Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE (DNG) VÀ ĐỀ KHÁNG INSULIN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE (DNG) VÀ ĐỀ KHÁNG INSULIN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

lxxii



trạng bất thường dung nạp glucose ở bệnh nhân THA chiếm tỉ lệ cao là 42,4%, trong

đó 30% bệnh nhân bị RLDNG; 12,4% bệnh nhân bị ĐTĐ. Ở nhóm bệnh nhân

không THA, các tỉ lệ này lần lượt là 16% và 8%, sự khác biệt giữa hai nhóm có ý

nghĩa thống kê.

Năm 2005, tại Hà Nội, Quách Hữu Trung [31] thực hiện NPDNGĐU trên hai

nhóm đối tượng: một nhóm gồm 131 bệnh nhân THA nguyên phát và một nhóm

chứng gồm 43 người không THA. Kết quả cho thấy tỉ lệ RLDNG và ĐTĐ ở nhóm

THA (tương ứng là 23,7% và 17,6%) cao hơn nhóm khơng THA (tương ứng là

7,0% và 7,0%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tương tự, nghiên cứu của chúng tơi

có kết quả gần giống với một nghiên cứu năm 2010 của tác giả người Ấn Độ thực

hiện trên 325 bệnh nhân THA và nhóm chứng gồm 100 bệnh nhân khơng THA cho

thấy có 30,46% bệnh nhân bị RLDNG và 9,53% bệnh nhân có ĐTĐ mới phát hiện

trong nhóm THA.

Bảng 4.35: So sánh tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ ở bệnh nhân THA trên

các dân số khác nhau.

Dân số



Năm



Cỡ mẫu



RLDNG



ĐTĐ



(Tỉ lệ %)



(Tỉ lệ %)



Tây Ban Nha [63]



2002-2003



420



21,9



11,2



Phần Lan [79]



2005-2007



1106



20



6



Trung Quốc [49]



2008



898



40,1



11,7



Ấn Độ [52]



2010



325



30,46



9,53



Hà Nội [32]



2005



131



23,7



17,6



TPHCM [27]



2009



255



31



14,9



Thái Nguyên [1]



2010



286



22,7



9,79



Quảng Ninh [8]



2010



137



29,2



10,94



Chúng tôi



2013



250



30



12,4



lxxiii



đến 40,1%, tỉ lệ ĐTĐ mới phát hiện dao động từ 6% đến 17,6%, điều này chứng tỏ

THA có ảnh hưởng đến tình trạng dung nạp glucose. Nhận định này cũng đã được

đưa ra trong nhiều nghiên cứu khác [32],[97],[102].

Như vậy, nếu chỉ quan tâm điều trị sàng lọc ĐTĐ cho bệnh nhân THA bằng

glucose máu lúc đói mà khơng làm nghiệm pháp dung nạp glucose thì một tỉ lệ lớn

bệnh nhân THA có ĐTĐ, RLDNG khơng được điều trị từ giai đoạn sớm.

Cho đến nay, sự hiểu biết về cơ chế chưa thực sự rõ ràng. Các nghiên cứu

gần đây cho thấy có một tỉ lệ khá lớn các trường hợp tăng huyết áp và rối loạn

glucose máu, nhất là ĐTĐ týp 2, có cùng một nguyên nhân đó là kháng insulin

trong bối cảnh hội chứng chuyển hóa (hội chứng X). Nghiên cứu của Huỳnh Văn

Minh [24] đã định lượng nồng độ insulin khi đói để đánh giá sự kháng insulin ở gan

và sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose để đánh giá sự kháng insulin ở cơ

và gan đều có sự tăng có ý nghĩa ở người THA nguyên phát so với người huyết áp

bình thường, điều này cho thấy ở bệnh nhân THA nguyên phát có sự kháng insulin

xảy ra ở cơ và gan. Kháng insulin ở bệnh nhân THA đồng thời với kháng insulin ở

gan, cơ, mô mỡ làm tăng glucose máu.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỉ lệ đề kháng insulin ở nhóm THA là

69,2%, cao hơn nhóm khơng THA (50%) có ý nghĩa thống kê (p=0,001). Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cao hơn một số nghiên cứu của các tác giả khác như

Oimatsu và cộng sự với HOMA-IR > 1,73 thì tỉ lệ đề kháng insulin trong nhóm

THA là 59,6%[26]. Kết quả nghiên cứu của tác giả Lima cho thấy tỉ lệ kháng insulin

ở người THA khoảng 50%, sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của tác giả sử

dụng kỹ thuật đo chỉ số nhạy cảm insulin (ISI) trong khi làm NPDNG [81]. So với

các nghiên cứu trong nước thì tỉ lệ đề kháng insulin ở người THA của chúng tôi khá

tương đồng, như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Thuận là 74% [31].

