Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Y VĂN

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Y VĂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



THA độ I

140-159

90-99

THA độ II

160-179

100-109

THA độ III

≥ 180

≥ 110

Liên Uỷ Ban Quốc Gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá điều trị THA

Hoa Kỳ (Join National Committee-JNC) lại đưa ra phân loại vào JNC VII

(2003) trong đó chia THA như sau

Bảng 1.2. Bảng phân loại THA theo JNC VII 2003

Phân loại

HATT (mmHg)

HATTr (mmHg)

Bình thường

< 120



< 80

Tiền THA

120 – 139

hoặc

80 – 89

THA độ 1

140 – 159

hoặc

90 – 99

THA độ 2

≥ 160

hoặc

≥ 100

Phân loại này được áp dụng cho người không dùng thuốc hạ áp. Khi

HATT và HATTr khơng cùng độ thì chọn phân độ cao nhất.

Cách phân loại THA ở Việt Nam là sự kết hợp từ cách phân độ THA

của WHO/ISH và JNC do Hội Tim Mạch Việt Nam đề xuất như sau:

Bảng 1.3. Phân loại THA do Hội Tim Mạch Việt Nam

Phân độ HA

HA tối ưu

HA bình thường

HA bình thường cao

THA độ 1 (nhẹ)

THA độ 2 (trung bình)

THA độ 3 (nặng)

Tăng HA Tâm thu Đơn độc



HA tâm thu



HA tâm trương



(mmHg)

< 120

120 – 129

130 – 139

140 – 159

160 – 179

≥ 180

≥ 140



(mmHg)

< 80

80 – 84

85 – 89

90 – 99

100 – 109

≥ 110

< 90





và/hoặc

và/hoặc

và/hoặc

và/hoặc

và/hoặc





Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn

để xếp loại. Tăng HATT đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động

của HATT.

Ở NCT còn có xu hướng mắc THA áo choàng trắng, THA tâm thu đơn

độc, THA giả tạo và hạ huyết áp (HA) tư thế đứng.



8



-Tăng huyết áp áo chồng trắng: bệnh nhân có huyết áp hằng ngày hoặc

huyết áp 24 giờ trong giới hạn bình thường nhưng lại tăng khi được đo ở bệnh

viện hoặc phòng khám bác sĩ. Tỷ lệ THA áo choàng trắng tăng theo tuổi.

Nguyên nhân một phần là do cảm xúc lo lắng, bất an thường gặp ở NCT khi

đi khám bệnh. Bệnh nhân được chẩn đốn THA áo chồng trắng khi đo huyết

áp tại phòng khám ở bệnh viện > 140/90 mmHg (với nhiều lần khám) và

huyết áp 24 giờ < 125/80 mmHg. Những bệnh nhân này cần được theo dõi

sát, thay đổi lối sống. Việc sử dụng thuốc chỉ đặt ra khi có bằng chứng tổn

thương cơ quan đích hoặc nguy cơ tim mạch cao.

-Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: đối với NCT, HATT có xu hướng tăng và

HATTr có xu hướng giảm. Bệnh nhân được chẩn đoán THA tâm thu đơn độc

khi trị số HA tâm thu > 140 mmHg và HA tâm trương < 90 mmHg.

-Tăng huyết áp giả tạo: ở NCT, thành động mạch ngoại biên trở nên xơ

cứng. Khi đo HA, động mạch cánh tay hoặc động mạch quay vẫn bắt được dù

băng quấn đã được bơm căng (dấu Osler dương tính). Nếu nghi ngờ có tình

trạng THA giả tạo, bệnh nhân cần được đo HA nội động mạch để chẩn đoán

xác định THA và theo dõi điều trị.

