Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

v



khám lọc lâm sàng ít nhất 2-3 lần khác nhau. Mỗi lần khám huyết áp

được đo ít nhất 2 lần.

 Tại nhà: khi đo nhiều lần đúng phương pháp, được coi là tăng huyết áp

khi trị số huyết áp lớn hơn 135/85 mmHg.

 Đo huyết áp bằng máy đo Holter 24 giờ: huyết áp lớn hơn 125/80 mmHg.



1.1.3 Phân loại tăng huyết áp[29]

Có nhiều cách phân loại THA. Trên thực tế lâm sàng, người ta sử dụng cách

phân loại đơn giản, chia THA ra làm hai loại chính:

 THA nguyên phát (chưa rõ nguyên nhân) hay còn gọi là bệnh THA,

chiếm khoảng 90 - 95% các trường hợp THA.

 THA thứ phát là THA xác định được nguyên nhân gây ra như: do các

bệnh lý của thận, hẹp eo động mạch chủ, u tuỷ thượng thận, do thuốc ...

chiếm từ 5 - 10% các trường hợp THA.



1.1.4 Phân độ tăng huyết áp [29],[51]

Mục tiêu của việc xác định và điều trị THA là giảm nguy cơ bệnh tim mạch,

giảm tỉ lệ xuất hiện bệnh và tần suất tử vong. Những tiêu chuẩn này dùng cho người

THA không dùng thuốc chống THA và khơng có bệnh cấp tính. Trước đây có một

số tiêu chuẩn về chẩn đoán và phân độ THA khác nhau. Hiện nay, phần lớn các tác

giả thống nhất chọn tiêu chuẩn về chẩn đoán và phân độ theo WHO/ISH 1999 .

Bảng 1.2: Phân độ THA theo WHO/ISH -1999 ( tuổi > 18)

Độ THA

Tối ưu

Bình thường

Bình thường cao

THA độ 1

THA độ 2



HA tâm thu (mmHg)

HAtâm trương (mmHg)

< 120

< 80

120 - 129

80 – 84

130 – 139

85 – 89

140 – 159

và hoặc

90 – 99



160 – 179

và hoặc

100 – 109

THA độ 3

≥ 180

≥110

THA đơn độc tâm thu

≥ 140



< 90

 Khi HATT và HATTr nằm ở hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn



vi



đã phân loại.

 Các khái niệm nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao để chỉ nguy cơ bị

các bệnh lý tim mạch trong vòng 10 năm lần luợt tương ứng là < 15%,

15-20%, 20-30% và > 30% theo Framingham.

Phân loại THA của JNC VII (2003) đã đưa ra tiêu chuẩn phân độ mới đối với

người > 18 tuổi.

Bảng 1.3: Phân độ THA theo JNC VII (2003)

Loại

Bình thường

Tiền THA

THA



Huyết áp tâm thu(mmHg)

Huyết áp tâm trương(mmHg)

< 120

và/hoặc

< 80



Độ 1

Độ 2



120 - 139



và/hoặc



80 - 89



140 - 159



và/hoặc



90 - 99



≥ 160

và/hoặc

≥ 100

Theo phân loại của JNC VII thì THA chỉ chia làm 2 giai đoạn, tiền THA có



nguy cơ tiến triển thành THA thực sự. Trong bảng này khơng có HA tối ưu, nhóm

bình thường và bình thường cao được gộp lại thành một nhóm, THA giai đoạn 2 và

3 được gộp lại thành một.



1.1.5 Phân chia giai đoạn bệnh THA (WHO, 1993) [14]

 Giai đoạn 1: THA mà chưa gây tổn thương các cơ quan đích.

 Giai đoạn 2: Có ít nhất một trong những dấu hiệu tổn thương đến cơ quan

đích như:

- Dày thất trái (lâm sàng, Xquang; điện tim; siêu âm).

- Hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc (Salus- Gunn).

- Rối loạn nhẹ chức năng thận (tăng nhẹ creatinin máu).

- Siêu âm hoặc Xquang thấy mảng vữa xơ (động mạch cảnh. chậu, đùi,

bụng...).

 Giai đoạn 3: Có một hoặc nhiều tổn thương đến cơ quan đích bao gồm:

-



Tim: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim.

