Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
*Một số chỉ số khác:

*Một số chỉ số khác:

Tải bản đầy đủ - 0trang

xvii



Năm 2006, WHO khuyến cáo NPDNGĐU vẫn được duy trì làm test chẩn

đốn vì ba lý do sau [108]:

- Nếu chỉ dùng một mình đường huyết đói sẽ bỏ sót khoảng 30% bệnh

nhân ĐTĐ khơng được chẩn đốn.

- NPDNGĐU là phương pháp duy nhất để chẩn đoán RLDNG.

- NPDNGĐU thường được dùng để xác định hoặc loại trừ trường hợp bất

thường dung nạp glucose ở người khơng có triệu chứng.

*Chỉ định của NPDNGĐU [97],[108]:

- Chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ (trong khoảng tuần thứ 24 đến tuần thứ 28 của

thai kỳ).

- Chẩn đoán RLDNG.

- Trên một số đối tượng nguy cơ cao như: THA, dùng corticoid kéo dài,

nữ sanh con trên 4 kg, RLĐHĐ.

- Nghiên cứu trong dân số để có các số liệu dịch tễ.

*Quy trình [95]

- Trong 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp bệnh nhân phải ăn một khẩu

phần giàu carbonhydrat (ít nhất 150 – 200g mỗi ngày). Sau đó nhịn đói

từ 12 giờ đêm cho đến sáng trước khi làm test. Với lượng đường này thì

chỉ cần chế độ ăn uống bình thường hàng ngày là đủ, trừ khi ta ước

đốn bệnh nhân dùng ít hơn 150g đường mỗi ngày. Lý do là vì lượng

đường nhập mỗi ngày thấp trước khi làm test sẽ làm lu mờ đáp ứng

insulin sớm để kiểm soát glucose, điều quan trọng nhất trong xác định

dung nạp glucose bình thường.

- Bệnh nhân dừng tất cả các loại thuốc có ảnh hưởng nhiều đến chuyển

hoá glucose (glucocorticoid, thiazid, ức chế beta, phenytoin, thuốc ngừa

thai có estrogen, acid nicotinic…).

- Khơng vận động q sức trước khi làm nghiệm pháp.

- Nhịn đói qua đêm ít nhất 12 giờ (ví dụ: từ 20 giờ hơm trước khơng ăn

gì để làm nghiệm pháp vào 8 giờ sáng hơm sau).

- Xét nghiệm glucose máu lúc đói trước khi làm nghiệm pháp.

- Cho bệnh nhân uống 75g glucose khan pha trong 250ml nước để nguội,

uống trong vòng 5 phút.



xviii



- Sau 2 giờ làm lại xét nghiệm glucose máu.



1.2.5 Điều trị tình trạng rối loạn dung nạp glucose, phòng ngừa tiến

triển thành đái tháo đường thực sự

Trong trường hợp tiền ĐTĐ không được phát hiện và can thiệp, bệnh thường

diễn biến đến ĐTĐ thật sự. Tình trạng bắt đầu tăng glucose huyết ở tiền ĐTĐ sẽ

diễn biến đồng thời thương tổn chức năng tế bào bêta và tăng đề kháng insulin ở

ngoại biên sẽ gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch. Thương tổn tim mạch có thể

xảy ra nhiều năm trước khi biểu hiện lâm sàng của ĐTĐ xuất hiện rõ. Khi glucose

huyết được kiểm soát sớm, chức năng tế bào bêta sẽ được bảo vệ và góp phần giảm

biến chứng tim mạch.

Tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose tiến triển thành đái tháo đường týp 2 là 30 40% và những người rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ tiến triển thành đái tháo

đường týp 2 cao gấp 6,3 lần so với người có dung nạp glucose bình thường [3].

Devegt và Dekker theo dõi 1342 đối tượng bình thường trong vòng 6 năm nhận thấy

tỉ lệ bệnh nhân bị đái tháo đường ở nhóm có rối loạn dung nạp glucose và rối loạn

đường máu lúc đói là 64,5% trong khi ở nhóm chỉ có rối loạn glucose máu lúc đói tỉ

lệ đó chỉ là 4,5%.

