Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐIỀU CHỈNH GIA TĂNG DÂN SỐ TỰ NHIÊN TỈNH PHÚ THỌ

ĐIỀU CHỈNH GIA TĂNG DÂN SỐ TỰ NHIÊN TỈNH PHÚ THỌ

Tải bản đầy đủ - 0trang

63

với tỉnh Phú Thọ đây là một vấn đề gặp khó khăn bởi nền kinh tế tuy có những

bước phát triển nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm cho nguồn lao động

của tỉnh vẫn chưa được đảm bảo.

Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động tỉnh Phú Thọ hiện

nay đang là một vấn đề rất nan giải. Năm 2015 tổng số lao động của tỉnh là 889,4

nghìn lao động, trong đó số người chưa có việc làm là 40,8 nghìn lao động. Số lao

động qua đào tạo chiếm tỉ lệ không cao năm 2015 chiếm 24,5% tổng số lao động

đang làm việc trong các ngành kinh tế. Như vậy là có tình trạng mất cân đối giữa

cung và cầu lao động. Tỉnh có lực lượng lao động đông đảo nhưng chất lượng lao

động chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của các ngành kinh

tế, tỉ lệ thất nghiệp còn cao so với các tỉnh khác trong cả nước.

Bên cạnh đó tình trạng thiếu việc làm của tỉnh còn khá cao. Lao động ở

vùng nông thôn chủ yếu làm việc trong ngành nông - lâm -ngư nghiệp, do vậy

việc làm của họ cũng chịu sự chi phối của tính mùa vụ trong nơng nghiệp. Thời

gian nơng nhàn còn cao. Sau mùa vụ cơ hội tìm kiếm việc làm của bộ phận lao

động này trở nên khó khăn hơn.

Bảng 3.3. Số người trong độ tuổi lao động làm nội trợ và chưa có việc làm

của tỉnh giai đoạn 2005 - 2015

Đơn vị: nghìn người

Năm

2005

2010

2013

2015

Số người trong độ tuổi lao

động làm nội trợ và chưa có

46,3

45,9

42,0

40,8

việc làm

Làm nội trợ

15,6

18,2

17,2

17,1

Có nhu cầu làm việc chưa có

22,9

15,3

14,1

13,1

việc làm

Khơng có nhu cầu làm việc

7,8

12,4

10,7

10,6

( Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2005, 2015)

Số người trong độ tuổi lao động làm nội trợ và chưa có việc làm có xu

hướng giảm đi rõ rệt. Năm 2005 là 46,3 nghìn người thì đến năm 2015 chỉ còn

40,8 nghìn người giảm 5,5 nghìn người. Số người khơng có nhu cầu lao động

chiếm tỉ lệ nhỏ nhất năm 2015 là 10,6 nghìn người và trong những năm gần đây

có xu hướng giảm.Tuy nhiên tỉ lệ này còn ở mức cao so với các tỉnh khác. Vì

vậy giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động là việc làm hàng

đầu của tỉnh.



64

3.1.1.3. Ảnh hưởng của gia tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế

Dân cư đông, nguồn lao động dồi dào đã tạo đà cho sự phát triển của nền

kinh tế. Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh đã có được những thành tựu

đáng kể.Tổng GDP không ngừng tăng qua các năm, năm 2015 GDP của tỉnh là

41.113.132 triệu đồng. Đây là con số minh chứng cho sự phát triển kinh tế

chung toàn tỉnh, là kết quả của sự lao động để góp phần nâng cao chất lượng

cuộc sống của người dân trên đại bàn tỉnh Phú Thọ.

Bảng 3.4.GDP của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 - 2015

Năm

Giá trị sản xuất (Triệu đồng)

2005

16.155.187

2010

21.955.184

2013

33.680.823

2015

41.113.132

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2005, 2015)

GDP của tỉnh Phú Thọ tăng liên tục qua các năm từ 2005 đến 2015. Năm

2005 GDP chỉ là 16.155.187 triệu đồng, đến năm 2015 tăng lên 41.113.132 triệu

đồng, gấp 2,5 lần năm 2005.

