Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 TỔNG QUAN TĂNG HUYẾT ÁP

1 TỔNG QUAN TĂNG HUYẾT ÁP

Tải bản đầy đủ - 0trang

v



khám lọc lâm sàng ít nhất 2-3 lần khác nhau. Mỗi lần khám huyết áp

được đo ít nhất 2 lần.

 Tại nhà: khi đo nhiều lần đúng phương pháp, được coi là tăng huyết áp

khi trị số huyết áp lớn hơn 135/85 mmHg.

 Đo huyết áp bằng máy đo Holter 24 giờ: huyết áp lớn hơn 125/80 mmHg.



1.1.3 Phân loại tăng huyết áp[29]

Có nhiều cách phân loại THA. Trên thực tế lâm sàng, người ta sử dụng cách

phân loại đơn giản, chia THA ra làm hai loại chính:

 THA nguyên phát (chưa rõ nguyên nhân) hay còn gọi là bệnh THA,

chiếm khoảng 90 - 95% các trường hợp THA.

 THA thứ phát là THA xác định được nguyên nhân gây ra như: do các

bệnh lý của thận, hẹp eo động mạch chủ, u tuỷ thượng thận, do thuốc ...

chiếm từ 5 - 10% các trường hợp THA.



1.1.4 Phân độ tăng huyết áp [29],[51]

Mục tiêu của việc xác định và điều trị THA là giảm nguy cơ bệnh tim mạch,

giảm tỉ lệ xuất hiện bệnh và tần suất tử vong. Những tiêu chuẩn này dùng cho người

THA không dùng thuốc chống THA và khơng có bệnh cấp tính. Trước đây có một

số tiêu chuẩn về chẩn đoán và phân độ THA khác nhau. Hiện nay, phần lớn các tác

giả thống nhất chọn tiêu chuẩn về chẩn đoán và phân độ theo WHO/ISH 1999 .

Bảng 1.2: Phân độ THA theo WHO/ISH -1999 ( tuổi > 18)

Độ THA

Tối ưu

Bình thường

Bình thường cao

THA độ 1

THA độ 2



HA tâm thu (mmHg)

HAtâm trương (mmHg)

< 120

< 80

120 - 129

80 – 84

130 – 139

85 – 89

140 – 159

và hoặc

90 – 99



160 – 179

và hoặc

100 – 109

THA độ 3

≥ 180

≥110

THA đơn độc tâm thu

≥ 140



< 90

 Khi HATT và HATTr nằm ở hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn



vi



đã phân loại.

 Các khái niệm nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao để chỉ nguy cơ bị

các bệnh lý tim mạch trong vòng 10 năm lần luợt tương ứng là < 15%,

15-20%, 20-30% và > 30% theo Framingham.

Phân loại THA của JNC VII (2003) đã đưa ra tiêu chuẩn phân độ mới đối với

người > 18 tuổi.

Bảng 1.3: Phân độ THA theo JNC VII (2003)

Loại

Bình thường

Tiền THA

THA



Huyết áp tâm thu(mmHg)

Huyết áp tâm trương(mmHg)

< 120

và/hoặc

< 80



Độ 1

Độ 2



120 - 139



và/hoặc



80 - 89



140 - 159



và/hoặc



90 - 99



≥ 160

và/hoặc

≥ 100

Theo phân loại của JNC VII thì THA chỉ chia làm 2 giai đoạn, tiền THA có



nguy cơ tiến triển thành THA thực sự. Trong bảng này khơng có HA tối ưu, nhóm

bình thường và bình thường cao được gộp lại thành một nhóm, THA giai đoạn 2 và

3 được gộp lại thành một.



1.1.5 Phân chia giai đoạn bệnh THA (WHO, 1993) [14]

 Giai đoạn 1: THA mà chưa gây tổn thương các cơ quan đích.

 Giai đoạn 2: Có ít nhất một trong những dấu hiệu tổn thương đến cơ quan

đích như:

- Dày thất trái (lâm sàng, Xquang; điện tim; siêu âm).

- Hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc (Salus- Gunn).

- Rối loạn nhẹ chức năng thận (tăng nhẹ creatinin máu).

- Siêu âm hoặc Xquang thấy mảng vữa xơ (động mạch cảnh. chậu, đùi,

bụng...).

 Giai đoạn 3: Có một hoặc nhiều tổn thương đến cơ quan đích bao gồm:

-



Tim: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim.

Đột quị, thiếu máu não tạm thời, bệnh não do THA, tai biến mạch máu



vii



-



não.

Đáy mắt: chảy máu hoặc xuất huyết võng mạc, có thể có phù gai thị.

Thận: creatinin > 2mg/dl; suy thận.

Mạch: phình bóc tách động mạch, tắc động mạch...



