128] . Tuy nhiên, đây chỉ là những lời ngụy biện cho

hành động xâm lược với quy mô lớn mà thực dân Anh tiến hành

đối với Miến Điện ngay sau đó. Đồng thời đây cũng chính là mốc

đánh dấu Anh bắt đầu có những hành động đầy dứt khoát và

quyết liệt của người Anh nhằm ngăn chặn không cho bất cứ bên

thứ ba nào nhúng tay chia phần ở Miến Điện, đặc biệt là Pháp

để bá chủ mảnh đất này.

Từ năm 1824 đến năm 1886, thực dân Anh đã liên tiếp tổ

chức các cuộc chiến tranh chinh phục, xâm lược Miến Điện, biến



41



nước này thành thuộc địa của mình. Nước Anh đã sử dụng vũ

lực để chiếm từng phần lãnh thổ của Miến Điện nhằm thỏa mãn

tham vọng đế quốc, xác định vị thế nổi trội của họ ở Nam Á và

Đông Nam Á.

2.2.2. Pháp can thiệp vào Miến Điện và động thái của

Anh

Ở Miến Điện, người Pháp đến muộn hơn nếu so sánh với

người Anh, nhưng khơng phải vì thế mà Pháp bỏ đi cơ hội tranh

giành ảnh hưởng với Anh ở miền đất trù phú này. Với nhãn quan

thực dân tinh tường và từng trải, Pháp đã sớm nhận thấy vị trí

địa lý thuận lợi của Miến Điện, cũng như nguồn tài nguyên thiên

nhiên giàu có của vương quốc này. Do đó, Miến Điện sớm được

Pháp xem như một mục tiêu quan trọng trong q trình mở rộng

ảnh hưởng ở Đơng Nam Á.

Nhưng trong suốt thời kì nửa đầu thế kỉ XIX, khi Anh ráo

riết lôi kéo Miến Điện ra khỏi tầm tay của Pháp hồn tồn thì

người Pháp có vẻ điềm tĩnh hơn và hầu như khơng có động thái

gì ngăn chặn Anh. Bởi vì, Pháp thấy rằng đây khơng phải là thời

điểm thích hợp để đối đầu trực diện với người Anh:

Thứ nhất, sau khi đế chế Napoleon sụp đổ, vị thế của Pháp

ở châu Âu chẳng những bị hạ bệ rõ rệt, mà nước này còn phải

đối mặt với rất nhiều khó khăn do sự trỗi dậy của thế lực phong

kiến phản động, sự bùng nổ phong trào công nhân.

Thứ hai, vương quốc Miến Điện thời kì này đang trong giai

đoạn suy yếu nhưng tinh thần mạnh mẽ của dân tộc Miến

không thể khuất phục ngày một ngày hai.

Thứ ba, Pháp e ngại một cuộc chiến tranh có thể sẽ xảy ra

với Anh nếu có bất cứ động thái nào đi quá giới hạn trong thời

điểm nhạy cảm này.



42



Do đó, Pháp lặng yên quan sát cuộc xâm lược của Anh trên

đất Miến trong tâm thế ngư ông đắc lợi, chờ thời cả hai suy

nhược và mệt mỏi để lách vào chiếm phần ở Miến Điện.

Tuy nhiên, Pháp lại chủ quan không hay biết rằng, sau

cuộc chiến tranh Anh – Miến lần thứ nhất, với việc triều đình Ava

kí với Anh Hiệp ước Yandabo ngày 24 – 2 – 1826, Pháp rất khó

len chân vào Miến Điện vì việc thơn tính tồn bộ vương quốc

này từ đây đã nằm trong kế hoạch của thực dân Anh. Cũng sau

Hiệp ước Yandabo, chủ quyền Miến Điện chỉ còn tồn tại trên

danh nghĩa; còn Anh chiếm được hai tỉnh duyên hải rộng lớn là

Arakan và Tenasserim – nơi giàu có về tài nguyên thiên nhiên và

là vị trí chiến lược cho đế chế Anh bành trướng, kiểm sốt Ấn

Độ, mở rộng ảnh hưởng xuống Đơng Nam Á và Nam Thái Bình

Dương.

Phải đến khi chiến tranh Anh – Miến lần thứ hai kết thúc

và người Anh đã biến một vùng rộng lớn thành thuộc địa không

chỉ vùng duyên hải ven biển phía Tây và Nam, mà bao gồm cả

phần Hạ Miến, Pháp mới cuống cuồng can thiệp trở lại Miến

Điện.

Sau sự kiện Miến Điện bị Anh ép kí Hiệp ước nơ dịch

thương mại mới tại Mandalay vào ngày 25 – 10 – 1867, vua

Miến tìm đến Pháp xin liên minh để phá thế bao vây, phong tỏa

của Anh (năm 1873). Nhân cơ hội đó, Pháp đã lập tức tìm cách

nhúng tay vào tình hình Miến Điện, chủ đích của Pháp chính là

lợi dụng sự suy yếu của Miến Điện để nơ dịch bằng việc kí các

Hiệp ước bất bình đẳng.