Thời gian xuất hiện tăng huyết áp trong kháng insulin có thể xảy ra trước,

cùng lúc hay sau biểu hiện RLDNG. Slama V. và cộng sự qua một nghiên cứu theo

chiều dọc trên 18 năm cho thấy RLDNG xảy ra trước khi xuất hiện tăng huyết áp

gợi ý cho cơ chế kháng insulin có thể xuất hiện trước. Nhiều nghiên cứu cho thấy



lxxiv



tại thời điểm chẩn đoán ĐTĐ týp 2 đã có 50% bệnh nhân xuất hiện biến chứng, trên

80% bệnh nhân có dấu hiệu đề kháng insulin, gần 50% tế bào beta tuỵ mất chức

năng và đa số bệnh nhân ĐTĐ týp 2 tử vong vì bệnh lý tim mạch [74]. Kháng

insulin được xem như một trong những khiếm khuyết tiên phát đặt nền tảng cho sự

xuất hiện bệnh ĐTĐ týp 2. Vì vậy, việc phát hiện sớm tình trạng kháng insulin và

cải thiện được độ nhạy của insulin có thể làm chậm cũng như giảm nguy cơ ĐTĐ.



4.3 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN DUNG NẠP

GLUCOSE VÀ ĐỀ KHÁNG INSULIN VỚI CÁC YẾU TỐ NGUY

CƠ MẮC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở NGƯỜI TĂNG HUYẾT

ÁP

Tuổi

Theo nghiên cứu DECODE ở dân số Châu Âu, độ tập trung đường huyết 2

giờ sau ăn trung bình tăng theo tuổi, đặc biệt sau tuổi 60 [37]. Tỉ lệ RLDNG tăng

theo mọi nhóm tuổi được thể hiện trong nghiên cứu này: tỉ lệ tăng từ 2,9% ở nam

tuổi 30-39 tăng lên 15,1% ở nhóm tuổi 70-79; và từ 4,5% ở nữ tuổi 30-39 tăng lên

16,9% ở nhóm tuổi 70-79.

Phân tích dữ liệu của nghiên cứu NHANES III [92] trên 2.746 người 40-74

tuổi, kết quả cho thấy trong nhóm đối tượng có đường huyết 2 giờ sau uống glucose

≥ 140 mg/dl: nhóm tuổi 40-49 chiếm 25%; nhóm tuổi 50-59 chiếm 25% và nhóm

tuổi 60-74 chiếm 50%. Khi phân tích đa biến, nhóm tuổi 60-74 là yếu tố nguy cơ

tiên đốn cho bất thường dung nạp glucose.

Sự khác biệt theo tuổi này cũng thể hiện trong nghiên cứu dung nạp glucose

trên bệnh nhân THA ở Thổ Nhĩ Kỳ [102]: nhóm dung nạp đường bình thường có



lxxv



tuổi trung bình là 51,1± 6,4 tuổi, nhóm RLDNG có tuổi trung bình cao hơn là 56,3

± 8,4 tuổi, nhóm ĐTĐ có tuổi cao nhất là 56,9 ± 6,7 tuổi. Sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy tuổi trung bình ở các nhóm DNG

bình thường, RLDNG và ĐTĐ khá cao và khơng có mối liên quan giữa đường

huyết 2 giờ sau uống glucose với tuổi, điều này có thể giải thích do đa số bệnh nhân

của chúng tôi là người cao tuổi, số người < 60 tuổi khơng nhiều đủ để phân nhóm

tuổi so sánh như các nghiên cứu trên. Một nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Minh

Nguyệt thực hiện tại bệnh viện Nguyễn Trãi năm 2009 cũng cho thấy chỉ có sự liên

quan yếu giữa tuổi và tình trạng DNG, nghiên cứu này có bệnh nhân khá tương

đồng với nghiên cứu của chúng tôi là số lượng người lớn tuổi chiếm đa số do tính

chất đặc thù của bệnh viện [27].