Đột quị, thiếu máu não tạm thời, bệnh não do THA, tai biến mạch máu



vii



-



não.

Đáy mắt: chảy máu hoặc xuất huyết võng mạc, có thể có phù gai thị.

Thận: creatinin > 2mg/dl; suy thận.

Mạch: phình bóc tách động mạch, tắc động mạch...



1.2 TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ TÌNH TRẠNG ĐỀ KHÁNG

INSULIN

1.2.1 Tiền đái tháo đường [7],[21],[38],[54],[84],[91],[108]

Năm 1979, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu khái niệm giảm dung nạp

glucose (DNG) thay cho thuật ngữ “đái tháo đường giới hạn”. Giảm dung nạp

glucose được WHO và Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) xem là giai đoạn tự nhiên

của rối loạn chuyển hóa carbohydrate. Năm 1997, ADA đưa ra khái niệm rối loạn

đường huyết đói (RLĐHĐ) để so sánh với nhóm có rối loạn dung nạp glucose

(RLDNG) và dự báo nguy cơ ĐTĐ. Sau đó, ADA đề nghị bỏ nghiệm pháp dung nạp

glucose vì cho rằng nghiệm pháp này phức tạp, tốn kém, chủ yếu dùng để nghiên

cứu, khó áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Nhưng nhiều cơng trình nghiên

cứu khơng nhất trí sự thống nhất hai khái niệm rối loạn dung nạp glucose và rối

loạn đường máu đói vì các biến cố tim mạch và tử vong ở nhóm RLDNG cao hơn

nhóm RLĐHĐ và là yếu tố nguy cơ mạnh trong việc dự báo đái tháo đường (ĐTĐ)

[57]. Hơn nữa khi ADA khuyến cáo sử dụng đường máu lúc đói để thay cho glucose

2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp thì rất nhiều đối tượng bị RLDNG có nguy cơ tim

mạch bị bỏ qua. Năm 2008, cả hai tình trạng trên được ADA có sự đồng thuận của

WHO đặt tên chính thức là tiền đái tháo đường (Pre-diabetes).

Tiền ĐTĐ là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose, bao gồm 2 tình huống:

rối loạn đường máu đói (impaired fasting glucose =IFG) và rối loạn dung nạp

glucose (impaired glucose tolerance = IGT). Cả 2 tình huống này đều tăng glucose

máu nhưng chưa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ thật sự. Tuy nhiên ở giai đoạn tiền ĐTĐ

đã xuất hiện tình trạng kháng insulin, là bước khởi đầu trong tiến trình xuất hiện

ĐTĐ týp 2.

Theo số liệu điều tra cơ bản trên toàn quốc về dinh dưỡng và sức khỏe

NHANES (National Health And Nutrition Examination Survey) của Mỹ, trong năm



viii



2005-2006, 34,6% người dân Mỹ đã bị tiền ĐTĐ [55]. Đến năm 2010, khoảng một

phần ba số người Mỹ ≥ 20 tuổi (ước tính khoảng 79 triệu người) đã có tiền đái tháo

đường, một tình trạng mà lượng đường trong máu hoặc HbA1C cao hơn bình

thường nhưng khơng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [48].

Theo khuyến cáo mới của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ 2010, chẩn đốn tiền

ĐTĐ gồm các tình huống sau:

 Rối loạn đường máu đói (IFG) là glucose máu từ 100 mg/dL (5,6

mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L) (5,6 ≤ Go ≤ 6,9 mmol/L)

 Rối loạn dung nạp glucose là ngưỡng glucose máu 2 giờ sau làm nghiệm

pháp dung nạp glucose bằng đường uống (OGTT) từ 140 mg/dL (7,8

mmol/L) đến 200 mg/dL (11,1 mmol/L) (7,8 ≤ G2 < 11,1 mmol/L)