1.2 TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ KHÁNG

INSULIN

1.2.1 Tiền đái tháo đường [7],[21],[38],[54],[84],[91],[108]

Năm 1979, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu khái niệm giảm dung nạp

glucose (DNG) thay cho thuật ngữ “đái tháo đường giới hạn”. Giảm dung nạp

glucose được WHO và Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) xem là giai đoạn tự nhiên

của rối loạn chuyển hóa carbohydrate. Năm 1997, ADA đưa ra khái niệm rối loạn

đường huyết đói (RLĐHĐ) để so sánh với nhóm có rối loạn dung nạp glucose

(RLDNG) và dự báo nguy cơ ĐTĐ. Sau đó, ADA đề nghị bỏ nghiệm pháp dung nạp

glucose vì cho rằng nghiệm pháp này phức tạp, tốn kém, chủ yếu dùng để nghiên

cứu, khó áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Nhưng nhiều cơng trình nghiên

cứu khơng nhất trí sự thống nhất hai khái niệm rối loạn dung nạp glucose và rối

loạn đường máu đói vì các biến cố tim mạch và tử vong ở nhóm RLDNG cao hơn

nhóm RLĐHĐ và là yếu tố nguy cơ mạnh trong việc dự báo đái tháo đường (ĐTĐ)

[57]. Hơn nữa khi ADA khuyến cáo sử dụng đường máu lúc đói để thay cho glucose

2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp thì rất nhiều đối tượng bị RLDNG có nguy cơ tim

mạch bị bỏ qua. Năm 2008, cả hai tình trạng trên được ADA có sự đồng thuận của

WHO đặt tên chính thức là tiền đái tháo đường (Pre-diabetes).

Tiền ĐTĐ là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose, bao gồm 2 tình huống:

rối loạn đường máu đói (impaired fasting glucose =IFG) và rối loạn dung nạp

glucose (impaired glucose tolerance = IGT). Cả 2 tình huống này đều tăng glucose

máu nhưng chưa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ thật sự. Tuy nhiên ở giai đoạn tiền ĐTĐ

đã xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bước khởi đầu trong tiến trình xuất hiện

ĐTĐ týp 2.

Theo số liệu điều tra cơ bản trên toàn quốc về dinh dưỡng và sức khỏe

NHANES (National Health And Nutrition Examination Survey) của Mỹ, trong năm



viii



2005-2006, 34,6% người dân Mỹ đã bị tiền ĐTĐ [55]. Đến năm 2010, khoảng một

phần ba số người Mỹ ≥ 20 tuổi (ước tính khoảng 79 triệu người) đã có tiền đái tháo

đường, một tình trạng mà lượng đường trong máu hoặc HbA1C cao hơn bình

thường nhưng khơng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [48].

Theo khuyến cáo mới của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ 2010, chẩn đốn tiền

ĐTĐ gồm các tình huống sau:

 Rối loạn đường máu đói (IFG) là glucose máu từ 100 mg/dL (5,6

mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L) (5,6 ≤ Go ≤ 6,9 mmol/L)

 Rối loạn dung nạp glucose là ngưỡng glucose máu 2 giờ sau làm nghiệm

pháp dung nạp glucose bằng đường uống (OGTT) từ 140 mg/dL (7,8

mmol/L) đến 200 mg/dL (11,1 mmol/L) (7,8 ≤ G2 < 11,1 mmol/L)

 Nồng độ HbA1C: Từ 5,7 đến 6,4%

Năm 2009, cùng với việc khuyến cáo đưa HbA1C vào tiêu chí chẩn đốn

ĐTĐ, các chuyên gia cũng chú trọng đến nhóm đối tượng có HbA1C trong khoảng

từ 5,7% đến 6,4% và xếp chung nhóm đổi tượng này với nhóm RLĐHĐ và RLDNG

thành “phân loại nguy cơ cao đái tháo đường”. So với đường máu đói, HbA1C với

ngưỡng 5,7% có độ nhạy thấp hơn nhưng có độ đặc hiệu và giá trị tiên đốn dương

cao hơn trong việc dự đoán đái tháo đường xuất hiện trong tương lai. Do đó chúng

ta cần giải thích rõ các nguy cơ, cũng như có những chiến lược phòng ngừa thích

hợp cho tất cả những bệnh nhân có HbA1C trong khoảng từ 5,7% đến 6,4%.

Mặc dù cả hai tình trạng RLĐHĐ hay RLDNG là do tình trạng đề kháng

insulin, nhưng khác nhau ở vị trí đề kháng. RLĐHĐ chủ yếu do tình trạng đề kháng

insulin ở gan và độ nhạy insulin ở cơ bình thường, trong khi RLDNG do tình trạng

đề kháng insulin trung bình đến nặng ở cơ, và độ nhạy insulin bình thường hoặc

giảm nhẹ ở gan. Nếu kết hợp cả RLĐHĐ và RLDNG thì có cả tình trạng đề kháng

insulin ở gan và cơ.

Người có tình trạng tiền ĐTĐ có nguy cơ cao phát triển thành bệnh ĐTĐ týp

2. Mỗi năm, khoảng 11% người có tiền ĐTĐ không giảm cân và không tham gia



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 TỔNG QUAN TĂNG HUYẾT ÁP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×