Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

lxvii



cứu trên bệnh nhân THA của các tác giả khác thì tương đối cao hơn như nghiên cứu

của Trần Thị Mỹ Loan [23] là 57,53 ± 10,49 tuổi; nghiên cứu Đặng Vạn Phước [28]

là 59,62 ± 11,21, nghiên cứu ISEARCH [46] trên dân số THA tồn cầu có tuổi

trung bình là 62,4 ± 11,7 tuổi. Sự khác biệt này có thể do tính chất dân số của các

nghiên cứu khác nhau, bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Thống nhất đa phần là các

cán bộ người cao tuổi đã về hưu nên tuổi trung bình ở nhóm THA và khơng THA

đều cao.

Sự khác biệt về tuổi và giới ở hai nhóm khơng có ý nghĩa thống kê, đây là cơ

sở để chúng tôi thực hiện những so sánh các thông số giữa hai nhóm.



4.1.2 Đặc điểm tiền căn

Hoạt động thể lực

Phần lớn bệnh nhân ở nhóm THA và khơng THA có hoạt động thể lực nhẹ

(80,4% và 87%) như đi bộ buổi sáng, làm việc nhà, làm vườn (ít nhất 30 phút/

ngày) do người bệnh ở cả hai nhóm đa phần là người lớn tuổi và là cán bộ hưu trí

nên có nhiều thời gian cũng như ý thức phòng bệnh cao.



Bệnh lý mạch vành

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân có bệnh mạch vành ở nhóm

THA là 68% cao hơn nhóm khơng THA là 48%. Nhiều nghiên cứu lớn khác cũng

cho thấy sự phát triển tổn thương mạch máu nhỏ thường đi trước chẩn đoán đái tháo

đường và đã chứng minh vai trò độc lập của tăng glucose máu sau ăn làm tăng nguy

cơ tử vong do bệnh tim mạch, có thể do những thay đổi glucose máu sau ăn thúc

đẩy quá trình vữa xơ động mạch trước khi glucose máu lúc đói bị ảnh hưởng [76].

Tiền sử gia đình, đái tháo đường thai kỳ, con > 4 kg

Tiền sử gia đình có người trực hệ mắc bệnh ĐTĐ ở nhóm THA là 14% và ở

nhóm không THA là 9%. Các tiền căn khác như ĐTĐ thai kỳ và có con > 4 kg

chiếm tỉ lệ thấp ( 0,8% và 2 % ở nhóm THA, 0% và 1 % ở nhóm khơng THA).



4.1.3 Đặc điểm nhân trắc



lxviii



Đặc điểm trị số huyết áp

Tỉ lệ bệnh nhân được kiểm soát huyết áp (HA < 140/90 mmHg) khá cao

79,6%. Mục tiêu của sức khỏe năm 2010 là kiểm soát huyết áp được ≥ 50% bệnh

nhân [51]. Như vậy có vẻ như chúng ta đã đạt được mục tiêu trong điều trị, có thể

do dân số nghiên cứu đa phần là đối tượng cán bộ về hưu nên sự tuân thủ điều trị

tốt. Tuy nhiên, tỉ lệ này có thể cao hơn thực tế do đa số bệnh nhân đến khám và điều

trị ngoại trú đều là bệnh nhân nhẹ và có huyết áp ổn định.

Đặc điểm chỉ số khối cơ thể

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trị số BMI trung bình ở nhóm THA là 24 ±

2,9 kg/m2; ở nhóm khơng THA là 23,2 ± 2,5 kg/m2, có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê giữa BMI trung bình ở hai nhóm (p = 0,009). Kết quả này giống với nghiên cứu

gần đây của tác giả Nguyễn Thành Thuận [31] có BMI trung bình lần lượt ở hai

nhóm là 24,02 ± 3,18 kg/m2 và 22,1 ± 3,03 kg/m2 . BMI trung bình ở nhóm THA

khá tương đương với các nghiên cứu trong nước trước đây như nghiên cứu của Trần

Thị Mỹ Loan [23] là 23,75 ± 3,65 kg/m2; Đặng Vạn Phước [28] là 23,91 ± 4,05

kg/m2; nhưng thấp hơn nghiên cứu ISEARCH [46] có BMI trung bình là 28,9 ± 5,7

kg/m2 và nghiên cứu của tác giả Deepak Parchwani [52] ở Ấn Độ là 29,4 ± 5,7 do

người Việt Nam có vóc dáng nhỏ hơn người Ấn Độ, châu Âu, Mỹ.

THA thường kết hợp với thừa cân và béo phì. Theo nghiên cứu Framingam,

sự gia tăng trọng lượng quá 20% so với trọng lượng lí thuyết sẽ gia tăng nguy cơ

xuất hiện THA gấp 8 lần dù ở tuổi nào bị béo phì [9]. Kết quả nghiên cứu của chúng

tôi cũng phù hợp với điều này: tỉ lệ người THA có thừa cân và béo phì chiếm

63,6%, trong đó tỉ lệ thừa cân là 33,6% và béo phì là 30%.

