Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

hoá lợi nhuận. Để hiểu được vốn trong doanh nghiệp là gì, trước hết cần phải

hiểu doanh nghiệp là như thế nào. Trong nền kinh tế, doanh nghiệp là các thực

thể sản xuất và cung cấp hàng hoá dịch vụ thoả mãn nhu cầu của cả nền kinh tế

đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của xã hội. Một nền kinh tế phát triển cao

đồng nghĩa với doanh nghiệp của nó hoạt động hiệu quả và đáp ứng được nhu

cầu của thị trường.

Để doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì điều kiện

tiên quyết là phải có vốn. Vậy vốn là gì? Khái niệm về vốn rất nhiều và cũng rất

khác nhau, tuỳ theo từng thời kỳ và giai đoạn, mỗi nhà kinh tế lại đưa ra những

khái niệm khác nhau:

Theo K. Marx: “Vốn là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một

đầu vào của quá trình sản xuất 12).”

Theo David Begg trong cuốn “Kinh tế học (5)”: Vốn là phạm trù bao gồm

vốn hiện vật và vốn tài chính doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ hàng hoá để

sản xuất ra các hàng hố khác. Vốn tài chính doanh nghiệp là tiền và các giấy tờ

có giá của doanh nghiệp.

Theo P. Samuelson: “ Vốn là những hàng hoá được sản xuất ra để phục

vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (vốn, lao động, đất đai)

(16) ”

Đó là những khái niệm kinh điển về vốn trong các học thuyết kinh tế. Các

quan điểm này tuy đã thể hiện được vai trò và tác dụng của vốn trong những

điều kiện lịch sử cụ thể, phù hợp với yêu cầu, mục đích nghiên cứu nhưng vẫn

hạn chế về sự thống nhất giữa vốn và tài sản của doanh nghiệp. Hiện nay, có một

số khái niệm khác, cụ thể và rõ ràng hơn:

Vốn là tiền để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh hay có thể coi

vốn là số tiền ứng trước cho kinh doanh.

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các loại tài sản của doanh

nghiệp tồn tại dưới hình thức khác nhau được sử dụng vào mục đích sản xuất

16



kinh doanh để sinh lời cho doanh nghiệp. Như vậy vốn được xem như đồng nhất

với tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn là khoản tích luỹ dưới dạng tiền tệ, là phần thu nhập có nhưng chưa

được dùng.

Vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp sức lao động và

các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn tham gia

vào tồn bộ q trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ chu kì sản xuất

đầu tiên đến những chu kì sản xuất cuối cùng trong suốt thời gian tồn tạị của

doanh nghiệp.

Tóm lạị, bản chất của vốn chính là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất,

được sử dụng để đầu tư các trang thiết bị, nhà xưởng máy móc… cho doanh

nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Khơng có vốn thì doanh nghiệp

khơng thể hoạt động được.

Tuy nhiên không nên nhầm lẫn giữa khái niệm vốn và tiền. Vốn là tiền,

nhưng tiền chưa hẳn đã là vốn, tiền chỉ trở thành vốn khi nó tham gia vào quá

trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp thường xuyên vận

động và chuyển từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng

lại quay trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động như vậy được coi là sự

tuần hồn của vốn. Q trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp diễn ra

khơng ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có

tính chất chu kì tạo thành dòng chu chuyển.

Tóm lại, quan điểm về vốn là rất nhiều, nhưng có thể khái quát lại để đưa

ra một khái niệm đơn giản nhất: Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền

của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất

kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.

1.2. Phân loại vốn doanh nghiệp

1.2.1. Phân loại theo nguồn hình thành

Căn cứ theo nguồn hình thành, vốn được phân thành hai loại: Vốn chủ sở

17



hữu và vốn vay. Nhờ cách phân loại này, nhà quản lý có thể tìm cách cân đối

vốn và lựa chọn cơ cấu vốn tối ưu nhất cho doanh nghiệp.

1.2.2.1. Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn hoặc

hình thành từ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp khơng có

nghĩa vụ phải thanh tốn cho nguồn vốn này. Vốn chủ sở hữu được hình thành từ

ba nguồn chủ yếu:

a Vốn góp ban đầu

Đây chính là nguồn vốn chủ sở hữu chủ yếu. Theo Luật doanh nghiệp

Việt Nam 2014, muốn thành lập một doanh nghiệp thì ban đầu cần phải có một

số vốn nhất định của chủ sở hữu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, số

vốn này được ghi vào vốn điều lệ của doanh nghiệp và phải lớn hơn hoặc bằng

mức vốn pháp định (là mức vốn tối thiểu để doanh nghiệp được thành lập do

Nhà nước quy định). Vốn góp ban đầu là do các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng

góp khi doanh nghiệp mới thành lập và đóng góp thêm trong quá trình sản xuất

kinh doanh. Với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn này là do Ngân sách nhà

nước cấp hoặc đầu tư. Với công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn,

công ty hợp danh vốn này là do các thành viên góp vốn. Đối với cơng ty cổ

phần, là do các cổ đơng đóng góp. Với doanh nghiệp tư nhân thì là do chủ sở

hữu doanh nghiệp đóng góp.

