Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khi đưa vào mô hình hồi quy đa biến, kết quả cho thấy tuổi và kháng insulin có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong đó người có tuổi càng cao có khả năng kháng insulin càng cao (p=0,02). Giữa tình trạng kháng insulin và yếu tố lối sống của bệnh nhân kh

Khi đưa vào mô hình hồi quy đa biến, kết quả cho thấy tuổi và kháng insulin có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong đó người có tuổi càng cao có khả năng kháng insulin càng cao (p=0,02). Giữa tình trạng kháng insulin và yếu tố lối sống của bệnh nhân kh

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



ăn no



Khơng



126 (28,83)



310 (71,17)



Vận



Nhẹ

T/bình

Nặng



131 (27,93)

7 (22,73)

5 (33,33)



339 (72,07)

24 (77,27)

9 (66,67)



0 (0,00)

34 (15,49)

44 (26,56)

51 (50,01)

5 (45,45)



22 (100,00)

184 (84,51)

120 (73,44)

50 (49,99)

6 (54,55)



87 (43,05)



114 (56,95)



B/thường



56 (17,87)



259 (82,13)



Tăng



117 (31,41)



254 (68,59)



B/thường



27 (18,35)



118 (81,65)



động

thể lực



Nhẹ cân

B/ thường

Tình

Thừa cân

trạng Béo phì độ 1

béo phì Béo phì độ 2

Vòng

Tăng

eo

WHR



0,61



1

0,81



1

0,37-1,79



0,76



1,19



0,38-3,75



< 0,001

< 0,001

< 0,001

< 0,001



1

1,7

2,89

4,91

8,35



1

1,45-2

2,1-4

3-8

9-16



< 0,001



2,4



1,73-3,34



0,01



1,71



1,11-2,64



Bảng 3.29. Mơ hình hồi quy đa biến RL-Lipid tác động đến kháng insulin

Đặc điểm



Kháng insulin



p



OR



KTC



65



Có n (%)



Có n (%)



66 (41,32)



94 (58,68)



103 (29,06)



253 (70,94)



76 (37,01)



130 (62,99)



67 (21,55)



243 (78,45)



Giảm



80 (33,93)



157 (66,07)



B/thường

Tăng



64 (22,94)

59 (44,00)



215 (77,06)

75 (56,00)



Tăng

Cholesterol B/thường

Tăng

Triglycerid B/ thường

HDL-C



LDL-C



B/thường



111 (29,02)



271 (70,98)



0,02



0,85



0,59-1,23



< 0,001



1,71



1,25-2,37



0,02



1,48



1,07-2,04



0,006



1,48



1,07-2,04



66



CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN



4.1. Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm dân số học, lâm sàng, cận lâm sàng của

người cao tuổi mắc THA

4.1.1. Giới

Kết quả khảo sát cho thấy nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn so với nữ giới

trong nhóm nghiên cứu (63,72% so với 36,28%). Sự phân bố tỷ lệ THA ở

nam và nữ có sự khác biệt theo nhiều nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu của

Hoàng Mạnh trên NCT đến khám tại bệnh viện Thống Nhất cũng cho kết quả

tỷ lệ nam giới là 66% và nữ giới là 34% . Nghiên cứu của Nguyễn Thành

Thuận cho tỷ lệ THA ở nam cao hơn nữ với tỷ số số chênh là 2,31 . Nghiên

cứu của Trương Tấn Minh tại Khánh Hòa trên 2.170 NCT cho thấy tỷ lệ nam

mắc THA là 52,2% trong khi tỷ lệ này ở nữ là 45,4% ở . Tuy nhiên một số

nghiên cứu khác lại cho thấy nữ có tỷ lệ THA cao hơn nam. Nghiên cứu của

Phạm Ngọc Bạch được tiến hành tại bệnh viện Đa Khoa Cao Lãnh năm 2009

khảo sát tỷ lệ THA tại bệnh viện thì thấy tỷ lệ nữ THA là 62% và nam THA là

38% . Hai nghiên cứu của Lê Hoài Nam và Nguyễn Thanh Linh tại bệnh viện

Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh và bệnh viện Đa khoa Tiền Giang

cũng đều cho kết quả tỷ lệ THA ở nữ cao hơn ở nam . Một cuộc khảo sát quy

mơ lớn của Chương trình Quốc gia Phòng chống Tăng huyết áp từ năm 2006–

2010 trên 54.500 bệnh nhân tại 22 bệnh viện trên toàn quốc cho kết quả 60%

bệnh nhân THA là nữ và 41% bệnh nhân THA là nam . Một nghiên cứu của

Lloyd-Sherlock trên 35.125 bệnh nhân NCT tại nhiều quốc gia khác nhau cho

tỷ lệ nữ mắc THA là 55,9% còn ở nam là 49,5% .



