Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ KHÁNG INSULIN

2 TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ KHÁNG INSULIN

Tải bản đầy đủ - 0trang

viii



2005-2006, 34,6% người dân Mỹ đã bị tiền ĐTĐ [55]. Đến năm 2010, khoảng một

phần ba số người Mỹ ≥ 20 tuổi (ước tính khoảng 79 triệu người) đã có tiền đái tháo

đường, một tình trạng mà lượng đường trong máu hoặc HbA1C cao hơn bình

thường nhưng khơng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [48].

Theo khuyến cáo mới của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ 2010, chẩn đốn tiền

ĐTĐ gồm các tình huống sau:

 Rối loạn đường máu đói (IFG) là glucose máu từ 100 mg/dL (5,6

mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L) (5,6 ≤ Go ≤ 6,9 mmol/L)

 Rối loạn dung nạp glucose là ngưỡng glucose máu 2 giờ sau làm nghiệm

pháp dung nạp glucose bằng đường uống (OGTT) từ 140 mg/dL (7,8

mmol/L) đến 200 mg/dL (11,1 mmol/L) (7,8 ≤ G2 < 11,1 mmol/L)

 Nồng độ HbA1C: Từ 5,7 đến 6,4%

Năm 2009, cùng với việc khuyến cáo đưa HbA1C vào tiêu chí chẩn đốn

ĐTĐ, các chun gia cũng chú trọng đến nhóm đối tượng có HbA1C trong khoảng

từ 5,7% đến 6,4% và xếp chung nhóm đổi tượng này với nhóm RLĐHĐ và RLDNG

thành “phân loại nguy cơ cao đái tháo đường”. So với đường máu đói, HbA1C với

ngưỡng 5,7% có độ nhạy thấp hơn nhưng có độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương

cao hơn trong việc dự đoán đái tháo đường xuất hiện trong tương lai. Do đó chúng

ta cần giải thích rõ các nguy cơ, cũng như có những chiến lược phòng ngừa thích

hợp cho tất cả những bệnh nhân có HbA1C trong khoảng từ 5,7% đến 6,4%.

Mặc dù cả hai tình trạng RLĐHĐ hay RLDNG là do tình trạng đề kháng

insulin, nhưng khác nhau ở vị trí đề kháng. RLĐHĐ chủ yếu do tình trạng đề kháng

insulin ở gan và độ nhạy insulin ở cơ bình thường, trong khi RLDNG do tình trạng

đề kháng insulin trung bình đến nặng ở cơ, và độ nhạy insulin bình thường hoặc

giảm nhẹ ở gan. Nếu kết hợp cả RLĐHĐ và RLDNG thì có cả tình trạng đề kháng

insulin ở gan và cơ.

Người có tình trạng tiền ĐTĐ có nguy cơ cao phát triển thành bệnh ĐTĐ týp

2. Mỗi năm, khoảng 11% người có tiền ĐTĐ khơng giảm cân và không tham gia



ix



vào hoạt động thể chất vừa phải sẽ tiến triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 trong 3 năm

theo dõi [68]. Tuy nhiên, sự nhận thức về tình trạng tiền ĐTĐ chưa cao. Ở Mỹ,

trong thời gian 2005-2006, chỉ có khoảng 7% người có tiền ĐTĐ đã nhận thức được

tình trạng nguy cơ của họ, tỉ lệ này có tăng lên ở giai đoạn 2009-2010 là 11,1%,

nhưng nhìn chung tỉ lệ nhận thức vẫn còn thấp [109]. Ở Việt Nam chưa có cuộc

điều tra nào về nhận thức của bệnh nhân về tình trạng tiền ĐTĐ, tuy nhiên dự đoán

tỉ lệ này sẽ thấp hơn nhiều so với tỉ lệ ở Mỹ.



1.2.2 Rối loạn dung nạp glucose

Trên toàn thế giới, số lượng người RLDNG được ước tính khoảng 280 triệu

người và con số này sẽ là 398 triệu người vào năm 2030 [34]. Tỉ lệ rối loạn dung

nạp glucose trong cộng đồng khác nhau tùy theo vị trí địa lý, chủng tộc, lứa tuổi, lối

sống và điều kiện kinh tế xã hội.

Các tác giả nhận thấy rối loạn dung nạp glucose tăng tỷ lệ thuận với tuổi.