Đặc điểm béo phì trung tâm

Béo phì vùng bụng còn gọi là béo trung tâm hay béo bụng có vị trí quan

trọng trong đề kháng insulin là nguyên nhân gây ĐTĐ týp 2, THA, rối loạn chuyển

hóa lipid [20].

Trong nghiên cứu của chúng tơi tỉ lệ bệnh nhân THA có béo phì trung tâm là

50,4%. Kết quả của chúng tơi thấp hơn nghiên cứu của tác giả Lê Hoài Nam [26]



lxix



khảo sát hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân THA ghi nhận tỉ lệ bệnh nhân THA

có béo bụng là 75,9% và cao hơn hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Vạn

Phước [28] có tỉ lệ bất thường vòng eo là 22,5%.

Tuy nhiên chúng tơi cũng ghi nhận chỉ số WHR trung bình ở nhóm khơng

THA cao bằng với nhóm THA và tình trạng béo phì trung tâm ở cả hai nhóm khác

biệt khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Kết quả này là do đặc điểm nhóm khơng

THA của chúng tơi khơng phải là những người hồn toàn khỏe mạnh mà cũng là

những bệnh nhân đến khám vì các bệnh lý khác, có cùng phân bố tuổi và giới với

nhóm THA nên những đặc điểm về tình trạng béo phì trung tâm cũng khá giống

nhau.



4.1.4 Đặc điểm các chỉ số sinh hóa

Đặc điểm đường huyết lúc đói và HbA1c

Đường huyết đói trung bình ở bệnh nhân THA là 5,4 ± 0,6 mmol/l. Mức

đường huyết này gần giống với mức đường huyết đói ở Hà Nội [32] là 5,31 ± 0,82

mmol/l và ở thành phố Hồ Chí Minh [26] là 5,3 ± 1,1 mmol/l, thấp hơn thấp hơn

mức đường huyết đói của người THA ở dân số Tây Ban Nha [63] là 6,2 ± 1,6

mmol/l.

Nghiên cứu của chúng tơi ghi nhận 35,2 % bệnh nhân THA có RLĐHĐ đi

kèm. Tỉ lệ RLĐHĐ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Quách

Hữu Trung [32] (17,5%) và Sun [12] thực hiện ở Trung Quốc (26%) trên đối tượng

THA.

So với nhóm khơng THA thì bệnh nhân ở nhóm THA có mức đường huyết

đói trung bình và tỉ lệ rối loạn dung nạp đường huyết đói cao hơn có ý nghĩa thơng

kê (p<0,05).

Gần phân nửa bệnh nhân trong nhóm THA có nồng độ HbA1C trong máu ở

mức ≥ 5,7% (45,2%), có 4,4% (11 trường hợp) bệnh nhân có HbA1C ≥ 6,5%.

Khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của HbA1C trung bình (p > 0,05) và tỉ lệ

các mức HbA1C (p > 0,05) giữa 2 nhóm.



lxx



HbA1C phản ánh đường huyết trung bình của bệnh nhân trong vòng 2-3

tháng trước đó. Điều này chứng tỏ trong 11 trường hợp nếu bị ĐTĐ thì đường huyết

đã tăng cao trước khi phát hiện khá lâu mà khơng được chẩn đốn và nếu chỉ dựa

vào tiêu chí đường huyết đói thì đã bỏ sót 4,4% trường hợp ĐTĐ mới mắc dựa theo

tiêu chí HbA1C.

Đặc điểm nồng độ insulin máu lúc đói, chỉ số HOMA-IR và ngưỡng chẩn

đoán đề kháng insulin

Insulin máu là một thông số quan trọng như glucose máu để tính tốn các chỉ

số kháng insulin. Tăng nồng độ insulin máu lúc đói (Io), phản ánh trực tiếp tình

trạng tăng insulin máu và gián tiếp phản ánh tình trạng kháng insulin, cũng là một

yếu tố nguy cơ dự báo sự tiến triển của ĐTĐ.

Tuy nhiên, vì nồng độ insulin máu thay đổi rất khác nhau và phụ thuộc nhiều

về phương pháp định lượng cũng như chủng tộc và cách chọn mẫu nghiên cứu, nên

cho đến nay thế giới cũng chưa thống nhất được giá trị bình thường của insulin máu

lúc đói.

Nghiên cứu của chúng tơi thấy rằng: nồng độ insulin máu trung bình lúc đói

ở nhóm THA là 11,3 ± 7,0 μU/ml cao hơn so với nhóm khơng THA là 9,0 ± 4,9

μU/ml (p=0,002). Như vậy có sự tăng rõ rệt nồng độ insulin máu ở nhóm THA so

với nhóm chứng, điều này chứng tỏ có tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân THA.

Để đánh giá kháng insulin có rất nhiều phương pháp và chỉ số đánh giá.

Phương pháp được coi là chính xác nhất hay “tiêu chuẩn vàng” đó là phương pháp

“kẹp glucose”. Nhưng phương pháp này rất phức tạp và khó thực hiện nên ít áp

dụng trong nghiên cứu dịch tế và thực hành lâm sàng.