Tuy nhiên, tuổi trung bình có liên quan đến tình trạng đề kháng insulin ở

người THA. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình ở nhóm có đề kháng

insulin là 71,6 ± 8,3 tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm khơng đề kháng

là 67,6 ± 10,6 tuổi. Tuổi làm gia tăng tình trạng đề kháng insulin có thể do các

nguyên nhân: (1)Sự suy giảm chức năng sinh lý của tế bào beta tụy theo tuổi; (2)Đề

kháng insulin ngày càng tăng dần và sự vận động ngày càng giảm đi khi tuổi tăng

[98].

Hoạt động thể lực

Theo Tạ Văn Bình và cộng sự (2005), ít hoạt động thể lực làm tăng nguy cơ

ĐTĐ lên gấp 2 lần [4]. Nghiên cứu của tác giả Frank Hu năm 2003 theo dõi nhóm

đối tượng BMI < 30 từ nghiên cứu Nurses Health Study nhận thấy rằng xem truyền

hình tăng thêm mỗi 2 giờ/ngày sẽ làm tăng nguy cơ béo phì 23%, nguy cơ ĐTĐ

14% và nếu ngồi làm việc tăng thêm mỗi 2 giờ thì nguy cơ béo phì tăng 5%, nguy

cơ ĐTĐ tăng 7% [59]. Tương tự, những nghiên cứu cắt ngang và những nghiên cứu

theo dõi khác đều cho thấy lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực là một yếu tố nguy

cơ độc lập của đái tháo đường týp 2. Mức độ hoạt động thể lực có tương quan



lxxvi



nghịch với đái tháo đường týp 2 trong khi thời gian ngồi xem truyền hình có mối

tương quan thuận với đái tháo đường týp 2. Thời gian xem truyền hình hơn 4 giờ

một ngày sẽ làm gia tăng nguy cơ thừa cân, béo phì, tăng huyết áp và các rối loạn

chuyển hóa [71].

Trong nghiên cứu của chúng tơi, phần lớn bệnh nhân THA có hoạt động thể

lực nhẹ (80,4%) như đi bộ buổi sáng, làm việc nhà, làm vườn (ít nhất 30 phút/ngày)

và 14,4% bệnh nhân có các hoạt động trung bình và nặng như bơi lội, tập máy. Kết

quả của chúng tơi cho thấy khơng có sự liên quan giữa tình hình hoạt động thể lực

với tình trạng bất thường dung nạp glucose và đề kháng insulin, tuy nhiên, kết quả

này có thể do đối tượng nghiên cứu đa phần là người lớn tuổi và là cán bộ hưu trí

nên có nhiều thời gian cũng như ý thức phòng bệnh cao.

Dù kết quả nghiên cứu có khác nhau do tiến hành trên những dân số khác

nhau nhưng chúng ta không thể phủ nhận mối liên quan chặt chẽ giữa lối sống ít

hoạt động thể lực và ĐTĐ, RLDNG. Nhiều cơng trình nghiên cứu cho thấy kết hợp

chế độ ăn uống hợp lý và tích cực vận động thể lực như đi bộ, đạp xe, chơi thể thao,

bơi lội... sẽ cải thiện được độ nhạy của insulin và làm chậm sự tiến triển của ĐTĐ

[35].

Tiền căn cá nhân và gia đình

Tiền căn gia đình có người trực hệ mắc bệnh ĐTĐ, người có ĐTĐ thai kỳ

hay sinh con > 4 kg đều là yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ [40]. Nghiên cứu của tác

giả Valdez và cộng sự trên 3 nhóm: nhóm người có tiền sử gia đình nguy cơ cao (2

người trực hệ bị ĐTĐ hoặc 1 người trực hệ sống với 2 người không trực hệ nhưng

cùng một họ), nhóm có tiền sử gia đình vừa phải (1 người trực hệ hoặc 2 người

khơng trực hệ), nhóm có tiền sử thơng thường (khơng có tiền sử gia đình hoặc có 1

người nhưng khơng phải trực hệ) cho thấy khả năng mắc ĐTĐ ở nhóm có nguy cơ

cao gấp 5-7 lần nhóm thơng thường và nhóm vừa phải cao gấp 2-3 lần nhóm thơng

thường [37].



lxxvii



Nghiên cứu của chúng tơi ghi nhận có 35 người có tiền sử gia đình mắc bệnh

ĐTĐ (14%), 2 người có tiền căn ĐTĐ thai kỳ (0,8%), 5 người có sinh con cân nặng

> 4 kg (2%) và khơng có sự liên quan giữa tiền căn gia đình, đái tháo đường thai kỳ

và sinh con cân nặng > 4 kg với tình trạng bất thường dung nạp glucose và đề kháng

insulin ở người THA (p>0,05). Kết quả này có thể do bệnh nhân của chúng tơi đa

phần đều là người lớn tuổi nên trí nhớ về tiền căn không rõ ràng và cỡ mẫu nghiên

cứu còn tương đối nhỏ.