Theo số liệu điều tra cơ bản trên toàn quốc về dinh dưỡng và sức khỏe NHANES

(National Health And Nutrition Examination Survey) của Mỹ thì tỉ lệ rối loạn dung

nạp glucose tăng theo tuổi từ 8% ở nhóm tuổi 20 - 40 tăng lên 41% ở nhóm tuổi 6574.

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu dịch tễ ở một số thành phố lớn cho kết quả tỉ

lệ rối loạn dung nạp glucose ở Hà Nội là 1,6%, thành phố Hồ Chí Minh 0,96 ±

0,2%, Huế 1,45% ± 0,17% [7].

Tơ Văn Hải (2000) điều tra dịch tễ tại 3 quận huyện Hà Nội thấy tỉ lệ rối loạn

dung nạp glucose nói chung là 3,57% [10].

Năm 2001, tác giả Tạ Văn Bình nghiên cứu trên 2394 đối tượng từ 30 đến 64

tuổi hiện đang sinh sống tại 4 thành phố lớn : Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP.

Hồ Chí Minh cho biết tỉ lệ RLDNG trong cộng đồng là 5,9% [2].

Rối loạn dung nạp glucose không phải là một bệnh mà được coi như trạng

thái sớm của bệnh đái tháo đường týp 2, giai đoạn trung gian của dung nạp glucose

bình thường và bệnh đái tháo đường týp 2 [21]. Đây là một khái niệm rất có ý nghĩa



x



trong lâm sàng, nó cho phép xác định sớm các đối tượng có nguy cơ cao trong

tương lai sẽ tiến triển thành bệnh đái tháo đường týp 2 thực thụ.

Bảng 1.4: Nguy cơ phát triển ĐTĐ ở nhóm rối loạn dung nạp glucose so với

nhóm khơng rối loạn dung nạp glucose (n lần).

Đối tượng nghiên

cứu



Nguy cơ phát



Nguy cơ hàng năm



Thời gian theo



triển ĐTĐ



(%/năm)



dõi (năm)



(n lần)

Người Iran [67]



7,1



3,2



6



NgườiAustralia [86]



17



3.5



5



Người Hà Lan [105]

Người Đan Mạch



8,3



5,3



6,4



12,7



3,8



5



[58]

Cơ chế bệnh sinh của rối loạn dung nạp glucose rất phức tạp, chịu tác động

của nhiều yếu tố tương tự như đái tháo đường týp 2, có liên quan chặt chẽ đến

những bất thường về sự tiết cũng như tác dụng của insulin. Nhưng dù cơ chế ban

đầu là gì cuối cùng đều dẫn đến giảm tiết insulin và đề kháng insulin. Hai cơ chế

này tương tác lẫn nhau trong q trình phát triển của bệnh, trong đó quan trọng nhất

là kháng insulin.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh ở người rối loạn dung nạp glucose tình

trạng kháng insulin giữ vai trò quan trọng, phối hợp với rối loạn bài tiết insulin, đặc

trưng là giảm phóng thích insulin ở pha đầu kèm theo tiết insulin chậm và kéo dài.

Do kháng insulin ở mơ ngoại vi nên q trình dung nạp glucose máu sau ăn tăng,

đây là đặc trưng của rối loạn dung nạp glucose. Hiện tượng kháng insulin chủ yếu

xảy ra ở cơ và gan. Để bù trừ cho tình trạng kháng insulin, tế bào bêta của tụy đảo

Langerhán sẽ tăng tiết insulin dẫn tới hậu quả là tăng insulin máu. Tuy vậy, sau một

thời gian, khả năng tiết insulin của tế bào bêta giảm dần, khơng còn đủ khả năng

hoạt động bù trừ cho tình trạng kháng insulin, kết hợp với một số yếu tố thuận lợi

như lối sống ít hoạt động thể lực, béo phì, chế độ ăn nhiều carbohydrat…dẫn tới



xi



tăng cả glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose tiến triển thành đái tháo

đường týp 2 thực thụ [103].

Tỉ lệ tiến triển từ rối loạn dung nạp glucose thành đái tháo đường týp 2 thực

thụ khoảng 30-40% và những người rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ tiến triển

thành đái tháo đường týp 2 cao gấp 6,3 lần so với người có dung nạp glucose bình

thường [3]. Như vậy nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 ở những đối tượng có rối

loạn glucose là rất cao. Nhiều cơng trình nghiên cứu đều cho rằng thời gian bắt đầu

khởi phát của bệnh ĐTĐ có trước khi bệnh nhân được chẩn đốn ĐTĐ có thể từ 5 –

10 năm, vì thế nhiều bệnh nhân khi lần đầu tiên được chẩn đốn ĐTĐ đã có nhiều

biến chứng ở các cơ quan như tim mạch, mắt, thận, thần kinh. Kết quả trên đây cho

thấy cần quan tâm và phát hiện sớm RLDNG, điều trị sớm và can thiệp vào yếu tố

nguy cơ có thể giảm được tỉ lệ phát triển thành bệnh ĐTĐ.