Như vậy dân số gia tăng, nguồn lao động đơng, dồi dào, tạo ra nhiều sản

phẩm. Góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

3.1.2. Tác động của gia tăng dân số đến các vấn đề xã hội của tỉnh Phú Thọ

Dân số và gia tăng dân số tỉnh Phú Thọ có tác động mạnh mẽ tới các vấn

đề xã hội của tỉnh. Có thể nói gia tăng dân số tác động đến mọi khía cạnh của xã

hội như y tế và chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, an ninh, trật tự xã hội…

3.1.2.1. Về y tế và chăm sóc sức khỏe

Cơng tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân được quan tâm đầu tư

phát triển rõ rệt trong những năm gần đây. Sức khỏe là vốn quý báu của con người.

Sức khỏe vừa là điều kiện vừa là mục tiêu cần thiết cho con người tồn tại và phát

triển. Có sức khỏe tốt con người mới có khả năng học tập và làm việc hiệu quả.

Tỉnh Phú Thọ là một tỉnh có diện tích rộng, trải dài ở các khu vực khác nhau,

dân số đơng, có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, mức sinh tăng, số trẻ

em có xu hướng tăng. Do đó nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng, yêu cầu về

chất lượng dịch vụ y tế ngày càng phải nâng cao. Để đảm bảo cơng tác chăm sóc

sức khỏe và khám chữa bệnh cho người dân.Lĩnh vực y tế trong những năm qua đã

được cải thiện rõ rệt, tuổi thọ trung bình của chúng ta đã đạt 72 tuổi.



65

Quy mô dân số quyết định đến số lượng bác sĩ và số lượng cơ sở y tế

khám chữa bệnh. Cùng với sự gia tăng dân số, số lượng và chất lượng y bác sĩ

ngày càng được bổ sung và nâng cao về chuyên môn. Cùng với các cơ sở khám

chữa bệnh ngày càng được đầu tư các trang thiết bị hiện đại để phục vụ nhu cầu

của người dân.

Tuy nhiên, mức phát triển của y tế vẫn chưa thể theo kịp để đáp ứng được

với mức tăng dân số hiện tại. Hơn thế nữa, vượt cấp đang là một vấn đề nhức

nhối, các cơ sở y tế xã, huyện không đủ cơ sở hạ tầng để phục vụ.Việc người

dântìm đến các cơ sở y tế trung tâm là điều tất yếu, dẫn đến việc đáp ứng nhu

cầu của người dân là hết sức khó khăn.Xã hội càng phát triển, nhu cầu về y tế

của dân số càng cao, vượt xa so với tốc độ phát triển của y tế, cộng với tốc độ

tăng dân số hiện nay, yêu cầu hệ thống y tế cần được nâng cấp và phát triển hơn

rất nhiều. Dân số tăng quá nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ dẫn đến dịch bệnh

gia tăng, giảm sức lao động, thương tật, tử vong. Các vấn đề về môi trường là

một nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân. Hiện nay đặc

biêt ở khu vực thành phố, người dân đang phải sống trong điều kiện khơng khí

với lượng bụi lơ lửng gấp nhiều lần mức cho phép, hay cả vấn đề nước ô nhiễm,

rác thải công nghiệp,…Vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân là

là một vấn đề khá phức tạp.

3.1.2.2 Ảnh hưởng gia tăng dân số đến giáo dục

Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, ngày càng được quan tâm đầu

tư và phát triển.Phú Thọ là một tỉnh có quy mơ dân số đơng, gia tăng dân số

nhanh, vì vậy, việc đầu tư cho giáo dục để đáp ứng nhu cầu của con người là

việc làm cần thiết và cũng còn gặp nhiều khó khăn do trình độ phát triển kinh tế

- xã hội của tỉnh còn nhiều hạn chế.