67



Sự khác biệt về tỷ lệ THA giữa nam và nữ đã được giải thích một cách

rõ ràng qua nhiều nghiên cứu. Ở nhóm tuổi < 60, nam có xu hướng mắc THA

cao hơn ở nữ, nhưng ở độ tuổi ≥ 60 nữ lại có tỷ lệ mắc THA cao hơn so với

nam. Nghiên cứu của Lê Hoài Nam mơ tả tỷ lệ bệnh nhân nam THA theo

nhóm tuổi 40–50, 51–60, 60–70 lần lượt là 35,2%, 33,3%, và 30% trong khi

của nữ là 31,9%, 45,4% và 50% . Một nghiên cứu đa trung tâm tại nhiều quốc

gia cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam THA ở nhóm tuổi 20–29 và nhóm tuổi 80–

89 lần lượt là 11% và 47,2% trong khi ở nữ là 9,2% và 64,4%. Riêng ở nhóm

tuổi ≥ 60 thì tỷ lệ mắc THA ở nam và nữ lần lượt là 56,7% và 75,0% . Lý giải

điều này, các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng hormon sinh dục nữ, cụ

thể là estradiol là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến HA của nữ giới từ đó

quyết định sự khác biệt về HA giữa nam và nữ. Estradiol như đã biết là một

estrogen giúp định hình các đặc điểm nữ tính và chức năng sinh sản ở nữ giới.

Bên cạnh đó, estradiol còn được phát hiện có ảnh hưởng nhiều đến HA, sự

tăng trưởng của mạch máu, tim mạch, thận, và hệ thần kinh giao cảm . Ở nữ

giới trong giai đoạn tiền mãn kinh, việc tổng hợp estradiol vẫn còn đầy đủ do

đó HA được kiểm sốt tốt. Chính điều này phần nào đã dẫn đến việc tỷ lệ mắc

THA của nữ giới thấp hơn nam giới trong các nhóm tuổi < 60. Tuy nhiên khi

bước vào độ tuổi mãn kinh, việc suy giảm tổng hợp estradiol dẫn đến HA ở

nữ giới khơng được kiểm sốt tốt như giai đoạn trước đó. Từ năm 1989

Staessen tiến hành một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của tiền mãn kinh lên

HA và nhận thấy số mắc mới THA ở phụ nữ hậu mãn kinh cao gấp 4 lần so

với phụ nữ tiền mãn kinh (40% so với 10%) . Một nghiên cứu vào năm 1997

cũng của Staessen lại cho thấy phụ nữ hậu mãn kinh có HATT cao hơn 4-5

mmHg nếu so với phụ nữ tiền và cận mãn kinh . Ngoài ảnh hưởng của

estradiol, phụ nữ ở độ tuổi ≥ 60 còn gặp khó khăn hơn nam giới trong việc

kiểm sốt HA, và điều này cũng góp phần làm tỷ lệ mắc THA ở nữ giới tăng



68



cao hơn so với nam giới. Thực vậy, một nghiên cứu NHANES trong giai đoạn

1999-2004 cho thấy ở người cao tuổi (> 65 tuổi) tỷ lệ kiểm soát HA ở nữ giới

thấp hơn so với nam giới (42,9% so với 57,9%) . Một nghiên cứu khác trên

150.000 bệnh nhân THA tại Mỹ cho kết quả mặc dù tỷ lệ kiểm soát tốt HA

chung ở nữ cao hơn ở nam (45,7% so với 41,2%) nhưng ở nhóm tuổi > 65 thì

nữ giới lại có tỷ lệ kiểm sốt HA thấp hơn so với nam giới . Một lý do khác là

tuổi thọ của nữ cao hơn nam và THA là bệnh mạn tính nên có hiện tượng tích

lũy của tỷ lệ hiện mắc theo tuổi.