Trước tình hình đó, Anh đã cảnh cáo Pháp rằng tuy “Miến

Điện là một nước độc lập nhưng nước này vẫn ở trong phạm vi

ảnh hưởng của Anh và không một sự can thiệp nào từ bất kì



43



một cường quốc châu Âu nào khác sẽ được dung thứ [6; 923]”.

Tất nhiên, lời cảnh cáo đó khơng thế khiến Pháp dừng chân

trong vấn đề Miến Điện.

Theo đó, Hiệp định song phương Pháp – Miến được kí vào

ngày 15 – 1 – 1885. Bản thân Hiệp định này không đưa ra được

sự nhượng bộ nào dành cho Pháp mà chỉ quy định các quyền cư

trú, thương mại và đặc quyền tối huệ quốc. Nhưng cái Miến

Điện đạt được hơn cả chính là vị thế chủ quyền được nhìn nhận;

còn phía Pháp thì được đặt lãnh sự tại Mandalay. Ngồi ra, còn

có hai hiệp định mật khác cho phép Pháp có nhượng địa làm

đường sắt, lập đội thương thuyền trên sông Iraoađi, lập nhà

băng, khai thác mỏ. Pháp nhận Miến Điện là nước trung lập dưới

sự bảo hộ của Pháp, Ý, Đức; Pháp cũng hứa giúp vũ khí cho

Miến Điện [9; 139].

Những cuộc gặp mặt thỏa thuận ngầm giữa Pháp và Miến

Điện đã đánh động đến Anh, nó khiến cho giới quan chức và

thương gia Anh vô cùng lo lắng về khả năng Pháp vượt qua Anh

với tay đến thị trường Tây Nam Trung Quốc, làm cho Anh phải

tính đến chuyện thơn tính nốt vùng Thượng Miến. Nhất là trong

bối cảnh những lời đồn đại ngày một ồn ào về việc những thỏa

thuận ngầm của Pháp – Miến sẽ cho Pháp một vị trí khống chế

trong nền kinh tế Thượng Miến Điện.

Vào tháng 8 - 1885, Chính phủ Anh ở Ấn Độ thơng qua một

nghị quyết nói rằng “việc người Pháp thiết lập ảnh hưởng độc

quyền hoặc khống chế tại Thượng Miến Điện sẽ gây ra những

hậu quả nghiêm trọng đối với phần thuộc địa Miến Điện của

chúng ta và đối với Ấn Độ và do đó cần phải được ngăn chặn dù

cho có cả nguy cơ nổ ra chiến sự [7; 925]”. Đúng lúc đó, nội

dung bức thư bí mật do Ferry (Thủ tướng Pháp) trao cho phái



44



viên Miến Điện khi kí bản hiệp định thương mại ở Pari tháng 1 –

1885 bị bại lộ. Theo đó, bức thư có chứa đựng một lời hứa thận

trọng nói rằng, ngay sau khi hòa bình và trật tự được lập lại ở

Bắc Kỳ, vũ khí và trang thiết bị quân sự các loại sẽ được chuyển

sang Miến Điện thông qua Bắc Kỳ.

Ngày 7 – 8 – 1885, Huân tước Salisbury – Thủ tướng Anh,

đưa cho đại sứ Pháp M. Waddington xem bản sao bức thư của

Ferry và nói thẳng với đại sứ rằng Anh sẽ không đồng ý với

những nhượng bộ mà Pháp dự định cấp cho Miến Điện. Đại sứ

Pháp nói ơng khơng biết gì về vấn đề này và hứa sẽ điều tra.

Hơn một tháng sau, do không nhận được từ phía Pháp một

thơng tin gì về vấn đề này, Anh đã gây sức ép đòi Chính phủ

Pháp làm rõ sự tình [7; 926].

Cuối tháng 9 - 1885, Chính phủ Pháp trả lời – thơng qua

Waddington – rằng, Chính phủ Pháp hồn tồn khơng biết gì về

bất kì hiệp định nào như vậy. Nhưng vào lúc này, một phái viên

khác của Miến Điện đã tới Pari và ít lâu sau báo chí Anh và Pháp

đăng nội dung một bản hiệp định được gọi là bí mật giữa Pháp

và triều đình Miến Điện. Khi bị chất vấn, Bộ trưởng Ngoại giao

Pháp đã bác bỏ sự tồn tại của bản hiệp định này. Như vậy, Pháp

đã bỏ rơi Miến Điện trong lúc khó khăn vì Pháp khơng dám mạo

hiểm gây chiến tranh với Anh.

2.2.3. Kết cục của quan hệ Anh – Pháp về vấn đề Miến

Điện

Sau khi phát giác bức thư mật của cựu Thủ tướng Pháp

Ferry với người Miến, Anh ép Pháp phải bảo đảm rõ ràng là Pháp

công nhận Miến Điện nằm trong vùng ảnh hưởng của Anh. Tuy

nhiên, Pháp đã lảng tránh không công nhận. Nhân cơ hội Pháp

đanglo đối phó với tình hình phức tạp ở Việt Nam và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2. DIỄN BIẾN QUAN HỆ ANH – PHÁP VỀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA Ở ĐÔNG NAM Á THẾ KỈ XIX

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×