-Hạ huyết áp tư thế đứng: bệnh nhân cần được đo HA ở cả tư thế ngồi và

tư thế đứng. Hạ HA tư thế khi HA tâm thu giảm > 20 mmHg và/hoặc HA tâm

trương giảm > 10 mmHg trong vòng 3 phút khi đo ở tư thế đứng. Nguyên

nhân của hạ HA tư thế ở người cao tuổi là do (1) sự nhạy cảm của phản xạ áp

suất giảm dần theo tuổi, (2) suy giảm hệ thần kinh tự động (2) giảm thể tích

tuần hồn do mất nhiều muối từ thận, hậu quả của giảm renin, aldosterone,

dùng thuốc lợi tiểu, ăn uống kém…

1.1.3. Định nghĩa rối loạn dung nạp glucose

Một Ủy Ban chuyên gia được tài trợ bởi ADA đã xác định một nhóm

các bệnh nhân có đường huyết trên mức bình thường nhưng lại dưới ngưỡng

chẩn đốn mắc ĐTĐ . Nhóm bệnh nhân này bao gồm những bệnh nhân



9



RLDNG hoặc bệnh nhân giảm đường huyết lúc đói. Những bệnh nhân mắc

RLDNG được định nghĩa là những người có giá trị đường huyết đo bằng

nghiệm pháp dung nạp glucose 2 giờ trong khoảng 140-199 mg/dL (ngưỡng

đường huyết dung nạp glucose sau 2 giờ bình thường là < 140 mg/dl) và nồng

độ đường huyết lúc đói < 126 mg/dL . Những bệnh nhân mắc giảm đường

huyết lúc đói được định nghĩa là những người có giá trị đường huyết lúc đói

từ 100-125 mg/dL (ngưỡng đường huyết lúc đói bình thường là < 100 mg/dL)

.

Với định nghĩa trên, sẽ có sự trùng lắp giữa hai nhóm. Để nghiên cứu

độc lập đặc tính của riêng hai nhóm này, các định nghĩa RLDNG đơn độc và

giảm đường huyết lúc đói đơn độc được đưa ra. Bệnh nhân mắc giảm đường

huyết đơn độc là những người có đường huyết lúc đói trong khoảng 100 –125

mg/dl và đường huyết trong nghiệm pháp dung nạp glucose 2 giờ < 140

mg/dl. Bệnh nhân mắc RLDNG là những người có đường huyết dung nạp

glucose 2 giờ trong khoảng 140–199 mg/dl và đường huyết lúc đói < 100

mg/dl. Các nhà khoa học cũng đưa ra định nghĩa bệnh nhân mắc đồng thời

RLDNG và giảm đường huyết lúc đói là những người vừa có đường huyết lúc

đói trong khoảng 100–125 mg/dl và đường huyết dung nạp glucose 2 giờ

trong khoảng 140–199 mg/dl. Ngược lại, bệnh nhân có dung nạp glucose bình

thường khi đường huyết lúc đói < 100 mg/dl và đường huyết nghiệm pháp

dung nạp glucose 2 giờ < 140 mg/dl.

Việc xác định những bệnh nhân mắc RLDNG và giảm dung nạp đường

huyết lúc đói rất quan trọng vì hai thể rối loạn đường huyết này đều có thể

tiến triển thành ĐTĐ. Nhiều nghiên cứu cho thấy có khoảng 25% số bệnh

nhân mắc RLDNG hoặc giảm đường huyết lúc đói sẽ tiến triển thành ĐTĐ,

50% vẫn trong tình trạng đường huyết bình thường và 25% sẽ chuyển về

trạng thái dung nạp glucose bình thường.