Một số yếu tố nguy cơ cao dễ có khả năng phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2

là [51] :

 Tuổi ≥ 45.

 Người có BMI ≥ 23, vòng eo ≥ 90 cm với nam và ≥ 80 cm với nữ.

 Có người thân thuộc thế hệ cận kề đã mắc bệnh ĐTĐ.

 Phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt: đái tháo đường thai kỳ, sinh con to

(lớn hơn 4000g).

 Tăng huyết áp vơ căn.

 Người có tiền sử RLDNG hoặc RLĐHĐ.

 Người có bệnh ĐMV hoặc đột quỵ.

AACE khuyến cáo nên xét nghiệm tầm soát ĐTĐ cho các trường hợp sau

[68]:

*Xét nghiệm nên được xem xét với tất cả những người ≥30 tuổi thừa cân

(BMI ≥25 kg/m2) và có ≥1 yếu tố nguy cơ bên dưới, lưu ý mức BMI có thể thấp hơn

ở những nhóm dân tộc khác, như dân số Châu Á:

- Ít hoạt động thể lực.



xii



-



Tiền căn gia đình có người trực hệ bệnh ĐTĐ.

Tăng huyết áp ( HA > 140/90 mmHg hoặc đang điều trị THA).

HDL – C < 0,9 mmol/l và/ hoặc LDL – C > 2,82 mmol/l.

Phụ nữ có tiền sử sinh con nặng trên 4000g hoặc được chẩn đốn đái



-



tháo đường thai kỳ.

Phụ nữ có hội chứng đa nang buồng trứng.

Có các tình trạng khác liên quan đến đề kháng insulin.

Có bệnh động mạch vành.

Có RLĐHĐ, RLDNG, HbA1C >5.5% hoặc có hội chứng chuyển hóa.



*Trong trường hợp khơng có các tiêu chuẩn trên thì xét nghiệm nên được bắt

đầu từ 45 tuổi. Nếu kết quả bình thường thì kiểm tra lại mỗi 3 năm.

*Nếu bệnh nhân có tình trạng tiền ĐTĐ thì nên được kiểm tra mỗi năm.



1.2.3 Đề kháng insulin

1.2.3.1 Khái niệm, định nghĩa kháng insulin

Kháng insulin là thuật ngữ đầu tiên dùng để chỉ những bệnh nhân ĐTĐ týp 1

khi điều trị phải dùng đến hay nhiều hơn 200 đơn vị insulin/ngày mới kiểm sốt

được glucose máu. Tình trạng này chủ yếu do sự xuất hiện các kháng thể kháng lại

insulin. Do vậy kháng insulin được định nghĩa là: “Đáp ứng sinh học dưới mức bình

thường đối với nồng độ insulin đã dùng điều trị”, hay nói cách khác, “Kháng insulin

là tình trạng gia tăng liều insulin thơng dụng nhằm duy trì sự đáp ứng thông

thường” [42]. Ngày nay, thuật ngữ kháng insulin dùng để chỉ tình trạng kháng

insulin ở bệnh nhân ĐTĐ, THA, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid… và đặc biệt

hay được dùng trong hội chứng chuyển hóa [62].

Hiện nay, kháng insulin được ghi nhận cả những trường hợp bình thường

không dùng insulin nên định nghĩa kháng insulin đã được khái quát hơn: “Kháng

insulin là sự gia tăng nồng độ insulin trong khi đường máu bình thường hay gia

tăng”. Năm 1998, WHO đã đưa ra định nghĩa: “ Được xem là kháng insulin khi chỉ

số HOMA-IR lớn hơn tứ phân vị cao nhất trong nhóm chứng” [45].