 Nồng độ HbA1C: Từ 5,7 đến 6,4%

Năm 2009, cùng với việc khuyến cáo đưa HbA1C vào tiêu chí chẩn đốn

ĐTĐ, các chuyên gia cũng chú trọng đến nhóm đối tượng có HbA1C trong khoảng

từ 5,7% đến 6,4% và xếp chung nhóm đổi tượng này với nhóm RLĐHĐ và RLDNG

thành “phân loại nguy cơ cao đái tháo đường”. So với đường máu đói, HbA1C với

ngưỡng 5,7% có độ nhạy thấp hơn nhưng có độ đặc hiệu và giá trị tiên đốn dương

cao hơn trong việc dự đoán đái tháo đường xuất hiện trong tương lai. Do đó chúng

ta cần giải thích rõ các nguy cơ, cũng như có những chiến lược phòng ngừa thích

hợp cho tất cả những bệnh nhân có HbA1C trong khoảng từ 5,7% đến 6,4%.

Mặc dù cả hai tình trạng RLĐHĐ hay RLDNG là do tình trạng đề kháng

insulin, nhưng khác nhau ở vị trí đề kháng. RLĐHĐ chủ yếu do tình trạng đề kháng

insulin ở gan và độ nhạy insulin ở cơ bình thường, trong khi RLDNG do tình trạng

đề kháng insulin trung bình đến nặng ở cơ, và độ nhạy insulin bình thường hoặc

giảm nhẹ ở gan. Nếu kết hợp cả RLĐHĐ và RLDNG thì có cả tình trạng đề kháng

insulin ở gan và cơ.

Người có tình trạng tiền ĐTĐ có nguy cơ cao phát triển thành bệnh ĐTĐ týp

2. Mỗi năm, khoảng 11% người có tiền ĐTĐ không giảm cân và không tham gia



ix



vào hoạt động thể chất vừa phải sẽ tiến triển thành bệnh ĐTĐ týp 2 trong 3 năm

theo dõi [68]. Tuy nhiên, sự nhận thức về tình trạng tiền ĐTĐ chưa cao. Ở Mỹ,

trong thời gian 2005-2006, chỉ có khoảng 7% người có tiền ĐTĐ đã nhận thức được

tình trạng nguy cơ của họ, tỉ lệ này có tăng lên ở giai đoạn 2009-2010 là 11,1%,

nhưng nhìn chung tỉ lệ nhận thức vẫn còn thấp [109]. Ở Việt Nam chưa có cuộc

điều tra nào về nhận thức của bệnh nhân về tình trạng tiền ĐTĐ, tuy nhiên dự đoán

tỉ lệ này sẽ thấp hơn nhiều so với tỉ lệ ở Mỹ.



1.2.2 Rối loạn dung nạp glucose

Trên toàn thế giới, số lượng người RLDNG được ước tính khoảng 280 triệu

người và con số này sẽ là 398 triệu người vào năm 2030 [34]. Tỉ lệ rối loạn dung

nạp glucose trong cộng đồng khác nhau tùy theo vị trí địa lý, chủng tộc, lứa tuổi, lối

sống và điều kiện kinh tế xã hội.

Các tác giả nhận thấy rối loạn dung nạp glucose tăng tỷ lệ thuận với tuổi.

Theo số liệu điều tra cơ bản trên toàn quốc về dinh dưỡng và sức khỏe NHANES

(National Health And Nutrition Examination Survey) của Mỹ thì tỉ lệ rối loạn dung

nạp glucose tăng theo tuổi từ 8% ở nhóm tuổi 20 - 40 tăng lên 41% ở nhóm tuổi 6574.

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu dịch tễ ở một số thành phố lớn cho kết quả tỉ

lệ rối loạn dung nạp glucose ở Hà Nội là 1,6%, thành phố Hồ Chí Minh 0,96 ±

0,2%, Huế 1,45% ± 0,17% [7].

Tô Văn Hải (2000) điều tra dịch tễ tại 3 quận huyện Hà Nội thấy tỉ lệ rối loạn

dung nạp glucose nói chung là 3,57% [10].

Năm 2001, tác giả Tạ Văn Bình nghiên cứu trên 2394 đối tượng từ 30 đến 64

tuổi hiện đang sinh sống tại 4 thành phố lớn : Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP.

Hồ Chí Minh cho biết tỉ lệ RLDNG trong cộng đồng là 5,9% [2].