10



Tuy nhiên, hiện nay nhiều nghiên cứu chủ yếu tập trung xác định nhóm

RLDNG vì một số lý do. Một nghiên cứu phân tích dữ liệu của 6 nghiên cứu

tiến cứu cho thấy nguy cơ mắc ĐTĐ ở người mắc RLDNG cao gấp 3,6-8,7

lần/năm so với các nhóm khơng mắc RLDNG, do đó RLDNG có nhiều khả

năng dự đoán tỷ lệ một người chuyển sang ĐTĐ chính xác hơn so với giảm

đường huyết lúc đói . Bên cạnh đó đối với nhóm giảm đường huyết lúc đói,

định nghĩa ngưỡng chẩn đốn cho nhóm này có thay đổi qua các năm. Năm

1997 ADA định nghĩa ngưỡng đường huyết lúc đói bình thường trong khoảng

110-125 mg/dL, tuy nhiên đến năm 2003 ngưỡng này đã thay đổi thành 100125 mg/dL . Chính điều này dẫn đến việc so sánh kết quả của các nghiên cứu

trước và sau khi đổi ngưỡng bình thường của giảm đường huyết lúc đói gặp

nhiều khó khăn. Ngồi ra nhiều nghiên cứu cắt ngang theo chiều dọc cho thấy

mặc dù cả hai nhóm giảm đường huyết lúc đói và RLDNG đều có mối liên

quan đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở bệnh nhân, nhưng RLDNG có tỷ lệ

tiên đốn cao hơn so với giảm đường huyết lúc đói[38,122].

1.1.4. Định nghĩa kháng insulin

Kháng insulin là tình trạng suy giảm đáp ứng sinh lý đối với insulin của

các mô cơ thể. Trong giai đoạn đầu của kháng insulin sẽ có hiện tượng tăng

bù nồng độ insulin trong máu. Mặc dù việc bù insulin trong máu có thể làm

giảm kháng insulin tại một số mô suy giảm nhạy với insulin, nhưng điều này

cũng dẫn đến sự tăng hoạt động của một số mơ bình thường hoặc vẫn còn

nhạy với insulin. Sự rối loạn trong chuyển hóa này có thể dẫn đến một loạt

các bất thường nghiêm trọng về lâm sàng mà quan trọng nhất là các bệnh tim

mạch, bệnh thận mạn tính, và ĐTĐ type 2.

Vấn đề nhạy cảm insulin được Himsworth đề cập đầu tiên năm 1936

xuất phát từ tăng liều insulin nhằm duy trì đáp ứng điều trị. Năm 1998,

Reaven đã mơ tả vai trò của tăng insulin trong huyết thanh, tình trạng kháng



11



insulin có liên quan đến rối loạn chuyển hóa thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ

type 2 và đặt tên là “Hội chứng X” mà ngày nay được gọi là hội chứng

chuyển hóa. Kháng insulin là một yếu tố nguy cơ được đề cập đến trong nhiều

nghiên cứu từ những năm 1990 thế kỷ 20 cho đến nay. Hiện nay kháng insulin

không những được ghi nhận trong những trường hợp dùng insulin để điều trị,

mà kháng insulin còn gặp ở những tình trạng mà sự dung nạp glucose có thể

bình thường hoặc trong tình trạng RLDNG hoặc ĐTĐ.

1.2. Cơ chế kháng insulin

Ở một người khỏe mạnh, insulin vận hành các hoạt động tại các mơ

đích thơng qua q trình phosphoryl hóa một loại thụ thể tyrosine kinase nằm

trong màng tế bào còn gọi là thụ thể insulin (insulin receptor-IR). Khi insulin

gắn vào tiểu đơn vị α của IR sẽ kích hoạt men tyrosine kinase của tiểu đơn vị

β của IR dẫn đến quá trình tự phosphoryl hóa và phosphoryl hóa tyrosine của

các chất nền của IR (IR substrate- IRS) bao gồm IRS-1 và IRS-2. Các chất

này sẽ tương tác với men phosphatidylinositol 3-kinase (PI 3-K) kích hoạt yếu

tố hoạt hóa chính Akt (hay còn gọi là men protein kinase B) hấp thụ glucose

thơng qua quá trình vận chuyển glucose vào tế bào bởi các chất vận chuyển

glucose chính là GLUT-4.