4.1.2. Tuổi

Về độ tuổi, đa số đối tượng thuộc nhóm nghiên cứu đều có độ tuổi

trong khoảng 60-79 (83,23%). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng tỷ

lệ THA tăng dần theo độ tuổi, tuổi càng cao khả năng mắc THA càng cao.

Nghiên cứu của Lê Hoài Nam trên bệnh nhân THA tại bệnh viện Đại Học Y

Dược cho thấy có đến 72% bệnh nhân THA ≥ 51 tuổi trong đó tỷ lệ bệnh nhân

thuộc nhóm tuổi 61–70 đã chiếm đến 41,5% . Nghiên cứu của Nguyễn Thanh

Linh cũng trên nhóm đối tượng này cho thấy có đến 74% bệnh nhân THA có

độ tuổi > 60 . Nghiên cứu của Võ Thị Hà Hoa tại bệnh viện C Đà Nẵng cho

thấy tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân THA là 65,2 ± 10,2 năm . Nghiên

cứu của Phạm Ngọc Bạch tại bệnh viện Cao Lãnh cũng cho thấy > 85% bệnh

nhân THA có độ tuổi từ 50 trở lên . Nghiên cứu của Nguyễn Thành Thuận kết

luận tuổi càng cao thì khả năng mắc THA cũng tăng lên . Nghiên cứu của

Saad và cộng sự cho thấy cứ tăng mỗi 10 tuổi thì nguy cơ THA tăng lên 1,98

lần . Nghiên cứu của Kawamoto báo cáo nhóm bệnh nhân > 65 tuổi có khả

năng mắc THA lên đến 4,15 lần . Nghiên cứu của Awoke ở những bệnh nhân

≥ 35 tuổi có THA thì nhóm ≥ 55 tuổi có 112 người mắc THA trong khi nhóm

35-44 tuổi chỉ có 41 người mắc THA và tỷ số OR tính được giữa hai nhóm

này là 3,33 (p< 0,01) . Nghiên cứu của Lloyd-Sherlock trên đối tượng NCT



69



cho thấy nhóm tuổi > 75 có khả năng mắc THA cao gấp 3,67 lần so với nhóm

tuổi 50-54 .

Có nhiều nguyên nhân giải thích lý do tại sao THA lại thường xảy ra ở

NCT. Các nhà khoa học ghi nhận rằng ở người khi tuổi càng cao sẽ xảy ra

hiện tượng giảm tính đàn hồi thành mạch, tăng nguy cơ mắc các bệnh xơ vữa

động mạch, phình và xơ vữa các động mạch cơ và tiểu động mạch . Tuổi cao

cũng đồng nghĩa với việc tăng sức cản toàn hệ mạch, tăng chỉ số khối của tâm

thất trái, nhưng lại giảm cung lượng tim, nhịp tim, thể tích tim bóp, thể tích

nội mạch, lưu lượng dòng máu thận và hoạt động của renin huyết tương .

NCT cũng sẽ có hiện tượng suy giảm tiến triển khả năng thận bài tiết muối

dẫn đến HA tăng lên . Tỷ lệ mắc rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ cũng tăng

dần theo tuổi, và các bệnh lý này cũng sẽ thúc đẩy tiến trình tổn thương mạch

máu và các tác dụng xấu lên chức năng thận . Ngoài ra, phản xạ tim mạch của

NCT cũng trở nên kém hơn dẫn đến những biến đổi lớn về HA tư thế đứng ở

NCT .

4.1.3. Khu vực sinh sống

Có đến 96,95% bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu sinh sống tại các

quận nội thành. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nhiều y văn thế giới khi

đề cập đến sự khác biệt giữa khu vực sinh sống và tần suất THA ở tất cả các

lứa tuổi. Một nghiên cứu của Obika và một nghiên cứu của Agyemang đều

được tiến hành tại vùng Cận Sahara Châu Phi cho thấy tỷ lệ THA ở trẻ vị

thành niên sinh sống tại các khu vực thành thị cao từ 2,4-3,5 lần so với những

người trưởng thành sống tại các khu vực nông thôn. Nghiên cứu của Ejike tại

Nigeria trên trẻ vị thành niên cũng cho thấy sau khi đã loại trừ các yếu tố gây

nhiễu, HATT của trẻ vị thành niên nam và nữ (117,45 ± 21,53 mmHg và

114,82 ± 17,95 mmHg) sống tại khu dân cư thành thị cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với trẻ nam và nữ sống tại khu dân cư ngoại thành (108,20 ±



