Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tuy tất cả thành viên của một dân cư nào đó đều có điểm chung là cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng họ thường khác nhau về giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân... Vì vậy, sẽ hiểu biết chi tiết hơn về một dân cư nếu phân chia tổng số dân th

Tuy tất cả thành viên của một dân cư nào đó đều có điểm chung là cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng họ thường khác nhau về giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân... Vì vậy, sẽ hiểu biết chi tiết hơn về một dân cư nếu phân chia tổng số dân th

Tải bản đầy đủ - 0trang

9

tốn, phân tích, so sánh với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và là căn cứ để hoạch

định chiến lược phát triển. Quy mô dân số là đại lượng không thể thiếu được

trong việc xác định mức sinh, mức tử và di dân.

Muốn xác định dân số trung bình năm sử dụng cơng thức sau: [14; 71]

P0 + P 1

P=

2

Trong đó: + P: Dân số trung bình năm

+ P0: Dân số đầu năm

+ P1: Dân số cuối năm

1.1.1.3. Gia tăng dân số

Gia tăng dân số là sự thay đổi dân số theo xu hướng tăng lên theo thời

gian.

Gia tăng dân số tự nhiên: Dân số của một lãnh thổ trong từng thời kì tăng

hay giảm là kết quả của sự tương quan giữa tỉ suất sinh và tỉ suất tử. Sự tăng

giảm dân số như vậy gọi là sự gia tăng tự nhiên. Gia tăng tự nhiên ở mức độ lớn

quyết định tình hình dân số của một lãnh thổ. Mức độ gia tăng dân số cao thì

quy mô dân số cao và ngược lại.

Gia tăng dân số cao thì dân số sẽ tăng nhanh về số lượng tác động đến

mọi mặt về phân bố dân cư, vấn đề việc làm, đến vấn đề lương thực thực phẩm,

tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội, mơi trường…

Gia tăng dân số thấp và ổn định thì mức gia tăng dân số sẽ ở mức ổn định.

Tuy nhiên nếu gia tăng dân số quá thấp hoặc âm thì quy mơ dân số và lao động

sẽ bị suy giảm, thiếu nguồn lao động bổ sung cho tương lai.

1.1.1.4. Biến động dân số

Sự biến động của dân số là kết quả của q trình nhân khẩu học và có tác

động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo

không gian của dân số trong độ tuổi lao động. Sự biến động của dân số thường

được nghiên cứu thông qua sự biến động tự nhiên và biến động cơ học.

Biến động dân số tự nhiên do tác động của sinh đẻ và tử vong. Trong đó,

tỷ lệ sinh đẻ và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và mức độ

thành cơng của chính sách kiểm sốt dân số.

1.1.1.5. Mức sinh

Nếu khơng có những chú thích đi kèm, từ đẻ (birth), hay đơn giản hơn là

sinh, chỉ việc một người phụ nữ sinh ra một đứa trẻ sống. Trong nhiều văn bản,



10

việc sinh ra một đứa trẻ sống được gọi đơn giản là sinh sống, hay đứa trẻ sinh ra

sống. Ta lưu ý điều kiện “sống” trong định nghĩa này. Một đứa trẻ được gọi là

sinh ra sống nếu ngay sau khi sinh ra khỏi bụng mẹ, nó có biểu hiện của cuộc

sống như thở, có nhịp tim, cựa quậy, hay khóc. Điều này nghe có vẻ đương

nhiên, song trên thực tế việc nhấn mạnh điều kiện sống trong khái niệm sinh đẻ

là rất quan trọng. Trong nhiều trường hợp thai nhi đã chết ngay trong bụng mẹ

và người phụ nữ chỉ đẻ ra thai đã chết lưu. Những trường hợp như vậy không

được coi là sinh sống và không được thống kê cùng những đứa trẻ sinh ra sống.