Chỉ số huyết áp

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học từ 1970 đến nay cho thấy rằng ở những người

THA thì tình trạng đề kháng insulin và rối loạn dung nạp glucose cao hơn ở người

có huyết áp bình thường [47]. Mặc dù chỉ số huyết áp và tình trạng đề kháng insulin

có mối tương quan với nhau nhưng mối tương quan này được ghi nhận khá yếu.

Nghiên cứu của Meshkani và cộng sự cho thấy HOMA-IR có tương quan yếu với

HATT và HATTr với hệ số tương quan là 0,17 và 0,2 và sau khi hiệu chỉnh cho các

yếu tố như tuổi, BMI, vòng eo thì mối liên quan này khơng còn [88]. Nghiên cứu

của Kawamoto và cộng sự cũng cho thấy tương quan giữa HOMA-IR và HATT là

0,17 và HATTr là 0,17 [75]. Một nghiên cứu trong nước của tác giả Nguyễn Thành

Thuận cũng cho thấy mối tương quan rất yếu giữa HOMA-IR với HATT và HATTr

(hệ số tương quan lần lượt là 0,17 và 0,13) [31]. Khơng chỉ riêng HOMA-IR có hệ

số tương quan khá yếu đối với chỉ số HA, nghiên cứu IRAS của Saad và cộng sự sử

dụng chỉ số nhạy cảm insulin (ISI) cũng cho thấy ISI có tương quan nghịch với

HATT và HATTr với hệ số tương quan 0,21 và 0,17 [96]. So sánh với các kết quả

trên thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng, dù có mối liên quan giữa

tình trạng RLDNG và đề kháng insulin với THA nhưng mối liên quan giữa chúng

và chỉ số HA khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Chỉ số khối cơ thể-Tình trạng béo phì trung tâm

Thừa cân, béo phì hiện nay ngày càng phổ biến và là vấn đề được y học quan

tâm vì những ảnh hưởng bất lợi của nó đến sức khỏe của cộng đồng. Kết quả của

một số nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng tần xuất béo phì là ngun nhân chính



lxxviii



làm tăng tỉ lệ bệnh ĐTĐ và bệnh mạch vành trong tương lai. Một nghiên cứu của

AL-Habori M. và cộng sự cho thấy: tần xuất của ĐTĐ týp 2 và khả năng phát triển

của nó được phản ánh qua tỉ lệ béo phì cao ở những người có dung nạp glucose bình

thường [36]. Tương tự, Ko GT, Chan JC và cộng sự khi nghiên cứu tác động của

béo phì trong sự tiến triển thành ĐTĐ cũng thấy các đối tượng béo phì có tỉ lệ tiến

triển thành ĐTĐ cao hơn các đối tượng khơng béo phì [78].

Béo phì, ngày nay nhấn mạnh đến béo phì vùng bụng vì liên quan chủ yếu

với đề kháng insulin. Béo bụng được đánh giá bằng chu vi vòng eo hoặc bằng tỉ số

eo/mơng. Chính vì sử dụng hai cách đánh giá như vậy nên có khó khăn khi so sánh

kết quả giữa các nghiên cứu. Theo Esmaillzadeh, tỉ số eo/mơng có độ nhạy, độ

chun cao hơn so với chỉ số BMI và chu vi vòng eo trong tiên đốn yếu tố nguy cơ

tim mạch, trong đó có THA [56].

Nghiên cứu PREDIAH, một nghiên cứu cắt ngang trên 1.620 người ≥ 20 tuổi

cho thấy béo phì bụng hay béo phì trung tâm là yếu tố liên quan mạnh với tất cả các

dạng bất thường dung nạp glucose ở cả hai giới [73]. Vì vậy, vẫn nên dùng tỉ số

eo/mơng giống như BMI, vòng eo trong việc đánh giá nguy cơ tim mạch và chuyển

hóa đặc biệt ở giới nữ.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn tỉ số eo/mơng để đánh giá tình trạng

béo phì trung tâm ở bệnh nhân THA.