Tuy nhiên diễn biến đến ĐTĐ khơng phải là khơng phòng tránh được, đã có

nhiều nghiên cứu cho thấy nếu thay đổi lối sống thích hợp, kết hợp dùng thuốc có

thể làm chậm, thậm chí ngăn ngừa sự xuất hiện ĐTĐ týp 2 thật sự.

Bảng 1.5: Tóm tắt các nghiên cứu can thiệp lối sống giảm nguy cơ tiến triển ĐTĐ

týp 2

Nghiên cứu



Can thiệp



Cỡ



Theo dõi



RRR



mẫu



(năm)



(%)



(n)



xix



Da- Quing [80]



Dinh dưỡng chặt chẽ



577



6



Tập luyện thể lực



46



Dinh dưỡng+ Tập luyện

Diabetes



Dinh dưỡng + Tập luyện



31



42

523



3,2



58



Prevention Study

[82]

US Diabetes

Prevention



Dinh dưỡng + Tập luyện



3234



2,8



Metformin



58

31



Program [77]

Indian Diabetes

Prevention

Program [66]



Zensharenb



Thay đổi lối sống



395



2,5



29



Metformin



26



Lối sống + metformin



28



Dinh dưỡng + Tập luyện



330



3



44



Study [66]

Nghiên cứu Da Qing [80] trên 577 người bị RLDNG được phân thành 3

nhóm: 1 nhóm áp dụng ăn kiêng đơn thuần, 1 nhóm áp dụng thể dục đơn thuần, 1

nhóm kết hợp vừa ăn kiêng vừa thể dục, theo dõi sau 6 năm, kết quả cho thấy kết

quả tỉ lệ tích lũy ĐTĐ ở nhóm chứng là 67,7%, ở nhóm ăn kiêng đơn thuần là

43,8%, ở nhóm thể dục đơn thuần là 41,1%, ở nhóm kết hợp là 46% (P<0,05). Tỉ lệ

giảm nguy cơ phát triển thành ĐTĐ lần lượt là 31% (P<0,03), 46% (P<0,001), và

42% (P<0,005). Điểm lý thú là tập thể dục đơn thuần có tác dụng giảm nguy cơ

ĐTĐ cao nhất.



xx



Nghiên cứu Phòng ngừa ĐTĐ ở Phần Lan (The Finnish Diabetes Prevention

Study) [82] trên 523 người trung niên thừa cân có RLDNG, mục tiêu của nhóm can

thiệp là làm giảm cân, giảm chế độ ăn nhiều mỡ, tăng vận động thể lực và ăn nhiều

chất xơ. Kết quả cho thấy việc giảm trọng lượng cơ thể bằng chế độ ăn kiêng chặt

chẽ và luyện tập thể dục tích cực làm giảm 58% nguy cơ phát triển ĐTĐ týp 2 (P <

0,001). Nghiên cứu cũng cho thấy những thay đổi tích cực của mức đường huyết

đói và đường huyết 2 giờ sau uống glucose.

Các kết quả trên đã được củng cố qua chương trình phòng ngừa ĐTĐ ở Mỹ

(Diabetes Prevention Program =DPP) [77] thực hiện trên 3234 người thừa cân kèm

IGT theo dõi sau 2,8 năm. Tỷ lệ mới mắc ĐTĐ ở nhóm IGT giảm 58% ở nhóm thay

đổi lối sống triệt để so với nhóm thay đổi lối sống theo chuẩn kèm giả dược

(P<0,001), và giảm 31% sở nhóm dùng metformin 850mg 2 lần/ngày. Yêu cầu của

thay đổi lối sống triệt để là đạt được và duy trì sự giảm ≥7% thể trọng bằng tiết thực

giảm calori hợp lý, giảm mỡ (<25% tổng calori) và tập thể dục cường độ vừa, ít

nhất 150 phút/tuần. Đặc biệt, kết quả của sự thay đổi lối sống này được duy trì thì tỉ

lệ giảm ĐTĐ cũng được duy trì, ngay cả theo dõi sau 7 năm dù đã ngưng can thiệp.