1.2.3.2



Cơ chế bệnh sinh của kháng insulin [87],[98]



*Kháng insulin có thể do di truyền hoặc mắc phải



xiii



Kháng insulin có thể do di truyền được xác định từ những cặp sinh đôi cùng

trứng, cân nặng bình thường và ở những chủng tộc nhất định có tăng tỉ lệ ĐTĐ týp

2. Nhưng lý do kháng insulin trên cơ sở tế bào vẫn chưa được xác định rõ. Kháng

insulin là hậu quả của béo phì, thiếu luyện tập, tuổi tác, một số bệnh hoặc thuốc

kháng lại hoạt động của insulin. Ngồi ra còn gây kháng insulin thứ phát sau cường

giáp trạng, hội chứng cushing, hội chứng to đầu chi, chấn thương, bỏng.

* Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của insulin

Hoạt động của insulin phụ thuộc vào hàm lượng glucose máu, ái lực của thụ

thể đặc hiệu với insulin ở tế bào đích, hàm lượng insulin. Kháng insulin có thể do

bất thường tại các vị trí trước, sau và ngay tại thụ thể của insulin ở mơ đích. Giảm

hoạt động của enzym Tyrosinnase ở vùng sau thụ thể là cơ chế chính của bệnh nhân

ĐTĐ týp 2 làm cho insulin khi vào thụ thể không phát huy được tác dụng sinh học,

vì vậy khơng kích thích được sự vận chuyển glucose vào tế bào.

1.2.3.3 Các phương pháp xác định kháng insulin.

Vì khơng có một chất cụ thể nào hay một phương pháp nào đánh giá chính

xác tuyệt đối tình trạng kháng insulin, nên hiện nay người ta sử dụng nhiều phương

pháp và chỉ số để đánh giá khác nhau, sau đây là một số phương pháp và chỉ số hay

được sử dụng: [11],[15],[74],[98]

*Các phương pháp nội sinh

Đây là những phương pháp đánh giá hoạt động insulin nội sinh có kết hợp

với đưa glucose vào cơ thể hoặc khơng.

 Định lượng insulin máu cơ bản lúc đói:

Là phương pháp đơn giản và được áp dụng rộng rãi nhất để xác định tình

trạng kháng insulin, chỉ cần định lượng nồng độ insulin lúc đói (I0).

 Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống:

Nghiệm pháp được thực hiện như sau: Định lượng nồng độ glucose và

insulin lúc đói (G0, I0), sau đó cho uống 75g glucose. Sau 30 phút và 120 phút, lấy

lại máu để định lượng nồng độ glucose và insulin (G30, I30, G120, I120). Các chỉ



xiv



số glucose, insulin máu, tỉ số của chúng và diện tích dưới đường biểu diễn ở các

thời điểm của nghiệm pháp được sử dụng để đánh giá tình trạng kháng insulin.

*Các phương pháp ngoại sinh

Đây là phương pháp đánh giá đáp ứng glucose máu đối với một lượng

insulin nhất định được đưa từ ngoài vào trong cơ thể. Sau đây là một số phương

pháp hay sử dụng.

 Kỹ thuật “kẹp glucose” (the glucose clamp)

Phương pháp này được coi là chính xác nhất, hay “tiêu chuẩn vàng”. Nồng

độ glucose được kẹp chặt hay cố định ở một mức nhất định trong khi đánh giá sự

tiết của insulin hoặc cố định nồng độ insulin trong khi đo hoạt tính của nó.

Kỹ thuật “kẹp glucose” được thực hiện như sau: Tiêm insulin vào tĩnh mạch

để nâng cao nồng độ insulin lúc đói, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục để duy trì

nồng độ insulin vào khoảng 100 μU/ml. Trong khi đó bệnh nhân đồng thời được

truyền glucose tĩnh mạch để ngăn không cho giảm glucose máu và “kẹp” hay duy trì

nồng độ glucose 100mg/dl (5,5mmol/L). Ở tình trạng này lượng glucose truyền vào

tương ứng với sự thu nạp glucose ở các mơ và qua đó tính được sự chuyển hố

glucose qua trung gian insulin hay nói cách khác tình trạng nhạy cảm với insulin tại

mơ.

Đây là kỹ thuật xâm nhập và khá phức tạp, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật và

thời gian do vậy khó thực hiện.

 Nghiệm pháp dung nạp insulin (insulin tolerance test)

Tiêm tĩnh mạch insulin sau đó định lượng glucose máu. Phương pháp này

đơn giản nhưng có nguy cơ gây hạ glucose máu nên hiện nay ít được áp dụng.