Kháng insulin có thể gây ra do những bất thường ở giai đoạn tiền thụ

thể (trước khi insulin gắn vào thụ thể IR), bất thường ở thụ thể (khiếm khuyết

tại thụ thể) hoặc giai đoạn hậu thụ thể insulin (khiếm khuyết các thành phần

trong con đường truyền tín hiệu) . Bất thường tiền thụ thể bao gồm sự hiện

diện của kháng thể kháng insulin và các insulin bất thường (đột biến). Bất

thường thụ thể bao gồm giảm số lượng thụ thể, biến đổi cấu trúc thụ thể

insulin, và sự hiện diện của kháng thể khóa thụ thể insulin. Cả hai dạng bất

thường này thường ít khi xảy ra. Dạng bất thường phổ biến nhất trong các



12



trường hợp kháng insulin chính là bất thường hậu thụ thể thơng qua con

đường truyền tín hiệu hậu thụ thể.

Cơ chế truyền tín hiệu hậu thụ thể

Insulin có nhiều tác động vật lý chia thành hai dạng là dạng tức thời và

dạng lâu dài. Tác động tức thời bao gồm các tác động lên q trình chuyển

hóa qua trung gian và tác động lâu dài bao gồm các tác động lên tăng trưởng

và tăng sinh của insulin. Hai tác động này thơng qua hai con đường truyền tín

hiệu hồn tồn khác biệt. Một con đường truyền tín hiệu insulin thông qua

protein và men phosphatidyl inositol 3-kinases (PI3-K) đến một loạt các

protein nội bào. Truyền tín hiệu theo con đường này đóng vai trò quan trọng

trong việc chuyển các hoạt động của insulin hoặc yếu tố tăng trưởng giống

insulin (insulin like growth factor-1- IGF-1) đến các mô tim mạch và các mô

nhạy với insulin . PI3-K gián tiếp làm tăng nồng độ NO, bơm Na +, kênh K+,

và độ nhạy thớ cơ đối với Ca2+ thông qua việc tăng sự vận chuyển và hoán vị

giữa các thành phần NO và các đơn vị bơm cation bên cạnh việc vận chuyển

glucose thơng thường. Con đường truyền tín hiệu thứ hai liên quan đến việc

kích hoạt men protein kinase phân bào (AKT), là men tăng cường quá trình

tăng trưởng và phân bào .

Ở hầu hết bệnh nhân có tình trạng kháng insulin, các nhà khoa học phát

hiện dạng kháng insulin thông qua con đường PI3-K. Vì lý do này, nên thuật

ngữ “kháng insulin” được định nghĩa trên lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng là

tình trạng suy giảm cơ chế chuyển hóa glucose. Hay nói cách khác kháng

insulin xảy ra khi có sự suy giảm hoạt động của men PI3-K. Tuy nhiên về mặt

sinh lý học và sinh bệnh học, khái niệm “kháng insulin” còn được dùng để chỉ

chung cho tình trạng kháng insulin theo cả hai con đường PI3-K và AKT.

Cơ chế gây kháng insulin



13



Có nhiều cơ chế liên quan đến đề kháng insulin ở giai đoạn hậu thụ thể.

Các cơ chế được cho là chịu trách nhiệm trong việc ức chế q trình

phosphoryl hóa của IR và các IRS bao gồm quá trình phân giải qua trung gian

proteasome , quá trình khử phosphoryl qua trung gian phosphatase , và quá

trình phosphoryl hóa serine/threonine qua trung gian kinase . Cụ thể là q

trình phosphoral hóa của IRS-1 trên serine Ser612 sẽ gây ra việc phân tách

tiểu đơn vị p85 của PI3-K, ức chế việc truyền tín hiệu của insulin đến các mơ

đích. Ngồi ra q trình phosphoryl hóa IRS-1 trên Ser307 sẽ dẫn đến sự phân

tách chất này từ thụ thể insulin và kích hoạt q trình phân giải bởi

proteasome, một q trình sẽ gây suy giảm việc truyền tín hiệu insulin.