Phân tích kết quả nghiên cứu DPP cho thấy sự giảm cân giúp ngăn ngừa

ĐTĐ mạnh mẽ nhất. Giảm 1kg cân nặng giúp giảm 16% nguy cơ phát triển ĐTĐ.

Riêng hoạt động thể lực có thể có lợi ích độc lập so với giảm cân, tập luyện làm

tăng hấp thu glucose ở cơ và giảm tân tạo glucose từ gan. Như thế, hoạt động thể

lực giúp cải thiện trực tiếp sự kháng insulin và giảm glucose huyết tương.

Đối với những bệnh nhân mà khi thay đổi lối sống từ 3-6 tháng vẫn không

cải thiện thì có thể kết hợp thêm thuốc trong liệu trình can thiệp [68]. Tuy nhiên,

việc sử dụng thuốc tùy vào từng cá nhân dựa trên lợi ích và nguy cơ của họ [64].

Khuyến cáo sử dụng thuốc trên những bệnh nhân có nguy cơ cao như kết hợp của

RLĐHĐ, RLDNG và/ hoặc có hội chứng chuyển hóa, cân nhắc trong trường hợp

diễn tiến đường huyết xấu đi, sự hiện diện của bệnh tim mạch, ĐTĐ thai kỳ hoặc có

hội chứng buồng trứng đa nang [64].



xxi



Metformin, Acarbose và Rosiglitazone được chứng minh là có hiệu quả trong

việc giảm tiến triển từ giai đoạn tiền ĐTĐ sang ĐTĐ thực sự. Metformin đã được

chứng minh hiệu quả trong việc phòng ngừa sự tiến triển từ giai đoạn tiền ĐTĐ

sang ĐTĐ thực sự bằng tác dụng giảm tình trạng đề kháng insulin [66],[77].

Metformin cũng đã được chính thức đưa vào khuyến cáo của ADA trong điều trị

tiền ĐTĐ [40].

Nghiên cứu STOP-NIDDM [50] là một nghiên cứu mù đơi, có nhóm chứng

giả dược, ngẫu nhiên trên 1.429 người RLDNG. Acarbose một chất ức chế thụ thể

α- glucosidase được dùng để xác định khả năng phòng ngừa ĐTĐ. Nguy cơ tiến

triển ĐTĐ sau 3,3 năm giảm 25% ở nhóm dùng acarbose. Hơn nữa, acarbose còn

làm tăng khả năng thoái triển từ RLDNG thành dung nạp đường bình thường sau

thời gian điều trị.

Thử nghiệm lâm sàng DREAM (the Diabetes REduction Assessment with

ramipril and rosiglitazone Medication) [99] đánh giá khả năng làm giảm tỉ suất mắc

bệnh ĐTĐ của Ramipril và Rosiglitazone ở bệnh nhân RLDNG, rối loạn đường

huyết đói hoặc cả hai. Kết cuộc chính là phát triển ĐTĐ hay tử vong. Sau thời gian

theo dõi trung bình 3 năm, Rosiglitazone giảm kết cuộc rõ ràng (n=306; 11,6%) so

với giả dược (n=686, 26% HR 0,4; 0,32 - 0,46; P < 0,001). Như vậy, Rosiglitazone

làm giảm phát triển ĐTĐ týp 2 ở bệnh nhân bị RLDNG do khả năng hạ đường

huyết. Hiệp hội Tim Châu Âu (ESC) và Hội nghiên cứu về ĐTĐ Châu Âu (EASD)

cũng khuyến cáo ở bệnh nhân rối loạn dung nạp glucose, có thể làm chậm xuất hiện

ĐTĐ bằng các thuốc chắc chắn như metformin và rosiglitazone (mức 1, bằng chứng

A) [95].