Trong nhiều trường hợp khác, đứa trẻ được sinh ra có biểu hiện của sự sống

nhưng chết ngay sau đó ít lâu, sau một vài ngày hoặc sau một vài giờ, hoặc thậm

chí sau một vài phút. Những đứa trẻ như vậy được coi là sinh ra sống. Tuy

nhiên, nhiều đứa trẻ như vậy trên thực tế được gia đình, và có thể một số nhân

viên y tế khơng coi là các trường hợp sinh sống và họ không thống kê những ca

sinh đẻ như vậy. Điều này khiến cho việc thống kê số trẻ sinh ra sống khơng

chính xác. Việc lưu ý đến điều kiện “sống” trong định nghĩa về sinh đẻ vì vậy rất

quan trọng đối với việc theo dõi mức sinh hay mức tử vong ở trẻ sơ sinh.

1.1.1.6. Mức chết

Chết là một hiện tượng tự nhiên mà bất kì sinh vật nào cũng đều trải qua.

Sống và chết là hai mặt đối lập của mỗi sinh vật nói chung và của từng con

người nói riêng.

Khái niệm về chết được Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế thế giới thống

nhất định nghĩa như sau: “Chết là sự mất đi vĩnh viễn tất cả những biểu hiện của

sự sống ở một thời điểm nào đó, sau khi có sự kiện sinh sống xảy ra”.

1.1.2. Các thước đo gia tăng dân số tự nhiên

1.1.2.1. Mức sinh

Mức sinh có vai trò lớn trong việc thay đổi dân số. Mức sinh có một vị thế

rất quan trọng trong sự phát triển dân số, lao động và phát triển kinh tế - xã hội.

Tầm quan trọng của nó được nhìn nhận như là một yếu tố quyết định hình dáng

cấu trúc tuổi, giới tính và chi phối những biến đổi trong quy mô dân số, tốc độ

gia tăng dân số và lao động.

a. Tỉ suất sinh thô (CBR - Gade Bith Rate)

Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em sinh ra trong một năm còn

sống so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần nghìn.

B



11

Cơng thức: CBR =



x 1000[14; 72]

P

Trong đó: CBR: Tỉ suất sinh thơ

B: Số trẻ em sinh ra còn sống trong năm

P: Dân số trung bình trong năm

Tỉ suất sinh thô biểu thị số trẻ em sinh ra trong một năm so với 1000

người dân.

Tỉ suất sinh thô tuy chỉ phản ánh gần đúng mức sinh vì mẫu số bao gồm

tồn bộ dân số chứ khơng phải chỉ có phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, song nó đơn

giản, dễ tính tốn, dễ so sánh, nên được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh.

b.Tỉ suất sinh chung (GFR - General Fertility Rate)

Biểu thị số trẻ sinh ra trong một năm do 1000 người phụ nữ trong độ tuổi

sinh đẻ.

B

Cơng thức: GFR =

x 1000

[14; 72]

W15-49

Trong đó: GFR: Tỉ suất sinh chung (‰)

B: Số trẻ em sinh ra trong một năm

W15-49: Số phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi có bình quân trong năm của

địa phương.

Thước đo này đã loại bỏ một phần ảnh hưởng của cơ cấu tuổi và giới đối

với mức sinh.

GFR không chỉ phụ thuộc vào mức sinh của phụ nữ mà còn phụ thuộc vào

cơ cấu tuổi trong nhóm phụ nữ ở tuổi sinh đẻ. Thơng thường, số phụ nữ trong

tuổi sinh đẻ chiếm từ 1/5 đến 1/3 dân số nên GFR lớn gấp 3 - 5 lần so với giá trị

CBR.

c. Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASRFx - Age Specific Fertility Rate)

Đối với mỗi độ tuổi khác nhau, mức độ sinh khác nhau. Để đánh giá mức

độ sinh của từng độ tuổi (nhóm tuổi) người ta dùng các tỷ suất sinh đặc trưng

theo tuổi.