Nguyên nhân gây kháng insulin

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng kháng insulin trên bệnh nhân.

Các nguyên nhân đã được xác định là bất thường về di truyền, béo phì và kém

vận động, các hormone đối vận, bất thường về miễn dịch (kháng thể kháng

insulin, kháng thể thụ thể kháng insulin), sử dụng thuốc, suy dinh dưỡng thai

kỳ, và các tình trạng bệnh lý khác (stress, bệnh nhiễm trùng mạn tính, mang

thai, đói kém, xơ gan, tăng ure huyết).

1.3. Cơ chế rối loạn dung nạp glucose

1.3.1. Cơ chế rối loạn dung nạp glucose

ĐTĐ type 2 là một bệnh lý gây ra do ba cơ chế khiếm khuyết chuyển

hóa là kháng insulin, suy giảm tiết insulin và tăng sản xuất glucose ở gan.

Trong 3 khiếm khuyết này, kháng insulin là khiếm khuyết xảy ra đầu tiên.

Ban đầu, tế bào beta tụy vẫn có khả năng bù trừ bằng cách tăng nồng độ

insulin do đó dẫn đến tình trạng tăng insulin huyết. Sự bù trừ này sẽ giúp duy

trì nồng độ glucose ở mức bình thường trong một khoảng thời gian (có thể lên

đến vài năm), nhưng tình trạng RLDNG sẽ diễn ra nếu hiện tượng tăng

glucose xuất hiện sau bữa ăn. Nếu tình trạng RLDNG kéo dài, các tế bào beta



14



trở nên trơ với glucose, và mặc dù khi đó tế bào beta vẫn tiếp tục tiết ra lượng

insulin như trước nhưng sự thiếu hụt insulin tương đối bắt đầu xảy ra. Hiện

tượng này kéo dài sẽ dẫn đến chức năng tiết insulin của tế bào beta bị suy

giảm hẳn, lượng insulin trong máu thiếu hụt càng nhiều càng làm cho tình

trạng tăng glucose huyết trở nên trầm trọng hơn. Khi tình trạng thiếu hụt

insulin diễn ra, tại gan cũng bắt đầu quá trình phân giải glycogen thành

glucose để bù vào lượng glucose thiếu hụt (trong thực tế lúc này cơ thể đang

trong tình trạng tăng glucose huyết trầm trọng). Sự bù đắp glucose từ gan sẽ

càng làm tăng glucose huyết ngay cả khi bệnh nhân không ăn uống. Bệnh

nhân lúc này mắc phải tình trạng gọi là giảm đường huyết lúc đói.

1.3.2. Cơ chế rối loạn dung nạp glucose ở người cao tuổi

Cơ chế RLDNG ở NCT cũng tương tự như ở các nhóm tuổi khác khi

nguyên nhân đưa đến RLDNG ở NCT là do kháng insulin và suy giảm chức

năng tiết insulin của tế bào beta.

Kháng insulin ở người cao tuổi

Tăng đề kháng insulin ở NCT liên quan chặt chẽ đến tăng tích mỡ tạng.

Ở NCT mặc dù trọng lượng khối cơ thể có thể suy giảm (giảm 19% ở đàn ông

và 12% ở phụ nữ trong độ tuổi 60), nhưng lại có hiện tượng tích mỡ ở cơ và

các tế bào gan . Một nghiên cứu của Kanaya cho thấy tích mỡ tạng có mối

liên quan chặt chẽ hơn với kháng insulin và ĐTĐ ở phụ nữ cao tuổi so với các

chỉ số BMI và các chỉ số đo lường phân bố mỡ khác . Tuy nhiên, hiện tượng

tích mỡ tạng còn được phát hiện ở cả NCT khỏe mạnh, vì vậy các nhà khoa

học cho rằng tích mỡ tạng là một hiện tượng sinh lý bình thường ở NCT và

chính hiện tượng này đã ảnh hưởng đến khả năng nhạy cảm với insulin tại cơ

và gan . Cơ chế giải thích hiện tượng tăng mỡ tạng cho đến nay vẫn chưa

được biết, nhưng một số nhà khoa học cho rằng có liên quan đến sự suy giảm

chức năng của ty thể ở NCT.