Khuyến cáo của ADA về điều trị giai đoạn tiền ĐTĐ [40]:

-Tầm soát và điều trị các yếu tố nguy cơ tim mạch khác.

-Giảm 7% trọng lượng cơ thể và tăng hoạt động thể lực ít nhất là 150 phút/

tuần với các hoạt động trung bình như đi bộ.



xxii



-Chế độ ăn tăng lượng chất xơ và giảm lượng đường.

-Xem xét sử dụng metformin cho những đối tượng có nguy cơ rất cao phát

triển thành ĐTĐ: RLĐHĐ, RLDNG hoặc HbA1C từ 5,7-6,4%, đặc biệt cho những

người có BMI >35 kg/m2, tuồi < 60 và phụ nữ có tiền căn ĐTĐ thai kỳ.

-Kiểm tra ĐTĐ thường xuyên mỗi năm.



1.3 MỐI LIÊN QUAN GIỮA RỐI LOẠN DUNG NẠP

GLUCOSE, ĐỀ KHÁNG INSULIN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và tăng huyết áp

Rối loạn dung nạp glucose, tăng huyết áp, béo phì thường phối hợp với nhau

và được cho rằng có chung cơ chế bệnh sinh, đó là tăng insulin máu và kháng

insulin ở mô ngoại vi. Nhiều tác giả nhận thấy có sự gần gũi giữa rối loạn dung nạp

glucose với tăng huyết áp. Các đối tượng rối loạn dung nạp glucose có tỉ lệ tăng

huyết áp (cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương) cao hơn so với nhóm có dung

nạp glucose bình thường là 1,48 lần.

Theo Reavan (1992), bệnh nhân THA, điều trị hay không, là một tình trạng

đề kháng insulin với tăng đường huyết và tăng insulin máu, sự bất thường này có

thể kéo dài và tồn tại mặc dù tăng huyết áp đã được khống chế bằng các thuốc hạ

áp.

Nghiên cứu của Kaplan N. M. (1994) nhận thấy kháng insulin và sau đó là

tăng insulin máu gặp ở trên 50% bệnh nhân tăng huyết áp không béo và hầu như ở

tất cả bệnh nhân có béo phì và đái tháo đường týp 2.

De Fronzo (1996) cho rằng kiểu kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp rất

giống với kiểu kháng insulin quan sát thấy ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có béo

phì.

Tăng insulin máu gây THA do [13]:

 Kích thích sự hấp thu natri ở thận. Với nồng độ sinh lý insulin đã có tác

dụng lên sự tái hấp thu natri ở ống thận qua các thụ thể đặc hiệu. Tăng

insulin máu làm tăng hấp thu insulin, tăng thể tích ngoại bào và gây



xxiii



THA.

 Kích thích hệ giao cảm làm tăng kháng lực ngoại vi.

 Insulin làm tăng sinh tế bào cơ trơn mạch máu.

 Thay đổi vận chuyển ion qua màng tế bào, tăng nồng độ canxi trong tế

bào nhạy cảm insulin ở mạch máu và thận.

 Giảm sự phóng thích NO từ tế bào nội mạc.

Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và bệnh tim mạch

Về mặt lâm sàng, câu hỏi đường huyết đói hoặc đường huyết 2 giờ sau ăn

liên quan thế nào đến tử vong và nguy cơ bệnh tim mạch là rất quan trọng. Ba

nghiên cứu đoàn hệ: Nghiên cứu Whitehall, nghiên cứu Paris Prospective, nghiên

cứu Helsinki Policemen đã đánh giá mối liên quan giữa đường huyết sau uống

glucose và nguy cơ bệnh động mạch vành ở nam giới Châu Âu. Bệnh nhân đã biết

ĐTĐ bị loại trừ, những người có đường huyết 2 giờ sau uống glucoz cao có nguy cơ

tử vong do bệnh tim mạch cao gấp đơi những người có mức đường huyết bình

thường. Trong nghiên cứu Funagata Diabetes ở Nhật Bản, phân tích sống còn kết

luận RLDNG, chứ khơng phải rối loại đường huyết đói là một yếu tố nguy cơ của

bệnh tim mạch. Nghiên cứu Finnish gần đây cho thấy RLDNG ban đầu là một yếu

tố nguy cơ độc lập tiên đoán các tần suất mới mắc bệnh tim mạch, tử vong do tim

mạch và tử vong sớm do tất cả nguyên nhân. Điều này không bị ảnh hưởng bởi sự

mới xuất hiện ĐTĐ được chẩn đốn trong q trình theo dõi [95].

Tăng glucose máu sau ăn thực sự khởi động cho các biến chứng ở mạch máu

nhỏ và lớn. Nhiều nghiên cứu lớn cho thấy sự phát triển tổn thương mạch máu nhỏ

thường đi trước chẩn đoán đái tháo đường và đã chứng minh vai trò độc lập của

tăng glucose máu sau ăn làm tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch. Có thể do

những thay đổi glucose máu sau ăn thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch trước khi

glucose máu lúc đói bị ảnh hưởng [76].

Chương trình Tim Honolulu (The Honolulu Heart Programme) [95] theo dõi

23 năm cho thấy sự liên quan giữa mức đường huyết một giờ sau uống 50g glucose



xxiv



và tử vong do bệnh tim mạch. RLDNG làm tăng nguy cơ tử vong chung, tần suất

mắc bệnh và tử vong do bệnh tim mạch. Sự kết hợp này vẫn có ý nghĩa khi đưa vào

phân tích đa biến với các yếu tố như tuổi, hút thuốc lá, uống rượu, THA,

cholesterol, triglyceride, chỉ số khối cơ thể và chỉ số ăn kiêng của Nhật Bản.

Nghiên cứu DECODE [70] đã cung cấp bằng chứng thuyết phục nhất cho

mối liên quan giữa bất thường dung nạp glucose và tăng nguy cơ bệnh tim mạch từ

phân tích tổng hợp dữ liệu 13 nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu thực hiện trên 18.048

nam và 7.316 nữ ở châu Âu. Tỉ suất tử vong từ tất cả các nguyên nhân, bệnh mạch

vành, bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ được chẩn đoán bằng đường huyết 2 giờ

sau uống 75g glucose cao hơn bệnh nhân không đạt tiêu chuẩn này. Ở bệnh nhân bị

RLDNG, tỷ suất tử vong cũng tăng có ý nghĩa. Những người ở mức trên của

RLDNG (10,01-11,09 mmol/l) có nguy cơ tử vong tương đương với người bị ĐTĐ

(chẩn đốn bằng đường huyết đói ≥ 7 mmol/l). Một số lớn tử vong do bệnh tim

mạch được quan sát ở bệnh nhân RLDNG, đặc biệt ở cả những người có đường

huyết đói bình thường. Nghiên cứu cũng cho thấy RLDNG có nguy cơ tử vong lớn

hơn rối loạn đường huyết đói. Khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tim mạch quan

trọng khác, phân tích đa biến cho thấy mức đường huyết 2 giờ sau uống 75g glucose

cao tiên đoán tử vong do tất cả nguyên nhân, bệnh mạch vành và bệnh tim mạch,

nhưng đường huyết đói cao một mình thì khơng có ý nghĩa. Mức đường huyết 2 giờ

sau uống 75g glucose cao là yếu tố tiên đoán cho tử vong, độc lập với mức đường

huyết đói, trong khi tăng tử vong ở bệnh nhân rối loạn đường huyết đói phần lớn

liên quan chủ yếu với tăng đồng thời đường huyết 2 giờ sau uống 75g glucose.



Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và béo phì.

Béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ của rối loạn dung nạp glucose và

đái tháo đường týp 2. Theo nghiên cứu NHANES tại Mỹ, tỉ lệ rối loạn dung nạp

glucose tăng tỷ lệ thuận với cân nặng, ở nhóm người có cân nặng tăng trên 50% so

với cân nặng lý tưởng thì tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose là 23%, nhóm có cân nặng



xxv



tăng dưới 5% so với cân nặng lý tưởng thì tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose là 6%

[109].

Một nghiên cứu ở Trung Quốc qua kiểm tra sức khỏe của 1369 đối tượng

thấy tỉ lệ THA là 17,2%, ĐTĐ là 4,6%, RLDNG là 5,9% và rối loạn lipid máu là

27,4%. Tỉ lệ THA, đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose gia tăng theo tuổi,

BMI càng lớn thì tỉ lệ THA, đái tháo đường và rối loạn lipid máu càng cao. Tuổi và

dư cân là những yếu tố nguy cơ quan trọng đối với THA, đái tháo đường và rối loạn

lipid máu.

Béo phì, đặc biệt là béo bụng có nguy cơ rối loạn dung nạp glucose và kháng

insulin rất cao. Ở những người này có hiện tượng tăng ly giải của mô mỡ nội tạng

(đặc biệt là mỡ tập trung ở mạc treo ruột) làm tăng giải phóng acid béo tự do, các

acid béo này theo tĩnh mạch cửa tới gan, ức chế chuyển hóa glucose thành glycogen

ở gan, làm tăng nồng độ glucose và insulin máu, Mặc dù nồng độ insulin máu tăng

nhưng nồng độ glucose máu khơng giảm do có hiện tượng kháng insulin ở mô mỡ,

cơ xương và gan [61],[72].

Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và rối loạn lipid máu

Rối loạn dung nạp glucose thường hay kết hợp với các rối loạn chuyển hóa

khác, đặc biệt là rối loạn lipid máu. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy các đối tượng có

rối loạn dung nạp glucose thường có tăng triglycerid và giảm HDL-C so với người

dung nạp glucose bình thường [29],[32],[51].

Rối loạn lipid máu đặc trưng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 là:

- Tăng triglycerid.

- Giảm HDL-C.

- Cholesterol toàn phần và LDL-C bình thường hoặc chỉ tăng vừa phải.

Cơ chế của rối loạn này được giả thiết như sau: mức insulin trong huyết

tương hình như có vai trò quan trọng có mối tương quan thuận nghịch giữa tăng

insulin nội sinh với HDL-C huyết tương, Nồng độ insulin huyết tương khi đói càng

cao, thối biến apo- Al càng mạnh và HDL-C càng thấp. Ở bệnh nhân đái tháo

đường týp 2, hoạt động của enzym hepatic triglycerid lipase tăng làm giảm HDL, sự

gia tăng hoạt động của enzym hepatic triglycerid lipase này sẽ trở lại bình thường



xxvi



khi glucose máu được kiểm sốt tốt. Tình trạng kháng insulin và/hoặc giảm insulin

huyết tương cũng làm giảm hoạt động của enzym liporotein lipase, kết quả là thanh

thải VLDL giảm, kéo theo giảm HDL - C vì giảm chuyển hóa VLDL thành HLD.

Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và acid uric máu

Tăng glucose máu và glucose niệu ở bệnh nhân đái tháo đường làm gia tăng

bài tiết acid uric của thận, tuy nhiên tỉ lệ tăng acid uric máu ở bệnh nhân đái tháo

đường cao hơn có ý nghĩa trong cộng đồng (22,5 ± 3,0% đối với đái tháo đường týp

1 và 29,9 ± 2,5% đối với đái tháo đường týp 2). Nguồn gốc tăng acid uric máu ở

bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có liên quan chặt chẽ với các tổn thương thận và

các yếu tố chuyển hóa như: hoạt tính cao của xanthin oxidase, sự ơxy hóa lipid và

béo phì.