b Nguồn vốn từ lợi nhuận khơng chia

Trong q trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt

động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thụân lợi để tăng

trưởng nguồn vốn. Lợi nhuận sau thuế một phần sẽ được giữ lại để tái đầu tư,

mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một phương

thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn.

c Nguồn từ phát hành cổ phiếu

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể

18



tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây là một kênh

huy động vốn dài hạn rất quan trọng cho doanh nghiệp thông qua thị trường

chứng khốn. Doanh nghiệp có thể phát hành hai loại cổ phiếu cơ bản: Cổ phiếu

thường và cổ phiếu ưu đãi.

+ Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu thông dụng nhất, được phát hành

nhằm huy động vốn cho doanh nghiệp. Mỗi cổ phiếu đại diện cho một cổ phần

trong doanh nghiệp, người nắm giữ cổ phiếu thường gọi là cổ đông của doanh

nghiệp

+ Cổ phiếu ưu đãi: Chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số cổ phiếu được

phát hành. Người nắm giữ cổ phiếu này được trả cổ tức đều đặn cố định, không

phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được quyền

thanh tốn trước các cổ đơng thường.

d Nguồn vốn chủ sở hữu khác

Nguồn vốn này bao gồm các khoản thặng dư vốn cổ phần, khoản chênh

lệch do đánh giá lại tài sản, do đánh giá chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân

sách nhà nước cấp kinh phí, do các đơn vị phụ thuộc nộp kinh phí quản lý và

vốn chuyên dùng xây dựng cơ bản…

Như vậy, vốn chủ sở hữu mang tính dài hạn, khơng phải hồn trả và mang

tính an tồn rất cao đối với doanh nghiệp nhưng lại rủi ro đối với các nhà đầu tư.

Do vậy mà chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu thường cao hơn chi phí của vốn vay.

Phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp được gọi là hoạt động tài

trợ dài hạn của doanh nghiệp.

1.2.2.2. Nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu đóng vài trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp nhưng nếu chỉ có vốn chủ sở hữu thì khơng đủ. Để đáp

ứng nhu cầu về vốn, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn dưới nhiều nhiều

hình thức khác nhau từ các nguồn bên ngoài, nguồn vốn này gọi là nợ phải trả.

Nợ phải trả là các khoản vốn do doanh nghiệp huy động trên cơ sở chế độ chính

19



sách của nhà nước như vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, các khoản tín

dụng thương mại… Đối với khoản vốn này, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng

trong phạm vi những ràng buộc nhất định. Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải hoàn

trả trong một thời gian nhất định. Chi phí vốn là lãi phải trả cho các khoản nợ

phải trả. Chi phí nợ vay được tính vào chi phí hợp lý hợp lệ nên không phải chịu

thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy so với vốn chủ sở hữu, vốn vay tạo ra một

khoản tiết kiệm nhờ thuế cho doanh nghiệp, ảnh hưởng tới việc hình thành cơ

cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hố giá trị của các chủ sở hữu. Đây được gọi

là lá chắn thuế của nợ vay. Nguồn vốn này được hình thành dưới nhiều hình thức

khác nhau: Vay nợ, liên doanh liên kết, tín dụng thương mại, tín dụng ngân

hàng, đi thuê và các hình thức sở hữu khác.

a) Nguồn vốn tín dụng ngân hàng

Đây là một trong những nguồn quan trọng nhất đối với doanh nghiệp. Đó

có thể là vốn vay ngắn, trung, dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp và sự

thoả thuận giữa doanh nghiệp với ngân hàng. Trong quá trình hoạt động, doanh

nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài trợ chính cho các hoạt động

sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của

doanh nghiệp. Tuy nguồn vốn này có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn

chế nhất định. Đó là hạn chế về các điều kiện tín dụng, kiểm sốt của ngân hàng

và chi phí sử dụng vốn (lãi suất vay). Do vậy mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa

khó hoặc những doanh nghiệp có tình hình kinh doanh khơng tốt khó có thể tiếp

cận với nguồn vốn này.

b Nguồn vốn tín dụng thương mại

Đây là nguồn vốn được hình thành tự nhiên trên quan hệ mua bán chịu,

bán trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn này có ưu điểm là phương thức tài trợ rẻ,

tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh. Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng

các mối quan hệ hợp tác kinh doanh lâu bền, các điều kiện ràng buộc được ấn

định khi hai bên kí kết hợp đọng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung. Tuy