70



12,12 mmHg và 106,03 ± 13,06 mmHg) (p< 0,05), nhưng HATTr của trẻ

thành thị lại thấp hơn so với trẻ nông thôn . Nghiên cứu của Mainous trên đối

tượng người Mỹ > 20 tuổi cho kết quả trong số bệnh nhân được chẩn đốn

mắc THA tâm trương thì có 11% là người da trắng nông thôn, 13% là người

da trắng thành thị, 20% người Mỹ gốc Phi thành thị và 23% người Mỹ gốc

Phi nông thôn (p < 0,001) . Nghiên cứu của Singh và cộng sự tại Nepal trên

đối tượng là người trưởng thành sinh sống cho thấy tỷ lệ THA của người

thành thị cao gấp 2,4 lần so với người nơng thơn và sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (p< 0,001) . Nghiên cứu của Chhetri tại Nepal trên bệnh nhân

NCT mắc THA cho thấy có 52% sống tại khu vực thành thị và 48% sống tại

khu vực nơng thơn .

Các yếu tố góp phần tạo nên sự khác biệt về HA giữa khu vực thành thị

và nông thôn hoặc giữa nội thành và ngoại thành cho đến nay vẫn chưa được

hiểu rõ . Một số nghiên cứu tại các nước đang phát triển cho thấy sự khác biệt

về tỷ lệ THA giữa các khu vực sinh sống có thể liên quan đến các yếu tố như

suy dinh dưỡng thai kỳ và các áp lực tâm lý . Một số nghiên cứu khác lại cho

thấy sự nhận thức kém về tình trạng sức khỏe của bản thân cũng là một yếu tố

dẫn đến tỷ lệ THA và các bệnh mạn tính khác biệt giữa những bệnh nhân sống

tại các khu vực khác nhau .

4.1.4. Tiền sử tăng huyết áp

Kết quả khảo sát cho thấy nhóm nghiên cứu có tỷ lệ bệnh nhân có tiền

sử THA cao hơn so với hai nhóm chứng (76,83% so với 48,15% và 9,68%) và

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Nghiên cứu của Chhetri

cũng cho thấy có đến 54,8% bệnh nhân NCT có tiền sử THA trước đó . Đối

với những bệnh nhân NCT có tiền sử THA mặc dù qua quá trình điều trị HA

của họ có thể ổn định trong thời gian dài, nhưng nếu các yếu tố nguy cơ THA

vẫn còn thì nguy cơ tái THA sẽ diễn ra. Nếu một người mắc THA ở độ tuổi



71



trưởng thành thì nguy cơ tái phát THA khi lớn tuổi cũng tăng cao kèm theo

các biến chứng tim mạch hết sức nặng nề. Nghiên cứu của Seshadri khảo sát

5.197 bệnh nhân mắc THA nhưng được điều trị khỏi và theo dõi các biến

chứng tim mạch trên những bệnh nhân này trong vòng 10 năm. Kết quả cho

thấy tình trạng THA trước đó đã ảnh hưởng đến nguy cơ mắc đột quỵ của

bệnh nhân ở độ tuổi 60. Bệnh nhân nữ nếu tăng 1 mmHg trước đó sẽ có nguy

cơ đột quỵ tăng gấp 1,68 lần còn bệnh nhân nam sẽ tăng lên gấp 1,92 lần. Nếu

bệnh nhân bước vào độ tuổi 70 thì nguy cơ sẽ tăng gấp 1,66 lần ở nữ và 1,3

lần ở nam .

4.1.5. Tiền sử rối loạn lipid máu

Nhóm nghiên cứu cũng có tỷ lệ đối tượng có tiền sử rối loạn lipid máu

cao hơn so với hai nhóm chứng (73,48% so với 70,37% và 19,35%) và sự

khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Các nghiên cứu trên thế

giới đã chứng minh được rằng rối loạn lipid máu, béo phì, THA, ĐTĐ là

những yếu tố cấu thành nên hội chứng chuyển hóa . Các yếu tố này có thể

cùng xuất hiện trên một bệnh nhân làm tăng nguy cơ dẫn đến những biến

chứng về tim mạch cao gấp nhiều lần so với người khỏe mạnh .