Bx

Cơng thức: ASFRX =

x 1000 [14; 73]

Wx

Trong đó: ASFRX: Tỷ suất sinh đặc trưng của tuổi x (‰)



12

Bx: Số trẻ em của các bà mẹ ở độ tuổi x sinh ra trong năm.

Wx: Số phụ nữ tuổi x có bình quân trong năm.

Thước đo này đã loại bỏ hoàn toàn cơ cấu tuổi và giới tính đối với mức

sinh. Tuy nhiên để xác định được cần có số liệu chi tiết mức sinh cho từng độ

tuổi. Trong thực tế, người ta chỉ tính cho từng nhóm 5 tuổi.

d. Tổng tỷ suất sinh (TFR - Total Fertility Rate)

Tổng tỷ suất sinh (TFR) là tổng của các tỷ suất sinh đặc trưng (ASFRx).

Cơng thức: TFR =



[14; 73]

1000

5x



Hoặc:



TFR =



1000

Trong đó: TFR: Tổng tỷ suất sinh

ASFRα: Tỷ suất sinh đặc trưng theo từng nhóm (5 năm) được

tính theo tỷ lệ ‰.

Về thực chất, TFR phản ánh số con trung bình mà một bà mẹ có thể sinh

được của một thế hệ phụ nữ thực nếu sống hết cuộc đời sinh đẻ và người phụ nữ

này có mức sinh đặc trưng theo tuổi giống y hệt các ASFR đã được chỉ ra. Để

tính được số con trung bình này, người ta phải thống kê trong khoảng thời gian

35 năm, từ khi người phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ đến hết tuổi 49. Trong thực

tế, người ta không thể làm được điều này, mà thường chỉ tính ASFR cho tất cả

các độ tuổi trong một năm. Khi đó, TFR cho biết nếu theo mức sinh của tất cả

các độ tuổi của năm nghiên cứu, thì trung bình một người phụ nữ khi sống đến

hết tuổi sinh đẻ sẽ sinh được mấy con.

Như vậy, TFR không phản ánh mức sinh trung bình của bất kì một thế hệ

phụ nữ nào, mà nó chỉ phản ánh mức sinh của năm nghiên cứu. Nó khơng chịu

ảnh hưởng của cấu trúc dân số theo tuổi và giới tính, nên thường được dùng để

đo lường, so sánh mức sinh giữa các địa phương.

1.1.2.2. Mức chết

a. Tỉ suất chết thô (CDR - Crude Dearth Rate)

Tỉ suất chết thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân

trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần nghìn.



13

Tỉ suất chết thơ là thước đo đơn giản đánh giá mức độ chết.

D

Công thức: CDR =

x 1000 [14; 74]

`

P

Trong đó: CDR: Tỉ suất chết thơ (Crude Death Rate).

D: Số người chết trong năm.

P: Dân số trung bình trong năm.

b. Tỉ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDRx - Age Specific Death Rate)

Dx

Cơng thức: ASDRx =

x 1000 [5; 85]

Px

Trong đó: ASDRx: Tỉ suất chết đặc trưng trong tuổi x (‰)

Dx: Số người chết ở độ tuổi x trong năm

Px: Dân số trung bình tuổi x trong năm

Thước đo này đã loại bỏ ảnh hưởng của cơ cấu tuổi đối với mức chết,

phản ánh thực chất về mức chết của từng độ tuổi. Vì vậy, chỉ số này có ý nghĩa

so sánh mức độ chết giữa các nước, giữa các thời kì.Tuy nhiên, khi xác định cần

có số liệu chi tiết về chết của từng độ tuổi, nên thường tính cho từng nhóm tuổi.

c. Tỉ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (IMR - Infant Mortality Rate)

D0

Công thức: IMR =

x 1000 [14; 75]

B0

Trong đó: IMR: Tỉ suất chết của trẻ em dưới một tuổi (‰)