Rối loạn dung nạp glucose không phải là một bệnh mà được coi như trạng

thái sớm của bệnh đái tháo đường týp 2, giai đoạn trung gian của dung nạp glucose

bình thường và bệnh đái tháo đường týp 2 [21]. Đây là một khái niệm rất có ý nghĩa



x



trong lâm sàng, nó cho phép xác định sớm các đối tượng có nguy cơ cao trong

tương lai sẽ tiến triển thành bệnh đái tháo đường týp 2 thực thụ.

Bảng 1.4: Nguy cơ phát triển ĐTĐ ở nhóm rối loạn dung nạp glucose so với

nhóm khơng rối loạn dung nạp glucose (n lần).

Đối tượng nghiên

cứu



Nguy cơ phát



Nguy cơ hàng năm



Thời gian theo



triển ĐTĐ



(%/năm)



dõi (năm)



(n lần)

Người Iran [67]



7,1



3,2



6



NgườiAustralia [86]



17



3.5



5



Người Hà Lan [105]

Người Đan Mạch



8,3



5,3



6,4



12,7



3,8



5



[58]

Cơ chế bệnh sinh của rối loạn dung nạp glucose rất phức tạp, chịu tác động

của nhiều yếu tố tương tự như đái tháo đường týp 2, có liên quan chặt chẽ đến

những bất thường về sự tiết cũng như tác dụng của insulin. Nhưng dù cơ chế ban

đầu là gì cuối cùng đều dẫn đến giảm tiết insulin và đề kháng insulin. Hai cơ chế

này tương tác lẫn nhau trong quá trình phát triển của bệnh, trong đó quan trọng nhất

là kháng insulin.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh ở người rối loạn dung nạp glucose tình

trạng kháng insulin giữ vai trò quan trọng, phối hợp với rối loạn bài tiết insulin, đặc

trưng là giảm phóng thích insulin ở pha đầu kèm theo tiết insulin chậm và kéo dài.

Do kháng insulin ở mơ ngoại vi nên q trình dung nạp glucose máu sau ăn tăng,

đây là đặc trưng của rối loạn dung nạp glucose. Hiện tượng kháng insulin chủ yếu

xảy ra ở cơ và gan. Để bù trừ cho tình trạng kháng insulin, tế bào bêta của tụy đảo

Langerhán sẽ tăng tiết insulin dẫn tới hậu quả là tăng insulin máu. Tuy vậy, sau một

thời gian, khả năng tiết insulin của tế bào bêta giảm dần, khơng còn đủ khả năng

hoạt động bù trừ cho tình trạng kháng insulin, kết hợp với một số yếu tố thuận lợi

như lối sống ít hoạt động thể lực, béo phì, chế độ ăn nhiều carbohydrat…dẫn tới



xi



tăng cả glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose tiến triển thành đái tháo

đường týp 2 thực thụ [103].

Tỉ lệ tiến triển từ rối loạn dung nạp glucose thành đái tháo đường týp 2 thực

thụ khoảng 30-40% và những người rối loạn dung nạp glucose có nguy cơ tiến triển

thành đái tháo đường týp 2 cao gấp 6,3 lần so với người có dung nạp glucose bình

thường [3]. Như vậy nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 ở những đối tượng có rối

loạn glucose là rất cao. Nhiều cơng trình nghiên cứu đều cho rằng thời gian bắt đầu

khởi phát của bệnh ĐTĐ có trước khi bệnh nhân được chẩn đốn ĐTĐ có thể từ 5 –

10 năm, vì thế nhiều bệnh nhân khi lần đầu tiên được chẩn đoán ĐTĐ đã có nhiều

biến chứng ở các cơ quan như tim mạch, mắt, thận, thần kinh. Kết quả trên đây cho

thấy cần quan tâm và phát hiện sớm RLDNG, điều trị sớm và can thiệp vào yếu tố

nguy cơ có thể giảm được tỉ lệ phát triển thành bệnh ĐTĐ.

Một số yếu tố nguy cơ cao dễ có khả năng phát triển thành bệnh ĐTĐ týp 2

là [51] :

 Tuổi ≥ 45.

 Người có BMI ≥ 23, vòng eo ≥ 90 cm với nam và ≥ 80 cm với nữ.

 Có người thân thuộc thế hệ cận kề đã mắc bệnh ĐTĐ.

 Phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt: đái tháo đường thai kỳ, sinh con to

(lớn hơn 4000g).

 Tăng huyết áp vơ căn.

 Người có tiền sử RLDNG hoặc RLĐHĐ.

 Người có bệnh ĐMV hoặc đột quỵ.

AACE khuyến cáo nên xét nghiệm tầm soát ĐTĐ cho các trường hợp sau

[68]:

*Xét nghiệm nên được xem xét với tất cả những người ≥30 tuổi thừa cân

(BMI ≥25 kg/m2) và có ≥1 yếu tố nguy cơ bên dưới, lưu ý mức BMI có thể thấp hơn

ở những nhóm dân tộc khác, như dân số Châu Á:

- Ít hoạt động thể lực.



xii



-



Tiền căn gia đình có người trực hệ bệnh ĐTĐ.

Tăng huyết áp ( HA > 140/90 mmHg hoặc đang điều trị THA).

HDL – C < 0,9 mmol/l và/ hoặc LDL – C > 2,82 mmol/l.

Phụ nữ có tiền sử sinh con nặng trên 4000g hoặc được chẩn đoán đái



-



tháo đường thai kỳ.

Phụ nữ có hội chứng đa nang buồng trứng.

Có các tình trạng khác liên quan đến đề kháng insulin.

Có bệnh động mạch vành.

Có RLĐHĐ, RLDNG, HbA1C >5.5% hoặc có hội chứng chuyển hóa.



*Trong trường hợp khơng có các tiêu chuẩn trên thì xét nghiệm nên được bắt

đầu từ 45 tuổi. Nếu kết quả bình thường thì kiểm tra lại mỗi 3 năm.

*Nếu bệnh nhân có tình trạng tiền ĐTĐ thì nên được kiểm tra mỗi năm.



1.2.3 Đề kháng insulin

1.2.3.1 Khái niệm, định nghĩa kháng insulin

Kháng insulin là thuật ngữ đầu tiên dùng để chỉ những bệnh nhân ĐTĐ týp 1

khi điều trị phải dùng đến hay nhiều hơn 200 đơn vị insulin/ngày mới kiểm sốt

được glucose máu. Tình trạng này chủ yếu do sự xuất hiện các kháng thể kháng lại

insulin. Do vậy kháng insulin được định nghĩa là: “Đáp ứng sinh học dưới mức bình

thường đối với nồng độ insulin đã dùng điều trị”, hay nói cách khác, “Kháng insulin

là tình trạng gia tăng liều insulin thơng dụng nhằm duy trì sự đáp ứng thơng

thường” [42]. Ngày nay, thuật ngữ kháng insulin dùng để chỉ tình trạng kháng

insulin ở bệnh nhân ĐTĐ, THA, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid… và đặc biệt

hay được dùng trong hội chứng chuyển hóa [62].

Hiện nay, kháng insulin được ghi nhận cả những trường hợp bình thường

khơng dùng insulin nên định nghĩa kháng insulin đã được khái quát hơn: “Kháng

insulin là sự gia tăng nồng độ insulin trong khi đường máu bình thường hay gia

tăng”. Năm 1998, WHO đã đưa ra định nghĩa: “ Được xem là kháng insulin khi chỉ

số HOMA-IR lớn hơn tứ phân vị cao nhất trong nhóm chứng” [45].



1.2.3.2



Cơ chế bệnh sinh của kháng insulin [87],[98]



*Kháng insulin có thể do di truyền hoặc mắc phải



xiii



Kháng insulin có thể do di truyền được xác định từ những cặp sinh đôi cùng

trứng, cân nặng bình thường và ở những chủng tộc nhất định có tăng tỉ lệ ĐTĐ týp

2. Nhưng lý do kháng insulin trên cơ sở tế bào vẫn chưa được xác định rõ. Kháng

insulin là hậu quả của béo phì, thiếu luyện tập, tuổi tác, một số bệnh hoặc thuốc

kháng lại hoạt động của insulin. Ngồi ra còn gây kháng insulin thứ phát sau cường

giáp trạng, hội chứng cushing, hội chứng to đầu chi, chấn thương, bỏng.

* Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của insulin

Hoạt động của insulin phụ thuộc vào hàm lượng glucose máu, ái lực của thụ

thể đặc hiệu với insulin ở tế bào đích, hàm lượng insulin. Kháng insulin có thể do

bất thường tại các vị trí trước, sau và ngay tại thụ thể của insulin ở mơ đích. Giảm

hoạt động của enzym Tyrosinnase ở vùng sau thụ thể là cơ chế chính của bệnh nhân

ĐTĐ týp 2 làm cho insulin khi vào thụ thể khơng phát huy được tác dụng sinh học,

vì vậy khơng kích thích được sự vận chuyển glucose vào tế bào.

1.2.3.3 Các phương pháp xác định kháng insulin.

Vì khơng có một chất cụ thể nào hay một phương pháp nào đánh giá chính

xác tuyệt đối tình trạng kháng insulin, nên hiện nay người ta sử dụng nhiều phương

pháp và chỉ số để đánh giá khác nhau, sau đây là một số phương pháp và chỉ số hay

được sử dụng: [11],[15],[74],[98]

*Các phương pháp nội sinh

Đây là những phương pháp đánh giá hoạt động insulin nội sinh có kết hợp

với đưa glucose vào cơ thể hoặc không.

 Định lượng insulin máu cơ bản lúc đói:

Là phương pháp đơn giản và được áp dụng rộng rãi nhất để xác định tình

trạng kháng insulin, chỉ cần định lượng nồng độ insulin lúc đói (I0).

 Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống:

Nghiệm pháp được thực hiện như sau: Định lượng nồng độ glucose và

insulin lúc đói (G0, I0), sau đó cho uống 75g glucose. Sau 30 phút và 120 phút, lấy

lại máu để định lượng nồng độ glucose và insulin (G30, I30, G120, I120). Các chỉ



xiv



số glucose, insulin máu, tỉ số của chúng và diện tích dưới đường biểu diễn ở các

thời điểm của nghiệm pháp được sử dụng để đánh giá tình trạng kháng insulin.

*Các phương pháp ngoại sinh

Đây là phương pháp đánh giá đáp ứng glucose máu đối với một lượng

insulin nhất định được đưa từ ngoài vào trong cơ thể. Sau đây là một số phương

pháp hay sử dụng.

 Kỹ thuật “kẹp glucose” (the glucose clamp)

Phương pháp này được coi là chính xác nhất, hay “tiêu chuẩn vàng”. Nồng

độ glucose được kẹp chặt hay cố định ở một mức nhất định trong khi đánh giá sự

tiết của insulin hoặc cố định nồng độ insulin trong khi đo hoạt tính của nó.

Kỹ thuật “kẹp glucose” được thực hiện như sau: Tiêm insulin vào tĩnh mạch

để nâng cao nồng độ insulin lúc đói, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục để duy trì

nồng độ insulin vào khoảng 100 μU/ml. Trong khi đó bệnh nhân đồng thời được

truyền glucose tĩnh mạch để ngăn không cho giảm glucose máu và “kẹp” hay duy trì

nồng độ glucose 100mg/dl (5,5mmol/L). Ở tình trạng này lượng glucose truyền vào

tương ứng với sự thu nạp glucose ở các mô và qua đó tính được sự chuyển hố

glucose qua trung gian insulin hay nói cách khác tình trạng nhạy cảm với insulin tại

mô.

Đây là kỹ thuật xâm nhập và khá phức tạp, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật và

thời gian do vậy khó thực hiện.

 Nghiệm pháp dung nạp insulin (insulin tolerance test)

Tiêm tĩnh mạch insulin sau đó định lượng glucose máu. Phương pháp này

đơn giản nhưng có nguy cơ gây hạ glucose máu nên hiện nay ít được áp dụng.

 Nghiệm pháp dung nạp insulin đường tĩnh mạch ngắn (intravenous

insulin tolerance test, minimal model)

Bonara đã đưa ra phương pháp này với một vài cải tiến để khắc phục nhược

điểm của phương pháp trên. Thời gian tiến hành phương pháp chỉ kéo dài 15 phút

và glucose máu được đo mỗi phút nên tránh được tai biến hạ glucose máu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×