20



nhiên, nguồn vốn này thường nhỏ, quy mô không lớn, bởi rủi ro cao. Hiện nay

các hình thức tín dụng ngày càng được đa dạng hoá và linh hoạt hơn với tính

chất cạnh tranh hơn và các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn

nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.

c Nguồn vốn tín dụng th mua

Là hình thức tín dụng dài hạn được thực hiện thơng qua việc cho th máy

móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và

nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Nó giúp doanh nghiệp thiếu vốn

vẫn có thể có được tài sản cần thiết để sử dụng vào hoạt động kinh doanh của

mình.

d Phát hành trái phiếu

Doanh nghiệp thường phát hành trái phiếu (là một giấy vay nợ dài hạn và

trung hạn) khi cần một lượng vốn lớn để tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh

hoặc đầu tư các dự án lớn. Nếu doanh nghiệp làm ăn tốt, uy tín và lợi nhuận cao

thì hình thức này tương đối dễ dàng vì kì vọng của dân cư vào các doanh nghiệp

này khá cao. Các chủ sở hữu trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ

đơng ưu tiên và cổ đơng thường. Chi phí trả lãi trái phiếu cũng được coi là một

khoản chi phí trước thuế do đó tiết kiệm được một khoản thuế lớn cho doanh

nghiệp.

e Vốn liên doanh liên kết

Là vốn do các bên tham gia liên doanh liên kết hợp tác sản xuất với doanh

nghiệp đóng góp.

1.2.2. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn

Dựa trên tiêu thức này, vốn kinh doanh được chia làm hai loại: Vốn cố

định và vốn lưu động.

1.2.2.1. Vốn cố định

- Vốn cố định của doanh nghiệp: Là lượng vốn đầu tư ứng trước để hình thành

nên tài sản cố định của doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định sẽ quyết định

21



đến lượng tài sản cố định được hình thành và ngược lại, đặc điểm hoạt động của

tài sản cố định sẽ chi phối đặc điểm luân chuyển của vốn cố định. Từ mối liên hệ

này, ta có thể khái quát những đặc thù của vốn cố định như sau:

+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ

ngun hình thái hiện vật. Có được đặc điểm này là do tài sản cố định tham gia

vào phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vậy vốn cố định là hình

thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định và cũng tham gia vào các chu kỳ sản

xuất tương ứng.

+ Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần, từng phần trong các chu

kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, tài sản cố định khơng bị thay

đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và cơng suất của nó bị giảm dần,

tức là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, thì giá trị của

nó cũng bị giảm đi, theo đó vốn cố định được tách thành hai bộ phận:

Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định

được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí

khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hoá

được tiêu thụ, quỹ khấu hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định

nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.

Phần còn lại của vốn cố định vẫn được "cố định" trong đó, tức là giá trị

còn lại của tài sản cố định. Hình thái hiện vật của vốn cố định là tài sản cố định.

Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm

và được thu hồi dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố

định lại dần dần giảm xuống. Kết thúc q trình vận động đó cũng là lúc tài sản

cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch vào giá trị sản

phẩm đã sản xuất và khi đó vốn cố định mới hồn thành một vòng ln chuyển.

Vốn cố định thường có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể

thu hồi đủ số vốn đầu tư đã ứng ra ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng



22



vốn luôn bị đe doạ bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách

quan làm thất thoát vốn như:

Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, do

giá bán thấp hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn tài

sản cố định.

Do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn

vơ hình của tài sản cố định vượt qua mức dự kiến về mặt hiện vật cũng như về

mặt giá trị.

Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi lạm phát xảy ra, giá trị thực của

đồng vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá và điều chỉnh lại

giá trị tài sản để tránh tình trạng mất vốn kinh doanh theo tốc độ lạm phát trên

thị trường.

+ Vốn cố định hồn thành một vòng ln chuyển sau nhiều chu kỳ kinh

doanh.

Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm

tỷ trọng tương đối lớn trong tồn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh

doanh nói chung. Quy mơ của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là

nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh

doanh. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo

tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu

quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.2.2. Vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra để hình

thành các tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và một phần để

trả tiền công cho người lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của

doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.

Tài sản lưu động sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất như: Nguyên

liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ… Tài sản lưu động ở khâu sản xuất như sản

23



phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm. Các tài sản lưu động ở khâu lưu thông bao

gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản

vốn trong thanh tốn, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước…

Trong q trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu

động lưu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình

hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.

Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu

động của doanh nghiệp luôn ln thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản

phẩm, hàng hố. Do đó, phù hợp với các đặc điểm của tài sản lưu động, vốn lưu

động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu

kỳ kinh doanh: Dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thơng. Q trình này được diễn

ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là q trình tuần

hồn chu chuyển của vốn lưu động.