Ở dân số Tây Ban Nha [63], BMI trung bình của nhóm dung nạp glucose

bình thường thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bất thường dung nạp

glucose tương ứng là 29,2 ± 4,7 kg/m 2 so với 30,5 ± 5,5 kg/m2 và tăng kích thước

vòng eo là yếu tố tiên đoán cho bất thường dung nạp glucose ở tất cả mọi phân lớp

béo phì.

Nghiên cứu của chúng tơi có kết quả khác biệt: BMI trung bình và chỉ số

WHR ở 3 nhóm dung nạp glucose khơng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05),

có thể do mẫu còn nhỏ hơn nghiên cứu của Garcia-Puig trên 1106 người THA [63].

Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu trong nước của tác giả Hồ Thị Minh



lxxix



Nguyệt trên 255 bệnh nhân THA và nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kỳ trên 338 người THA

đều cho thấy BMI trung bình và chỉ số WHR của nhóm dung nạp đường bình

thường, nhóm RLDNG và nhóm ĐTĐ khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê [27],

[102].

Tuy nhiên tình trạng thừa cân, béo phì và béo phì trung tâm có liên quan có ý

nghĩa thống kê với tình trạng đề kháng insulin trong nghiên cứu của chúng tôi

(p<0,05). BMI và vòng eo trung bình ở nhóm đề kháng là 24,7 ± 2,8 kg/m 2 và 88,6

± 8,3 cm so với nhóm khơng đề kháng là 22,5 ± 2,7 kg/m 2 và 83,1 ± 7,7 cm. Kết

quả này tương tự nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thành Thuận, tác giả cho biết trên

bệnh nhân THA, BMI tăng 1 kg/m 2 thì khả năng đề kháng insulin sẽ tăng 47% và

nếu bệnh nhân có béo bụng thì khả năng đề kháng insulin cao gấp 2,52 lần [31].

Nghiên cứu của Lima và cộng sự cũng cho thấy trên bệnh nhân THA, nhóm có đề

kháng insulin cũng có BMI trung bình cao hơn nhóm khơng đề kháng với p = 0,001

[81].

Béo phì, đặc biệt là béo phì trung tâm có nguy cơ đề kháng insulin rất cao.

Wagenkneckt và cộng sự đánh giá đề kháng insulin trên 1500 người Mỹ gốc Phi cho

thấy mỡ tạng có liên quan mật thiết với đề kháng insulin và bệnh nhân béo bụng có

tỉ lệ đề kháng insulin cao hơn nhóm khơng béo bụng có ý nghĩa thống kê [106].

Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi tương tự nhiều nghiên cứu cho thấy tăng

chỉ số BMI và chỉ số vòng eo/vòng mơng có mối liên quan chặt chẽ với ĐTĐ, rối

loạn dung nạp glucose [5],[16],[30]. Điều này được giải thích bởi hiện tượng thừa

cân, tăng khối lượng tế bào mỡ, tăng acid béo tự do ở bệnh nhân THA dẫn đến đề

kháng insulin, là nguyên nhân của rối loạn chuyển hoá glucose và ĐTĐ. Dư thừa

lượng mỡ ở bụng đặc biệt là ứ đọng mỡ bao quanh vùng bụng và mỡ bao quanh cơ

quan trong ổ bụng là những yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ, độc lập với mức độ béo

phì. Trước đây mơ mỡ chỉ được xem là nơi dự trữ mỡ cho cơ thể, gần đây hơn,

người ta thấy tế bào mỡ là một tổ chức trong cơ thể giữ vai trò quan trọng trong

điều hồ chuyển hố năng lượng và liên quan đến tình trạng đề kháng insulin, một

trong những nguyên nhân đưa đến ĐTĐ. Mơ mỡ đặc biệt là mỡ vùng bụng khơng



lxxx



chỉ có các hoạt động chuyển hố mạnh mà nó còn có vị trí thuận lợi đó là gần gan,

một trong những cơ quan sản xuất và chuyển hoá glucose mạnh nhất trong cơ thể.

Điều này giải thích cho kết quả người bị ĐTĐ có tỷ lệ mỡ trong cơ thể cũng như

kích thước vòng eo hoặc tỷ số vòng eo/vòng mơng cao hơn bình thường.