4.1.6. Tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường

Có 9,76% bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu có tiền sử gia đình mắc

ĐTĐ. Mặc dù tỷ lệ đối tượng trong nhóm nghiên cứu có tiền sử gia đình mắc

ĐTĐ cao hơn so với nhóm chứng 1 và nhóm chứng 2 nhưng sự khác biệt này

khơng có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của Hoàng Mạnh cũng cho kết quả

tương tự khi cho thấy khơng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê về tiền sử

gia đình có người mắc ĐTĐ giữa các nhóm đối tượng . Nghiên cứu của

Chhetri cho tỷ lệ bệnh nhân NCT có tiền sử gia đình có ĐTĐ là 6,4% .

Giữa tiền sử gia đình mắc các bệnh mạn tính và tình trạng bệnh lý của

bệnh nhân đã được chứng minh có mối quan hệ chặt chẽ. Nghiên cứu của van



72



de Sande trên 5.389 người trưởng thành tại Gambia cho thấy có 14,6% đối

tượng mắc các bệnh mạn tính. Trong số này 8% đối tượng có tiền sử gia đình

mắc THA, 5,4% có tiền sử gia đình mắc béo phì, 3,3% có tiền sử gia đình

mắc ĐTĐ và 1,4% có tiền sử gia đình mắc đột quỵ . Nghiên cứu cũng rút ra

kết luận các đối tượng có tiền sử gia đình mắc THA sẽ có HATTr, BMI, nồng

độ cholesterol, nồng độ acid uric và nguy cơ béo phì cao hơn so với nhóm

khơng có tiền sử gia đình mắc THA. Những đối tượng có tiền sử gia đình mắc

béo phì sẽ có chỉ số BMI, và nguy cơ béo phì cao hơn so với nhóm khơng có

tiền sử gia đình mắc béo phì. Những đối tượng có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ

cũng có chỉ số BMI và nồng độ glucose, cholesterol, triglyceride, acid uric,

nguy cơ béo phì và ĐTĐ cao hơn so với người khơng có tiền sử gia đình mắc

ĐTĐ. Những đối tượng có tiền sử gia đình mắc đột quỵ sẽ có BMI, nồng độ

cholesterol, triglyceride và acid uric cao hơn so với nhóm khơng có tiền sử

gia đình mắc đột quỵ . Nghiên cứu của Tugrul trên đối tượng người trung niên

mắc THA cho thấy có đến 19,28% bệnh nhân có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ .

4.1.7. Tiền sử tim mạch

Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim giữa các nhóm khơng có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,47%). Tương tự như vậy, tiền sử đặt nong

và đặt stent mạch vành cũng như tiền sử mổ bắc cầu động mạch vành giữa các

nhóm khơng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng THA của

bệnh nhân (p> 0,05). Tuy nhiên kết quả khảo sát cho thấy nhóm nghiên cứu

cũng là nhóm có tỷ lệ tiền sử thiếu máu cơ tim nhiều nhất so với hai nhóm

chứng (63,41% so với 51,85% và 0%).

Các y văn trên thế giới đã từ lâu chứng minh được mối liên quan giữa

THA và các bệnh lý tim mạch. Các bằng chứng dịch tễ học từ nghiên cứu tim

mạch Framingham từ năm 1976 đã cho thấy THA sẽ làm tăng nguy cơ mắc

các bệnh tim mạch, trong đó khi tuổi càng tăng và HATT tăng 1 mmHg HATT



73



thì nguy cơ tim mạch cũng tăng lên . Sutton năm 1985 tiến hành một nghiên

cứu quan sát trên bệnh nhân NCT và nhận thấy THA có mối liên quan có ý

nghĩa thống kê với tình trạng tắc nghẽn động mạch cảnh ở bệnh nhân NCT .

Voconas năm 1988 chứng minh được nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng tỷ lệ

thuận với HATTr ở nam cao tuổi khi HATTr của những bệnh nhân nam cao

tuổi > 85 mmHg, trong khi ở nữ cao tuổi HATTr chỉ tăng lên khi HATTr của

nhóm nữ cao tuổi vượt quá 104 mmHg . Psaty năm 1992 tiến hành một

nghiên cứu khảo sát trên quần thể NCT > 65 đã chứng minh được mối liên

quan giữa HATT với nhồi máu cơ tim và hiện tượng tăng kích thước tâm thất

trái. Psaty cũng kết luận rằng THA tâm thu đơn độc cũng có mối liên quan

chặt chẽ với hiện tượng dày màng trong của động mạch cảnh . Alli năm 1999

tiến hành một nghiên cứu theo dõi trong vòng 10 năm trên quần thể NCT

người Ý cho thấy HATT là một yếu tố tiên đoán mạnh và độc lập đối với tỷ lệ

tử vong chung và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, thậm chí ở cả những bệnh