Căn cứ vào phạm vi huy động, vốn kinh doanh được hình thành từ hai

nguồn:

- Nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp: Việc doanh nghiệp huy động sử

dụng nguồn vốn bên trong có ưu điểm là doanh nghiệp được quyền tự chủ sử

dụng vốn cho sự phát triển của mình mà khơng phải chi phí cho việc sử dụng

vốn. Tuy nhiên, cũng chính vì lợi thế về việc khơng phải trả chi phí khi sử dụng

vốn bên trong dẫn đến việc doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả.

- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có

thể huy động từ bên ngồi đểđáp ứng cho nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất

kinh doanh. Loại nguồn vốn này bao gồm: Vốn vay ngân hàng, vay các tổ chức

kinh tế khác, phát hành trái phiếu, nợ người bán và các khoản nợ khác…

Ưu điểm của nguồn vốn này là tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tài chính

linh động hơn. Nếu doanh nghiệp đạt được mức doanh lợi cao hơn chi phí sử

dụng vốn càng nhiều thì việc huy động vốn từ bên ngồi nhiều sẽ giúp cho

doanh nghiệp phát triển mạnh hơn.

24



Nhược điểm: Doanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả vay đúng

thời hạn, nếu doanh nghiệp sử dụng vốn sản xuất kinh doanh kém hiệu quả thì

khoản nợ phải trả trở thành gánh nặng và doanh nghiệp phải chịu rủi ro lớn.

Như vậy xuất phát từ những ưu nhược điểm trên ta thấy việc sử dụng kết

hợp nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài một cách hợp lý sẽ đem lại

cho doanh nghiệp hiệu quả kinh tế cao và rủi ro là thấp nhất.

1.3. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.3.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Mục tiêu hoạt động của một doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của

chủ sở hữu thông qua việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã hội. Như vậy,

muốn đạt được mục tiêu đó, nhà quản lý phải sử dụng vốn có hiệu quả.

Theo lý thuyết chung, hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là một phạm

trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh

nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hố lợi ích và

tối thiểu hố chi phí.

Tuy nhiên, tùy từng cách tiếp cận khác nhau lại có những quan điểm khác

nhau về hiệu quả sử dụng vốn.

a Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh mối quan hệ giữa chi phí của vốn và kết

quả của việc sử dụng lượng vốn đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói một

cách đơn giản: Để có mười đồng vốn, cần phải trả chi phí là hai đồng, nếu lợi

nhuận thu được từ mười đồng đó lớn hơn so với chi phí là hai đồng đã bỏ ra thì

doanh nghiệp được coi là sử dụng vốn có hiệu quả.

b Hiệu quả xã hội

Hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá dựa trên các lợi ích xã hội đạt được từ

việc sử dụng số vốn đó.

Thơng thường, hiệu quả sử dụng vốn vẫn hay bị nhầm lẫn với hiệu quả kinh

doanh. Tuy nhiên, thực chất hiệu quả sử dụng vốn chỉ là một mặt của hiệu quả

25



kinh doanh, song là mặt quan trọng nhất. Vậy thế nào là vốn được sử dụng có

hiệu quả? Vốn được sử dụng có hiệu quả phải thể hiện được trên hai mặt: Bảo

toàn vốn và tạo ra được kết quả kinh doanh, đặc biệt là kết quả sinh lời của đồng

vốn. Đồng thời kết quả tạo ra do sử dụng vốn phải thoả mãn cả hai yêu cầu: vừa

đáp ứng được lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của nhà đầu tư lại vừa nâng cao

được lợi ích của nền kinh tế xã hội. Lợi ích của doanh nghiệp phải phù hợp và

không được phép đi trái lại với lợi ích của xã hội, của cộng đồng.

Như vậy, muốn nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn, cần đảm bảo các

điều kiện:

- Tránh để vốn trong tình trạng nhàn rỗi, cần khai thác một cách triệt để

- Phải sử dụng vốn một cách có hiệu quả và hợp lý nhất phù hợp với tình hình sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Quản lý vốn chặt chẽ tránh sử dụng không đúng mục đích hoặc thất thốt vốn.

1.3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

1.3.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

a) Vòng quay vốn lưu động

Vòng quay vốn lưu động



=



Doanh thu thuần

Vốn lưu động bình qn



Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy

vòng. Nếu số vòng quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động

càng cao.

b) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn



Lợi nhuận sau thuế

x 100%

Vốn lưu động bình quân

lưu động

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh

=



một trăm đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi

nhuận. Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt và

ngược lại.

c) Mức đảm nhiệm vốn lưu động

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×