Nghiên cứu của chúng tơi thực hiện trên bệnh nhân THA điều trị ngoại trú

phần nhiều có thời gian điều trị lâu dài, bệnh nhân đã được tư vấn thay đổi lối sống,

tăng cường hoạt động thể lực, giảm cân nặng. Tuy nhiên tỉ lệ thừa cân, béo phì

trung tâm còn cao. Do vậy chúng ta cần tăng cường quan tâm tư vấn hơn nữa, góp

phần giảm nguy cơ rối loạn dung nạp glucose và đề kháng insulin nói chung, ĐTĐ

và tăng huyết áp nói riêng.

Đường huyết lúc đói

Nhiều nghiên cứu ghi nhận ngay khi phát hiện ĐTĐ có đến 50% bệnh nhân

đã bị biến chứng tim mạch, nghĩa là biến chứng này đã hình thành ngay từ giai đoạn

tiền đái tháo đường, là giai đoạn mà mức đường máu cao hơn bình thường nhưng

khơng đủ để chẩn đốn ĐTĐ, bao gồm tình trạng rối loạn đường huyết đói và rối

loạn dung nạp glucose.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy nồng độ đường huyết đói trung

bình tăng dần theo các mức DNG: dung nạp bình thường, RLDNG và ĐTĐ lần lượt

là 5,2 ± 0,5; 5,5 ± 0,6 và 5,7 ± 0,7 mmol/l với p < 0,001, có 15,6% bệnh nhân cùng

đạt RLĐHĐ và RLDNG. Điều này cũng nhận thấy trên người THA ở Phần Lan,

mức đường huyết đói trung bình ở nhóm dung nạp đường bất thường (6,30 ± 1,28

mmol/l) cao hơn ở nhóm dung nạp đường bình thường (5,24 ± 0,47 mmol/l) có ý

nghĩa thống kê [79].

Đồng thời, trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy có mối tương quan

thuận, mức độ trung bình giữa đường huyết đói và đường huyết 2 giờ sau uống 75g

glucose (r = 0,42, p <0,001). Phương trình hồi quy giữa hai đại lượng là: đường

huyết 2 giờ sau uống 75g glucose = 2,02 × đường huyết đói - 2,97. Phương trình

này cho thấy ở mức đường huyết đói là 7mmol/l thì đường huyết 2 giờ sau uống

75g glucose tương ứng là 11,17 mmol/l; ở mức đường huyết đói là 5,6mmol/l thì



lxxxi



đường huyết 2 giờ sau uống glucoz tương ứng ở mức RLDNG là 8,34 mmol/l. Mức

đường huyết đói tương ứng với đường huyết 2 giờ sau uống glucose ở mức RLDNG

là 5,33 mmol/l và ĐTĐ là 6,96 mmol/l thấp hơn so với mức chẩn đoán ĐTĐ hiện

nay.

Bando và cộng sự [41] tìm hiểu mối liên quan giữa đường huyết đói và các

biến số khác với đường huyết 2 giờ sau uống glucoz trên 13.694 người Nhật từ 2083 tuổi cũng tìm thấy mối tương quan tuyến tính giữa hai đại lượng đường huyết

đói và đường huyết 2 giờ sau uống glucose. Trong các biến có liên quan được lập

với đường huyết 2 giờ sau uống glucose như: đường huyết đói, tuổi, giới, chỉ số

khối cơ thể, nồng độ triglycerid máu và huyết áp tâm thu, thì đường huyết đói là yếu

tố tiên đốn mạnh nhất cho đường huyết 2 giờ sau uống glucose. Tuy vậy, tác giả

cũng nhận định rằng thật khó để ước tính mức đường huyết 2 giờ sau uống 75g

glucose nếu chỉ dựa vào một mình đường huyết đói. Trong nghiên cứu của chúng

tơi cho thấy đường huyết đói cũng chỉ giải thích được 17% sự thay đổi của đường

huyết 2 giờ sau uống 75g glucose.

Trước đây, ADA khuyến cáo dùng đường huyết đói thay vì đường huyết 2

giờ sau uống để chẩn đốn ĐTĐ vì thật khó khăn để thực hiện một NPDNGĐU

trong thực hành lâm sàng hàng ngày. Vì vậy, việc xác định mức đường huyết đói

thích hợp cho chẩn đốn bệnh ở từng dân số khác nhau là rất quan trọng. Có nhiều ý

kiến trái ngược về mức đường huyết đói 7 mmol/l hiện nay được áp dụng theo

người Châu Âu liệu có phải là tiêu chí chẩn đốn thích hợp cho người Châu Á.