 Nghiệm pháp dung nạp insulin đường tĩnh mạch ngắn (intravenous

insulin tolerance test, minimal model)

Bonara đã đưa ra phương pháp này với một vài cải tiến để khắc phục nhược

điểm của phương pháp trên. Thời gian tiến hành phương pháp chỉ kéo dài 15 phút

và glucose máu được đo mỗi phút nên tránh được tai biến hạ glucose máu.



xv



 Nghiệm pháp ức chế insulin:

Bệnh nhân được truyền epinephrine và propanonol cùng lúc với insulin và

glucose. Phương pháp này ít được áp dụng vì epinephrine hay gây tác dụng phụ.

1.2.3.4 Một số chỉ số đánh giá kháng insulin

*Chỉ số HOMA-IR

Io(μU/mL) × Go (mmol/L)

HOMA IR =

22,5

HOMA-IR: Homeostasis Model Assessment Insulin Resistance – Chỉ

số kháng insulin theo phương pháp đánh giá ổn định nội môi.

Io: nồng độ insulin lúc đói tính bằng μU/ml.

Go: nồng độ glucose lúc đói tính bằng mmol/L.

Phương pháp này phản ánh sự nhạy cảm isulin ở tình trạng cơ bản thật sự

trong khi các phương pháp khác phải chích hay truyền glucose (hoặc insulin). Được

coi là kháng insulin khi chỉ số HOMA-IR lớn hơn tứ phân vị trên của nhóm chứng

như WHO đã quy ước năm 1998.

*Chỉ số QUICKI: Quantitative Insulin Sensitivity Check Index

1

QUICKI =

log(I0) + log(G0)

I0: nồng độ insulin máu lúc đói tính bằng μU/ml.

G0: nồng độ glucose máu lúc đói tính bằng mg/dl.

WHO quy định có kháng insulin khi chỉ số QUICKI nhỏ hơn tứ

phân vị thấp nhất trong nhóm chứng.

*Chỉ số ISI0-120 (chỉ số độ nhạy của insulin)

(m/MPG)

ISI0-120 =

log(MSI)

ISI: Insulin Sensitivity Index



xvi



Trong đó:

- m = [75000mg + (G0 - G120) x 0,19 x cân nặng (kg)]/120 phút.

- MPG = (G0 + G120)/ 2: Giá trị trung bình của nồng độ glucose lúc đói

(G0) và tại thời điểm 120 phút (G120) khi thực hiện NPDNG.

- MSI=(I0 + I120)/2: Giá trị trung bình của nồng độ insulin lúc đói (I0)

và tại thời điểm 120 phút (I120) khi thực hiện NPDNG.

*Một số chỉ số khác:

- Chỉ số I0/G0 (tỈ lệ insulin và glucose lúc đói), chỉ số AUC (Area

Under the Curve - tỷ số diện tích dưới đường biểu diễn)

- Chỉ số MMAMG (Minimal Model Approximation of the Metabolism

of Glucose)

- Chỉ số McAuley (dựa vào sự gia tăng của nồng độ triglyceride và

insulin máu lúc đói) do McAuley đề xuất, cơng thức tính: F(x)= exp[2.63 −

0,28ln(I0μU/ml) – 0,31 ln(TG mmol/L)],

- Chỉ số Bennett = 1/ [ln(I0μU/ml) x ln(G0mmol/L)].

Trong nhiều nghiên cứu, các tác giả đã nhận thấy chỉ số HOMA-IR được xếp

vào những phương pháp thông dụng hiện nay để xác định kháng insulin , vì nó có

mối liên quan phương pháp kẹp glucose “tiêu chuẩn vàng” trong đánh giá nhạy cảm

và kháng insulin.



1.2.4 Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống

Theo ADA, nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (NPDNGĐU) là một

phương tiện có giá trị để chẩn đốn ĐTĐ, nhưng khơng được khuyến khích trong

thực hành lâm sàng. Đường huyết đói thường được dùng để chẩn đoán bởi các ưu

điểm sau: thực hiện dễ dàng và nhanh chóng, thuận tiện hơn, dễ được bệnh nhân

chấp nhận, tính lặp lại cao hơn, và ít tốn kém hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng một

mình đường huyết đói sẽ có khoảng 30% bệnh nhân ĐTĐ khơng được chẩn đốn.

Số bệnh nhân bị sót này chỉ có thể được chẩn đốn bằng NPDNGĐU [108].



xvii



Năm 2006, WHO khuyến cáo NPDNGĐU vẫn được duy trì làm test chẩn

đốn vì ba lý do sau [108]:

- Nếu chỉ dùng một mình đường huyết đói sẽ bỏ sót khoảng 30% bệnh

nhân ĐTĐ khơng được chẩn đốn.