Tăng acid uric huyết thanh thường có liên quan với béo phì, THA, rối loạn

lipid máu và qua đó trở thành yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch cũng giống như

hội chứng kháng insulin [69]. Năm 1996 Wasada T (Nhật) và cộng sự nghiên cứu

trên 160 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bằng phương pháp kẹp insulin đã tìm thấy

mối liên quan có ý nghĩa giữa nồng độ acid uric huyết thanh với mức độ kháng

insulin và kết luận nồng độ acid uric huyết thanh cao là đặc trưng của hội chứng

kháng insulin.

Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và tuổi

Hầu hết tất cả các nghiên cứu gần đây đều cho thấy tỷ lệ đái tháo đường và

rối loạn dung nạp glucose đặc biệt xuất hiện ở nhóm người cao tuổi. Đây được xem

là nguyên nhân hàng đầu gây gia tăng tỷ lệ đái tháo đường tại Hoa Kỳ và Canada.

Hiện nay, 40% dân số Hoa Kỳ trên 60 tuổi bị rối loạn glucose máu. Không chỉ ở các

nước phương Tây, ở châu Á và Việt Nam cũng vậy, tỉ lệ đái tháo đường bao giờ

cũng cao ở nhóm bệnh nhân cao tuổi. Sự phát triển của y học, khoa học kỹ thuật

làm tăng tuổi thọ của người dân đồng thời kéo theo sự gia tăng của các bệnh mạn

tính. Chức năng tế bào tụy giảm theo thời gian,trung bình 0,7% một năm, trong khi

cơ chế đề kháng insulin không thay đổi so với tuổi trẻ [101],[107].



xxvii



Rối loạn dung nạp glucose, đề kháng insulin và dinh dưỡng, lối sống

Tại các nước phương Tây, thói quen sử dụng thức ăn nhanh, nhiều năng

lượng đã thúc đẩy sự gia tăng tỉ lệ béo phì cũng như đái tháo đường trong cộng

đồng. Tại Châu Á, trong đó có Việt Nam, thức ăn truyền thống là gạo được nghiền

kỹ hoặc lúa mì đã tinh chế. Đây là loại thức ăn ít chất xơ có chỉ số glucose máu cao

và cùng với thói quen ăn mỡ động vật hoặc các loại bơ chứa nhiều axit béo dạng

trans là những yếu tố nguy cơ tăng cân, đề kháng insulin và đái tháo đường týp 2.

Các nghiên cứu tại Nhật và Trung Quốc cho thấy thức ăn với chỉ số glucose máu

cao (đặc biệt là gạo) làm tăng nguy cơ đái tháo đường gấp 2 lần, đặc biệt trên những

người dư cân, béo phì.

Vấn đề luyện tập thể lực trong vài thập kỷ gần đây có khuynh hướng giảm

trên nhiều quốc gia. Đây có thể là một yếu tố quan trọng góp phần vào gánh nặng

béo phì và đái tháo đường tồn cầu. Những nghiên cứu cắt ngang và những nghiên

cứu theo dõi đều cho thấy lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực là một yếu tố nguy

cơ độc lập của đái tháo đường týp 2. Mức độ hoạt động thể lực có tương quan

nghịch với đái tháo đường týp 2 trong khi thời gian ngồi xem truyền hình có mối

tương quan thuận với đái tháo đường týp 2. Thời gian xem truyền hình hơn 4 giờ

một ngày sẽ làm gia tăng nguy cơ dư cân, béo phì, tăng huyết áp và các rối loạn

chuyển hóa [71],[90].



1.4 CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM VỀ

SỰ RỐI LOẠN DUNG NẠP GLUCOSE VÀ ĐỀ KHÁNG

INSULIN Ở NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP

*Thế giới

Vaccaro, O (1996) [104] đặt câu hỏi tăng huyết áp và RLDNG có phải là yếu

tố nguy cơ của nhau hay khơng?. Ơng tiến hành nghiên cứu đánh giá mối liên quan



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

*Một số chỉ số khác:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×