D0: Số trẻ em 0 tuổi chết trong năm

B0: Số trẻ sinh sống trong cùng năm

Tỉ suất chết của trẻ em dưới một tuổi là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng, phân

tích về mức chết của dân số bởi vì nó là chỉ báo nhạy cảm nhất đánh giá mức độ

ảnh hưởng của mức sống, y tế. Nó đo mức độ chết trong bộ phận dân cư có khả

năng chết cao, ảnh hưởng rất lớn đến mức chết chung và tuổi thọ bình quân của

người dân. Đồng thời tỉ suất này có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ đối với mức

sinh, ảnh hưởng lớn tới mức độ tăng dân số.

d. Tỉ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (U45 - MR)

Công thức:



14



Tỉ suất chết

của trẻ em =

dưới 5 tuổi



Số trẻ em dưới 5 tuổi chết trong năm

x 1000

Tổng số trẻ em dưới 5 tuổi bình quân



Tỉ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi ảnh hưởng rất lớn đến triển vọng sống

trung bình của dân số, ảnh hưởng tới mức gia tăng dân số của từng quốc gia, địa

phương. [14; 76]

e. Tỉ suất chết bà mẹ [5; 85]

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chết của các bà mẹ nhữngnguyên nhân có

liên quan đến thai sản, sinh đẻ (bao gồm các bà mẹ chết trong khi có thai, trong

khi đẻ và 6 tuần sau đẻ do tất cả các nguyên nhân do tai nạn, chấn thương).

Tỉ suất chết bà mẹ có ảnh hưởng đến quy mô dân số và sự gia tăng dân số

của mỗi quốc gia, địa phương.

Công thức:

Số bà mẹ chết liên quan đến thai sản trong năm

Tỉ suất chết bà mẹ =

x 1000

Tổng số trẻ em sinh ra sống trong năm

1.1.2.3. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên

Dân số của lãnh thổ trong từng thời kì tăng hay giảm trước hết là kết quả

của mối tương quan giữa số sinh và số chết. Sự biến động này gọi là gia tăng tự

nhiên.

Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được xác định bằng hiệu số giữa tỉ suất

sinh thô và tỉ suất chết thô trong một khoảng thời gian nhất định trên một đơn vị

lãnh thổ nhất định.

RNI = CBR - CDR [14; 75]

Trong đó: RNI: Tỉ suất gia tăng tự nhiên (Rate Of Natural Increase).

CBR: Tỉ suất sinh thô.

CDR: Tỉ suất chết thô.

Tỉ suất gia tăng tự nhiên còn xác định bằng hiệu số giữa số sinh và số chết

trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm, đơn vị tính bằng phần

trăm.

B-D

RNI =

x 100

[14; 76]



15

P

Trong đó: RNI: Tỉ suất gia tăng tự nhiên

B: Số trẻ em sinh ra trong năm còn sống

D: Số người chết trong năm

P: Dân số trung bình ở cùng thời điểm

Tỉ suất chết thơ có ảnh hưởng đến tình hình biến động dân số và được coi

là động lực phát triển dân số. Tỉ suất gia tăng tự nhiên trên thế giới có sự thay

đổi theo thời gian. Phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, ngay trong

cùng thời kì, giữa các nước có tình độ phát triển khác nhau, gia tăng tự nhiên

diễn ra không như nhau.

1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến gia tăng dân số tự nhiên

1.1.3.1. Nhân tố tự nhiên - sinh học

Sinh đẻ, chết là hiện tượng sinh học nên chịu tác động rõ rệt của các nhân

tố này.

Các nhân tố tự nhiên sinh học bao gồm: cơ cấu tuổi và giới tính, tình trạng

hơn nhân và sức khỏe, các điều kiện tự nhiên và môi trường sống.

Cơ cấu tuổi: Khả năng sinh sản chỉ có ở một nhóm tuổi nhất định. Nơi

nào có số phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh sản càng cao (đặc biệt độ tuổi

20 - 30) thì mức sinh cao và ngược lại. Cơ cấu giới tính càng phù hợp càng tạo

điều kiện thuận lợi cho mức sinh.

Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp

theo từng lứa tuổi nhất định. Thông qua tương quan của dân số ở các nhóm tuổi

người ta có thể đánh giá, so sánh các nhóm trong mối quan hệ qua lại với các

đặc trưng dân số, xã hội và kinh tế của dân cư. Trong dân số học, cơ cấu dân số

theo độ tuổi được chú ý nhiều bởi vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, chết,

khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một lãnh thổ.

Có hai cách phân chia độ tuổi với việc sử dụng các thang bậc khác nhau:

+ Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau: Thông thường người ta

chia dân số thành 3 nhóm tuổi: dưới độ tuổi lao động (từ 0 - 14 tuổi), trong độ

tuổi lao động (từ 15 - 59 tuổi) và trên độ tuổi lao động (từ 60 tuổi trở lên). Cơ

cấu tuổi có sự thay đổi theo thời gian và có sự khác biệt giữa các khu vực, quốc

gia, chịu ảnh hưởng của các yếu tố sinh, chết, di dân. Nếu một nước mà dân số

có mức sinh cao và duy trì trong thời gian dài thì cơ cấu tuổi thuộc mơ hình trẻ.



16

Ngược lại, nếu mức sinh thấp liên tục trong nhiều năm thì cơ cấu tuổi thuộc mơ

hình già.

+ Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau: Dân số được phân chia theo

khoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm, 10 năm. Thông thường kiểu cơ cấu này

thường biểu hiện kết hợp với cơ cấu dưới dạng tháp tuổi.

Dựa vào cơ cấu dân số theo tuổi, người ta chia dân số của một quốc gia,

lãnh thổ thành dân số trẻ hoặc dân số già.

Bảng 1.1. Cơ cấu dân số trẻ và già(%)

Nhóm tuổi

0 - 14

15 - 59

Trên 60



Dân số trẻ

Trên 35

55

Dưới 10



Dân số già

Dưới 25

60

Dưới 15

[10; 94]



Cơ cấu dân số theo giới

Trên cùng một lãnh thổ bao giờ cũng có giới tính nam và giới tính nữ

cùng chung sống với nhau. Số lượng dân số nam, nữ tương quan giữa giới này

so với giới kia hoặc so với tổng số dân được gọi là cơ cấu theo giới. Các thước

đo dùng tính tốn cơ cấu theo giới là tỉ số giới tính hoặc tỉ lệ giới tính.

Pm

Cơng thức: SR =

x 100

[10;96]

Pf

Trong đó: SR: tỉ số giới tính

Pm: dân số nam

Pf: dân số nữ

Tỉ số giới tính cho biết trong tổng dân số, trung bình cứ 100 nữ thì có bao

nhiêu nam.

Khác với tỉ số giới tính, tỉ lệ giới tính cho biết dân số nam hoặc dân số nữ

chiếm bao nhiêu % trong tổng số dân.

Cơng thức tính như sau:

Pm/Pf

Pm/Pf =

x 100 [10; 96]

P

Trong đó: Pm/Pf: Tỉ lệ dân số nam/nữ trong tổng số dân

Pm: Dân số nam

Pf: Dân số nữ



17

P: Tổng số dân

Tình trạng hơn nhân và sức khỏe, đặc biệt là tuổi kết hơn có ảnh hưởng

đến việc sinh đẻ của phụ nữ. Tuổi kết hơn càng sớm thì số con càng nhiều.

1.1.3.2. Điều kiện tư nhiên và môi trường sống

Địa hình có ảnh hưởng lớn tới việc cư trú, đi lại của con người, chi phối

phương thức canh tác cũng như năng suất của đất đai. Dân cư thường tập trung

đơng ở những khu vực địa hình bằng phẳng như các cánh đồng, bồn địa và thung

lũng trước núi thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Càng lên cao, dân cư càng

thưa thớt, ảnh hưởng trực tiếp đến phân số dân cư và ảnh hưởng gián tiếp đến

gia tăng dân số tự nhiên.