15



Ngồi hiện tượng tích mỡ tạng, sự thay đổi lối sống của NCT cũng là

yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy cảm với insulin của các cơ quan trong cơ thể.

Các thay đổi trong lối sống bao gồm thay đổi thói quen ăn uống với việc ăn

nhiều chất béo bão hòa và đường đơn, ít vận động thể chất cũng như giảm sức

mạnh thể chất ở NCT .

Các yếu tố khác hiện nay đang được các nhà nghiên cứu tìm hiểu là các

hormone được tạo ra từ các mô mỡ chẳng hạn như adiponectin và leptin.

Nồng độ leptin được chứng minh là giảm dần theo độ tuổi trong đó nữ giảm

nhiều hơn nam. Bởi vì leptin làm giảm khẩu vị do đó nếu nồng độ leptin giảm

sẽ góp phần dẫn đến việc ăn uống thiếu điều độ ở NCT từ đó dẫn đến tích mỡ

tạng và thay đổi các thành phần cơ thể . Adiponectin là một protein có đặc

tính kháng viêm cũng được chứng minh làm giảm kháng insulin. Một nghiên

cứu cho thấy ở NCT có nồng độ Adiponectin cao thì nguy cơ mắc ĐTĐ giảm

xuống .

Giảm tiết insulin ở người cao tuổi

Cơ chế thứ hai gây giảm dung nạp glucose ở NCT cũng quan trọng

khơng kém so với tăng kháng insulin chính là suy giảm chức năng của tế bào

beta tụy gây rối loạn cơ chế tiết insulin. Các nghiên cứu cho thấy sau khi đã

loại trừ các yếu tố liên quan đến tuổi, ở NCT có sự suy giảm đến 50% khả

năng tiết insulin của các tế bào beta tụy . Ở NCT còn có hiện tượng suy giảm

tần suất, số lượng các đợt tiết insulin định kỳ, và rối loạn trật tự của các đợt

tiết insulin. Điều này dẫn đến cơ thể NCT khơng còn có thể kiểm sốt tốt việc

tiết glucose tại gan.

Cho đến nay cơ chế gây suy giảm chức năng tế bào beta ở tụy vẫn chưa

được nghiên cứu đầy đủ. Tuy nhiên, một số nhà khoa học cho rằng sự suy

giảm chức năng tế bào beta có thể do các incretins của đường ruột gây ra.

Incretins gồm hai loại hormone đường tiêu hóa là gastric inhibitory



16



polypeptide (GIP) và glucagon-like peptide-1 (GLP-1), là hai loại hormone

tăng tiết insulin lên mức cao hơn sau khi cho bệnh nhân uống đường so với

lượng insulin tiết ra khi cho bệnh nhân dung nạp một lượng đường tương ứng

nhưng bằng đường tiêm tĩnh mạch. Ở NCT không mắc ĐTĐ, GLP-1 được

tăng tiết sau khi cho đối tượng uống đường nhưng không gây tăng nồng độ

insulin, còn ở NCT mắc ĐTĐ, GLP-1 được tiết ra ít đi và tế bào beta kháng

với tác động của GIP. Một số giả thuyết khác cũng được đặt ra để giải thích sự

suy giảm hoạt động của tế bào beta tụy ở NCT như sự gia tăng các acid béo tự

do khi lớn tuổi, sự tích mỡ ngay bên trong tế bào beta, sự suy giảm số lượng

tế bào beta và sự tích tụ amylin.