Hiện nay phương pháp đánh giá nội sinh (HOMA- Hemostatic model

assessement) là phương pháp được phổ biến rộng rãi nhất vì đây là phương pháp

đơn giản, dễ thực hiện và khá chính xác khi so sánh với phương pháp “kẹp

glucose”.

Dựa theo tiêu chí chẩn đốn của WHO, chúng tơi có được 64 người là công

nhân viên bệnh viện, từ 22-35 tuổi, khỏe mạnh và điểm cắt được xác định để chẩn



lxxi



đoán đề kháng insulin là HOMA-IR > 1,77. Điểm cắt của chúng tôi gần tương đồng

với tác giả Oimatsu người Nhật, tác giả này đã chọn điểm cắt HOMA-IR > 1,73 để

chẩn đoán đề kháng insulin với độ nhạy 71,4% và độ đặc hiệu 94,7% [93].

Đặc điểm lipid máu

Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ hàng đầu và hay gặp trên bệnh nhân

THA. Ở người THA không điều trị, tăng cholesterol máu thường gặp hơn ở người

huyết áp bình thường [12].

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 86,4% bệnh nhân THA có rối loạn

chuyển hóa lipid, trong đó tăng triglyceride là 48,4%, HDL-cholesterol thấp là

28,8%. Kết quả này tương tự nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Minh Nguyệt [27] có

82,3% bệnh nhân THA có rối loạn chuyển hóa lipid và nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Thành Thuận [31] là 79,3%. Tuy nhiên, kết quả này thấp hơn so với số liệu

của tác giả Châu Ngọc Hoa [12] có tỉ lệ tăng triglyceride là 86%, HDL-C thấp là

42% vì tác giả thực hiện nghiên cứu trên bệnh nhân THA chưa điều trị rối loạn lipid

máu.

Đặc điểm acid uric máu

Theo Jonhson và cộng sự, tăng acid uric là một yếu tố tiên đoán THA [69].

Kết quả từ nghiên cứu của Kawamoto cho thấy trên nhóm THA thì chỉ số acid uric

trung bình cao hơn nhóm HA bình thường (5,1 ± 1,4 mg/dL so với 4,7 ± 1,3 mg/dL)

[75]. Nghiên cứu của chúng tơi thì nhóm THA cũng có mức acid uric trung bình cao

hơn nhóm khơng THA và tỉ lệ tăng acid uric máu ở hai nhóm lần lượt là 28% và

26%, tuy nhiên sự khác biệt giữa hai nhóm khơng có ý nghĩa thống kê. Điều này có

thể giải thích do đa phần bệnh nhân THA trong nghiên cứu của chúng tôi đã được

theo dõi và điều trị nhiều năm nên chỉ số acid uric máu đã được kiểm soát và số

bệnh nhân còn tăng acid uric khơng nhiều.



4.2 ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE (DNG) VÀ ĐỀ

KHÁNG INSULIN CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Qua thực hiện NPDNGĐU trên 250 bệnh nhân THA và 100 bệnh nhân

không THA tại khoa Khám bệnh, bệnh viện Thống Nhất, chúng tơi nhận thấy tình



lxxii



trạng bất thường dung nạp glucose ở bệnh nhân THA chiếm tỉ lệ cao là 42,4%, trong

đó 30% bệnh nhân bị RLDNG; 12,4% bệnh nhân bị ĐTĐ. Ở nhóm bệnh nhân

khơng THA, các tỉ lệ này lần lượt là 16% và 8%, sự khác biệt giữa hai nhóm có ý

nghĩa thống kê.

Năm 2005, tại Hà Nội, Quách Hữu Trung [31] thực hiện NPDNGĐU trên hai

nhóm đối tượng: một nhóm gồm 131 bệnh nhân THA nguyên phát và một nhóm

chứng gồm 43 người không THA. Kết quả cho thấy tỉ lệ RLDNG và ĐTĐ ở nhóm

THA (tương ứng là 23,7% và 17,6%) cao hơn nhóm khơng THA (tương ứng là

7,0% và 7,0%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tương tự, nghiên cứu của chúng tơi

có kết quả gần giống với một nghiên cứu năm 2010 của tác giả người Ấn Độ thực

hiện trên 325 bệnh nhân THA và nhóm chứng gồm 100 bệnh nhân khơng THA cho

thấy có 30,46% bệnh nhân bị RLDNG và 9,53% bệnh nhân có ĐTĐ mới phát hiện

trong nhóm THA.

Bảng 4.35: So sánh tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ ở bệnh nhân THA trên

các dân số khác nhau.

Dân số



Năm



Cỡ mẫu



RLDNG



ĐTĐ



(Tỉ lệ %)



(Tỉ lệ %)



Tây Ban Nha [63]



2002-2003



420



21,9



11,2



Phần Lan [79]



2005-2007



1106



20



6



Trung Quốc [49]



2008



898



40,1



11,7



Ấn Độ [52]



2010



325



30,46



9,53



Hà Nội [32]



2005



131



23,7



17,6



TPHCM [27]



2009



255



31



14,9



Thái Nguyên [1]



2010



286



22,7



9,79



Quảng Ninh [8]



2010



137



29,2



10,94



Chúng tôi



2013



250



30



12,4



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×