Đất đai: Mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều cần có đất đai. Đất đai là yếu

tố quan trọng của sản xuất nông nghiệp. Những vùng đất đai màu mỡ, thuận lợi

cho sản suất thì dân cư tập trung đông hơn so với các vùng khác, từ đó ảnh

hưởng trực tiếp tới sự phân bố dân cư và cũng ảnh hưởng gián tiếp đến gia tăng

dân số tự nhiên.

Khí hậu: Chi phối mọi hoạt động sinh hoạt, sản xuất dân cư. Ở nước ta

khí hậu chung là khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho việc sinh hoạt và sản

xuất của người dân. Tuy nhiên do tính chất mùa của khí hậu và diễn biến thời

tiết thất thường như bão, lũ lụt, hạn hán, sương muối, băng giá,… thường xuyên

xảy ra ảnh hưởng tới sinh hoạt và sản xuất của con người.

Nói chung, điều kiện tự nhiên, mơi trường sống có những ảnh hưởng nhất

định tới mức sinh, mức chết và gia tăng dân số tự nhiên. Nơi nào có điều kiện tự

nhiên thuận lợi cho sự phát triển sinh sản thì nơi đó gia tăng tự nhiên cao, dân số

tăng nhanh và ngược lại.

1.1.3.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội

a. Phong tục tập quán và tâm lí xã hội

Mỗi nước, mỗi thời kì, mỗi dân tộc, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có

các phong tục tập quán và tâm lí xã hội khác nhau. Những tập quán và tâm lý

này xuất hiện và tồn tại trên những cơ sở thực tế khách quan của nó.

Tập quán và tâm lí xã hội có tác động lớn tới mức sinh đẻ từ đó ảnh

hưởng lớn tới gia tăng dân số tự nhiên.

Tập qn kết hơn sớm, muốn có nhiều con, thích con trai, có nếp có tẻ…

làm cho mức sinh tăng, gia tăng dân số tự nhiên tăng.

b. Chất lượng cuộc sống



18

Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung

nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi

toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khối, hài lòng (well-being)

hồn tồn về thể chất, tinh thần và xã hội. Chất lượng cuộc sống là thước đo về

phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần.

Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc

sống cho con người là một nỗ lực của các nhà nước (chính phủ), xã hội và

cả cộng đồng quốc tế. Khi cuộc sống con người ngày càng được cải thiện, cuộc

sống con người dư dả hơn thì con người lại có nhu cầu sinh nhiều con hơn để

cho “vui cửa vui nhà”. Vì vậy, chất lượng cuộc sống phần nào ảnh hưởng đến

gia tăng dân số tự nhiên.

c. Trình độ phát triển y học, mạng lưới y tế, vệ sinh phòng bệnh

Trình độ phát triển kỹ thuật ngày càng cao, đặc biệt là những thành tựu về

y học, càng tạo điều kiện cho loài người điều tiết mức sinh.

Đối với các gia đình, các cặp vợ chồng khơng có khả năng sinh đẻ, y học

đã có các biện pháp khắc phục vơ sinh. Trước hết bằng những kỹ thuật chuyên

môn, y học đã chữa cho nhiều cặp vợ chồng từ vô sinh trở nên sinh đẻ được.

Hoặc bằng các biện pháp thụ tinh nhân tạo, thụ tinh từ ống nghiệm, các gia đình

khơng có khả năng sinh con đã có con, tạo điều kiện cho gia đình hạnh phúc.

Cũng bằng các kỹ thuật chuyên mơn (triệt sản, đặt vòng, tiêm và uống

thuốc…) giúp các cặp vợ chồng sinh đẻ có kế hoạch (sinh muộn, sinh ít, giãn

khoảng cách sinh, thơi sinh đẻ…) thực hiện việc sinh đẻ theo mong muốn.