1.4. Cơ chế tăng huyết áp

1.4.1. Cơ chế tăng huyết áp

Mặc dù THA có tỷ lệ hiện mắc cao trên tồn thế giới và rất nhiều

nghiên cứu đã tìm hiểu về sinh bệnh học và nguyên nhân gây THA, nhưng

trong thực tế cũng chỉ có khoảng 5% bệnh nhân có thể xác định được nguyên

nhân gây THA. Thêm vào đó mặc dù nhiều loại thuốc hạ áp hiện đại và hiệu

quả cao được ra đời nhưng số lượng bệnh nhân bị THA khơng thể kiểm sốt

vẫn rất cao. Điều này cho thấy cơ chế sinh bệnh học của THA rất phức tạp.

Trước đây, các nhà nghiên cứu cho rằng hệ thần kinh tự chủ và thận

đóng vai trò chính trong việc kiểm soát THA. Thời gian gần đây, hệ miễn dịch

được xem như cũng có vai trò trong sinh bệnh học của THA khi nhiều nghiên

cứu tổng quan y văn cho thấy vai trò của các tế bào T trong việc hình thành

THA . Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ được tiến hành trên các mơ hình thử

nghiệm do đó cần tiến hành thêm các nghiên cứu trên người để kiểm chứng

vai trò của các tế bào T trong sinh bệnh học THA nguyên phát.

Ở bệnh nhân THA những biến đổi trong cấu trúc và chức năng của hệ

mạch là yếu tố chính góp phần dẫn đến các biến chứng tim mạch. Khi tình



17



trạng THA xảy ra, các biến đổi hệ mạch xuất hiện bao gồm suy giảm chức

năng màng mạch, biến đổi cấu trúc mạch máu, viêm nhiễm mạch máu, tăng

độ cứng và giảm độ linh động thành mạch. Ban đầu hệ mạch sẽ thích nghi với

những biến đổi do tình trạng THA gây ra nhưng theo thời gian hệ mạch suy

giảm sự thích nghi và từ đó đóng vai trò như yếu tố góp phần dẫn đến biến

chứng tim mạch ở bệnh nhân THA. Các biến chứng tim mạch đã được chứng

minh ở bệnh nhân THA bao gồm suy tim, đột quỵ, suy thận và giảm chức

năng cương dương ở nam giới.

Dưới góc độ tế bào, những biến đổi ở hệ mạch được ghi nhận thông

qua những biến đổi chức năng của tế bào màng mạch, quá trình tăng trưởng

hoặc chết theo chương trình của các tế bào cơ trơn mạch máu, quá trình xơ

vữa thành mạch, quá trình co rút mạnh và vơi hóa hệ mạch. Hiện tượng viêm,

hiện tượng tăng biểu lộ của các gen tiền viêm nhạy với oxi hóa khử, và hiện

tượng hóa hướng động và thâm nhiễm của các tế bào viêm vào hệ tuần hồn

cũng góp phần gây ra những biến đổi ở hệ mạch. Những biến đổi hệ mạch kể

trên tạo nên “kiểu hình hệ mạch” của THA, một hiện tượng chỉ có thể được

theo dõi và ghi nhận trong các nghiên cứu theo dõi trong thời gian dài . Nhiều

biến đổi hệ mạch thường xảy ra khi tuổi cao, do đó “kiểu hình hệ mạch” của

THA trong giai đoạn đầu của cuộc đời được gọi là “kiểu hình hệ mạch giai

đoạn sớm” .

Ở cấp độ phân tử, các bất thường trong các con đường truyền tín hiệu

dẫn đến biến đổi ở cấp độ tế bào của hệ mạch đã được ghi nhận bao gồm con

đườn truyền tín hiệu của men phospholipase C–inositol phosphate–

diacylglycerol, men protein kinase hoạt hóa sự phân bào, men tyrosine

kinases/phosphatases, men RhoA/Rhokinase, các yếu tố phiên mã và các chất

oxy hóa khử có gốc men NADPH . Những con đường truyền tín hiệu này sẽ

được kích hoạt phần lớn bởi các peptids tiền THA chẳng hạn như angiotensin



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Y VĂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×