- NPDNGĐU là phương pháp duy nhất để chẩn đoán RLDNG.

- NPDNGĐU thường được dùng để xác định hoặc loại trừ trường hợp bất

thường dung nạp glucose ở người khơng có triệu chứng.

*Chỉ định của NPDNGĐU [97],[108]:

- Chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ (trong khoảng tuần thứ 24 đến tuần thứ 28 của

thai kỳ).

- Chẩn đoán RLDNG.

- Trên một số đối tượng nguy cơ cao như: THA, dùng corticoid kéo dài,

nữ sanh con trên 4 kg, RLĐHĐ.

- Nghiên cứu trong dân số để có các số liệu dịch tễ.

*Quy trình [95]

- Trong 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp bệnh nhân phải ăn một khẩu

phần giàu carbonhydrat (ít nhất 150 – 200g mỗi ngày). Sau đó nhịn đói

từ 12 giờ đêm cho đến sáng trước khi làm test. Với lượng đường này thì

chỉ cần chế độ ăn uống bình thường hàng ngày là đủ, trừ khi ta ước

đốn bệnh nhân dùng ít hơn 150g đường mỗi ngày. Lý do là vì lượng

đường nhập mỗi ngày thấp trước khi làm test sẽ làm lu mờ đáp ứng

insulin sớm để kiểm soát glucose, điều quan trọng nhất trong xác định

dung nạp glucose bình thường.

- Bệnh nhân dừng tất cả các loại thuốc có ảnh hưởng nhiều đến chuyển

hố glucose (glucocorticoid, thiazid, ức chế beta, phenytoin, thuốc ngừa

thai có estrogen, acid nicotinic…).

- Không vận động quá sức trước khi làm nghiệm pháp.

- Nhịn đói qua đêm ít nhất 12 giờ (ví dụ: từ 20 giờ hơm trước khơng ăn

gì để làm nghiệm pháp vào 8 giờ sáng hôm sau).

- Xét nghiệm glucose máu lúc đói trước khi làm nghiệm pháp.

- Cho bệnh nhân uống 75g glucose khan pha trong 250ml nước để nguội,

uống trong vòng 5 phút.



xviii



- Sau 2 giờ làm lại xét nghiệm glucose máu.



1.2.5 Điều trị tình trạng rối loạn dung nạp glucose, phòng ngừa tiến

triển thành đái tháo đường thực sự

Trong trường hợp tiền ĐTĐ không được phát hiện và can thiệp, bệnh thường

diễn biến đến ĐTĐ thật sự. Tình trạng bắt đầu tăng glucose huyết ở tiền ĐTĐ sẽ

diễn biến đồng thời thương tổn chức năng tế bào bêta và tăng đề kháng insulin ở

ngoại biên sẽ gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch. Thương tổn tim mạch có thể

xảy ra nhiều năm trước khi biểu hiện lâm sàng của ĐTĐ xuất hiện rõ. Khi glucose

huyết được kiểm soát sớm, chức năng tế bào bêta sẽ được bảo vệ và góp phần giảm

biến chứng tim mạch.

Tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose tiến triển thành đái tháo đường týp 2 là 30 40% và những người rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ tiến triển thành đái tháo

đường týp 2 cao gấp 6,3 lần so với người có dung nạp glucose bình thường [3].

Devegt và Dekker theo dõi 1342 đối tượng bình thường trong vòng 6 năm nhận thấy

tỉ lệ bệnh nhân bị đái tháo đường ở nhóm có rối loạn dung nạp glucose và rối loạn

đường máu lúc đói là 64,5% trong khi ở nhóm chỉ có rối loạn glucose máu lúc đói tỉ

lệ đó chỉ là 4,5%.

Tuy nhiên diễn biến đến ĐTĐ khơng phải là khơng phòng tránh được, đã có

nhiều nghiên cứu cho thấy nếu thay đổi lối sống thích hợp, kết hợp dùng thuốc có

thể làm chậm, thậm chí ngăn ngừa sự xuất hiện ĐTĐ týp 2 thật sự.

Bảng 1.5: Tóm tắt các nghiên cứu can thiệp lối sống giảm nguy cơ tiến triển ĐTĐ

týp 2

Nghiên cứu



Can thiệp



Cỡ



Theo dõi



RRR



mẫu



(năm)



(%)



(n)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ KHÁNG INSULIN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×