Với những tiến bộ đã đạt được, hiện nay y học cũng học có khả năng dập

tắt nhiều dịch bệnh nguy hiểm, gây chết người hàng loạt góp phần đáng kể vào

việc hạn chế mức chết.

d. Chính sách dân số

Chính sách dân số hiểu theo nghĩa rộng là tồn bộ chủ trương, chính sách

có liên quan đến dân số. Nó bao gồm các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, biện

pháp kinh tế, hành chính và những biện pháp về kĩ thuật chuyên môn.

Nhận thức được vai trò của dân số, mối quan hệ giữa dân số với phát triển

kinh tế - xã hội, Nhà nước với chức năng quản lí của mình đã đề ra những chủ

trương, chính sách và biện pháp để điều tiết quá trình vận động và phát triển dân

số cho phù hợp với nhu cầu và khả năng phát triển của đất nước ở mỗi thời kỳ.

1.1.4. Tác động của gia tăng dân số tự nhiên đến kinh tế - xã hội, môi trường



19

1.1.4.1. Tác động của gia tăng dân số đến các vấn đề kinh tế - xã hội

Dân cư là động lực cho sự phát triển kinh tế, cung cấp nguồn nhân lực cho

các ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đồng thời cũng ảnh

hưởng tới cơ cấu và xu hướng thay đổi cơ cấu ngành kinh tế.

Dân số có ảnh hưởng trực tiếp tới các vấn đề xã hội như lương thực, nhà

ở, việc làm, các dịch vụ y tế cá nhân. Đây là những điều kiện gắn liền với nhu

cầu thiết yếu của con người như ăn, ở, lao động, chăm sóc sức khỏe… Các nhu

cầu này là khác nhau theo từng độ tuổi, hoàn cảnh. Nếu được sống trong một

cộng đồng có quy mơ dân số khơng q cao thì con người sẽ được đáp ứng đầy

đủ các nhu cầu thiết yếu và sẽ có điều kiện để thực hiện các yêu cầu cao hơn và

ngược lại. Cụ thể là:

+ Lương thực: Dân số gia tăng sẽ tạo ra nguồn lao động dồi dào để tham

gia vào sản xuất lương thực, thực phẩm và đây cũng là thị trường tiêu thụ rộng

lớn. Nhưng nếu như dân số quá đông sẽ là một trong những nguy cơ gây ra thiếu

lương thực trong những điều kiện bất lợi (thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh…).

+ Nhà ở: Dân số gia tăng sẽ gây tình trạng thiếu nhà ở, nhất là những khu

đô thị lớn.

+ Việc làm: Việc gia tăng dân số quá nhanh, số người trong độ tuổi lao

động tăng lên, làm cho nhu cầu việc làm gia tăng nhanh chóng. Nếu khơng được

đáp ứng nạn thất nghiệp sẽ gia tăng, chất lượng cuộc sống con người không

được đảm bảo.

+ Trường học: Việc gia tăng dân số quá nhanh trong khoảng thời gian

ngắn sẽ xảy ra tình trạng quá tải các trường học, nhất là các trường chuyên,

trường công lập…

+ Dịch vụ y tế cá nhân: Khi dân số tăng nhanh, nhu cầu về chăm sóc sức

khỏe cũng gia tăng, trong khi các cơ sở y tế chưa thể đáp ứng về số và chất

lượng nên sẽ gặp khó khăn cho cơng tác chăm sóc sức khỏe cho con người, nhất

là vùng núi, vùng sâu, vùng xa.

1.1.4.2. Tác động của dân cư với môi trường

Dân cư góp phần cải thiện mơi trường. Dân số hoạt động trong lĩnh vực

nơng, lâm nghiệp sẽ góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tận dụng tối đa

các điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế mà vẫn cải thiện môi trường. Khi

chất lượng dân số được nâng cao, việc tăng cường nghiên cứu và áp dụng các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tuy tất cả thành viên của một dân cư nào đó đều có điểm chung là cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng họ thường khác nhau về giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân... Vì vậy, sẽ hiểu biết chi tiết hơn về một dân cư nếu phân chia tổng số dân th

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×