Nghiên cứu của chúng tơi có mức đường huyết đói tương ứng với đường huyết 2

giờ sau uống 75g glucose ở mức ĐTĐ là 6,96 mmol/l gần bằng mức chẩn đốn

ĐTĐ, điều này có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đa phần là người lớn

tuổi và bị nhiều bệnh phối hợp. Nhiều nghiên cứu khác trên dân số Châu Á gần đây

cho thấy mức đường huyết đói tương ứng với mức đường huyết 2 giờ sau ăn

11,1mmol/l đều dưới mức 7 mmol/l như ở Nhật Bản [53] là 6,3 mmol/l, Nam Ấn

Độ [108] là 6,4 mmol/l và trong nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Minh Nguyệt là 6,14



lxxxii



mmol/l [27]. Vì vậy điểm cắt hiện nay để chẩn đốn ĐTĐ dựa vào đường huyết đói

≥ 7 mmol/l có thể quá cao. Làm thấp ngưỡng chẩn đốn này vẫn là một thách thức.

Chúng tơi cũng nhận thấy ở những người có rối loạn đường huyết đói thì tỷ

lệ RLDNG (44,3%) và ĐTĐ (20,0%) sau làm NPDNGĐU cao hơn bệnh nhân

khơng có rối loạn đường huyết đói (22,2% và 8%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

và trong nghiên cứu này nếu chỉ thực hiện NPDNGBĐU ở bệnh nhân có mức

đường huyết đói ≥ 5,6mmol/l, chúng tơi đã bỏ sót 14,4% bệnh nhân RLDNG và

5,2% bệnh nhân ĐTĐ khơng được chẩn đốn. Tác giả Korhonen [79] cũng đã có

nhận định: ở người THA, nếu chỉ thực hiện NPDNGBĐU ở người có đường huyết

đói ≥ 5,6 mmol/l chúng ta có thể bỏ sót khoảng 40% người bất thường dung nạp

glucose khơng được chẩn đốn. Có lẽ ĐTĐ và RLDNG ở người THA đặc trưng bởi

đường huyết đói bình thường hoặc tăng nhẹ và gia tăng đường huyết sau ăn do đề

kháng insulin là chủ yếu chứ không phải vì tiết insulin khơng đầy đủ. Vì vậy,

NPDNGĐU vẫn rất cần thiết để phát hiện bất thường dung nạp glucose.

Tương tự bất thường DNG, khi xét mối tương quan giữa đường huyết lúc đói

và tình trạng đề kháng insulin thì thấy rằng đường huyết trung bình ở nhóm đề

kháng và khơng đề kháng khác biệt có ý nghĩa thống kê (5,5 ± 0,6 và 5,1 ± 0,5

mmol/l, p<0,001), tỉ lệ RLĐHĐ ở nhóm đề kháng insulin cao hơn nhiều so với

nhóm khơng đề kháng insulin (83% so với 17%, p=0,001). Một số nghiên cứu trong

nước gần đây cũng cho kết quả tương tự như tác giả Hoàng Đăng Mịch khi nghiên

cứu đề kháng insulin trên người THA thấy rằng có sự tương quan tuyến tính mạnh

giữa đề kháng insulin với ĐH đói (r=0,61, p<0,001) [25]. Tăng nồng độ glucose

máu lúc đói (Go) là yếu tố chẩn đốn sớm bệnh ĐTĐ, biểu hiện của tình trạng

kháng insulin. Tăng nồng độ glucose máu lúc đói chủ yếu là do kháng insulin tại

gan và làm gan tăng sản xuất glucose. Nếu glucose máu tiếp tục tăng cao thì tế bào

β khơng thể duy trì lâu dài sự tăng tiết insulin mà glucose máu tiếp tục tăng thì nồng

độ insulin máu sẽ giảm dần. Điều này là do có sự kháng insulin của tổ chức đối với

chuyển hóa glucose, mặc dù có insulin nhưng glucose vẫn khơng được hấp thu và

chuyển hóa trong tế bào.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE (DNG) VÀ ĐỀ KHÁNG INSULIN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×