nhân > 75 tuổi . Mattace-Raso trong nghiên cứu của mình vào năm 2004 đã

chứng minh rằng cứ tăng 1 độ lệch chuẩn HATT thì nguy cơ nhồi máu cơ tim

sẽ tăng lên 24%, nguy cơ đột quỵ tăng lên 59%, và nguy cơ tử vong do mọi

nguyên nhân tăng lên 21%. Trong khi đó nếu tăng 1 độ lệch chuẩn HATTr ở

bệnh nhân NCT thì khơng làm tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân

hoặc nguy cơ nhồi máu cơ tim và chỉ làm tăng nguy cơ đột quỵ dưới 27% .

Nghiên cứu của Seshadri năm 2001 lại chứng minh được rằng ở những người

thuộc độ tuổi 60 và 70, HA tại thời điểm trung niên sẽ tác động làm tăng nguy

cơ đột quỵ của nhóm đối tượng này cho dù HA hiện tại của họ như thế nào đi

chăng nữa . HA cũng được biết đến như là một yếu tố nguy cơ gây ra bệnh

suy tim sung huyết. Nghiên cứu của Haider năm trên quần thể dân số

Framingham theo dõi trong vòng trung bình 17 năm cho kết quả ở bệnh nhân

> 60 tuổi, nếu HATT tăng 20 mmHg thì nguy cơ suy tim sung huyết sẽ tăng



74



lên 56%. Mặc dù HATTr cũng có thể dùng để dự đoán suy tim nhưng khả

năng tiên đoán yếu hơn so với HATT hoặc nhịp tim . Van der Meer và cộng sự

tiến hành một nghiên cứu vào năm 2003 nhằm khảo sát nguy cơ xơ vữa động

mạch ở bệnh nhân THA cao tuổi phát hiện rằng HATT có thể được sử dụng

làm chỉ số tiên đốn tốt tiến triển của bệnh xơ vữa động mạch cảnh, tăng độ

dày của màng trong động mạch cảnh, và xơ vữa động mạch chủ .

4.1.8. Lối sống

Thích ăn ngọt và ăn no

Đối với thói quen thích ăn ngọt, nhóm chứng 2 là nhóm có tỷ lệ đối

tượng thích ăn ngọt nhiều nhất (29,03%), kết đến là nhóm nghiên cứu

(15,24%) và cuối cùng là nhóm chứng 1 (3,7%). Tỷ lệ thích ăn no của nhóm

chứng 2 cũng cao nhất (48,39%), kế đến là nhóm nghiên cứu và nhóm chứng

1 (4,27% và 3,7%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,001).

Nghiên cứu của Chhetri cho thấy tỷ lệ NCT có THA ăn trái cây thỉnh thoảng

là 26,6%, ăn trái cây hàng tuần là 45,3%. Tỷ lệ NCT là người ăn chay chỉ

chiếm 29,8%. Tỷ lệ NCT không bao giờ ăn thịt là 30,6%, ăn thịt hàng tuần là

44% .

Sử dụng rượu bia

Đối với tiền sử sử dụng rượu bia, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ

bệnh nhân NCT ở nhóm nghiên cứu khơng nghiện rượu bia lên đến 91,46%

và khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nghiện rượu bia giữa các

nhóm khảo sát. Hay nói cách khác giữa uống rượu bia và THA khơng có mối

liên quan có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của Chhetri tại Nepal cũng trên

NCT cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không uống rượu bia là 70,5%, đã từng uống

rượu bia là 11,6% và hiện đang uống rượu bia là 17,8% . Như vậy có thể thấy

ở NCT việc sử dụng rượu bia rất hạn chế nên không thể tìm được mối liên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khi đưa vào mô hình hồi quy đa biến, kết quả cho thấy tuổi và kháng insulin có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong đó người có tuổi càng cao có khả năng kháng insulin càng cao (p=0,02). Giữa tình trạng kháng insulin và yếu tố lối sống của bệnh nhân kh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×