Bảng 3.5. Số học sinh nhà trường mẫu giáo tỉnh Phú Thọ

giai đoạn 2005 - 2015

Năm

Số cháu đi nhà trẻ

Số học sinh mẫu giáo



2005

6352

45230



2010

2013

2015

7643

9919

575

55884

69745

80720

Nguồn:Cụcthống kê tỉnh Phú Thọ



Do dân số của tỉnh tiếp tục được gia tăng,số trẻ em sinh ra tăng lên trong

các năm làm cho số cháu đi nhà trẻ và số học sinh mẫu giáo đang có xu hướng

tăng lên. Năm 2015 số cháu đi nhà trẻ là 575 cháu.Số học sinh đi mẫu giáo là



66

80.720 học sinh. Đặc biệt trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo là độ tuổi đặc

biệt, ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển ở các giai đoạn tiếp theo.

3.1.2.3. Các vấn đề xã hội khác

Gia tăng dân số còn ảnh hưởng tới các vấn đề xã hội khác như tình trạng đói

nghèo,vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, các tệ nạn xã hội,…

Tình trạng đói nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống: Phú Thọ là một tỉnh

thuộc Trung du miền núi Bắc Bộ, đa dân tộc, quy mô dân số đơng, tăng nhanh.

Trong khi đó mức tăng trưởng kinh tế còn thấp, chưa tương xứng với mức tăng

dân số nên tình trạng đói nghèo vẫn còn tồn tại. Chất lượng cuộc sống của người

dân chưa được cải thiện nhiều.

Một số khu vực trong tỉnh vẫn còn tình trạng đói nghèo, đời sống người

dân còn gặp nhiều khó khăn như các huyện miền núi Thanh Sơn, Yên Lập, Tân

Sơn, cuộc sống của người dân nhìn chung còn chưa phát triển. Các điều kiện ăn

ở đi lại còn hạn chế.

Tỉ lệ hộ nghèo có xu hướng giảm nhưng khơng đồng đều: Năm 2005, tỷ lệ

hộ nghèo toàn tỉnh là 31,08%, năm đến năm 2012 giảm xuống còn 14,1%. Năm

2013 là 12,5%. Năm 2015 là 12,04%.

Bảng 3.6. Số lượng và tỉ lệ hộ nghèo phân theo huyện tỉnh Phú Thọ

năm 2015

STT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13



Địa phương

Thành phố Việt Trì

Thị xã Phú Thọ

Huyện Đoan Hùng

Huyện Hạ Hòa

Huyện Thanh Ba

Huyện Phù Ninh

Huyện Yên Lập

Huyện Cẩm Khê

Huyện Tam Nông

Huyện Lâm Thao

Huyện Thanh Sơn

Huyện Thanh Thủy

Huyện Tân Sơn



Số lượng hộ (Hộ)

Tỉ lệ (%)

933

1,69

604

3,19

2799

9,00

4828

14,85

5728

17,59

1288

4,57

5925

24,50

7814

20,57

1962

8,83

1157

3.96

5896

18,33

1448

6,55

6192

30,53

(Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ 2015)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, số hộ nghèo ở tỉnh Phú Thọ vẫn còn cao:

Năm 2015 là 46.574 hộ nghèo, chiếm 12,04%. Trong đó huyện Cẩm Khê có số

hộ nghèo nhiều nhất: 7814 hộ.



67

Trong tỉnh, một số khu vực thành thị như thành phố Việt Trì, khu vực thị

xã, thị trấn các huyện có mức sống cao hơn, cuộc sống của người dân nói chung

là sung túc, đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt của con người. Đó là do hoạt động

kinh tế chủ yếu là phi nông nghiệp, kinh tế công nghiệp -xây dựng và dịch vụ

ngày càng phát triển thêm nên cuộc sống của họ ngày càng được cải thiện.

Tệ nạn xã hội: Dân số gia tăng, đời sống kinh tế khó khăn là nguyên nhân

làm cho các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng như trộm cắp, lừa đảo giết người,

mại dâm…

Bảng 3.7. Số vụ án hình sự, số người phạm tội đã kết án phân theo huyện

tỉnh Phú Thọ năm 2015

STT



Địa phương



Số vụ hình sự đã

Số bị can đã kết án

kết án (Vụ)

(Bị can)

1

Thành phố Việt Trì

222

392

2

Thị xã Phú Thọ

71

159

3

Huyện Đoan Hùng

83

164

4

Huyện Hạ Hòa

54

122

5

Huyện Thanh Ba

61

133

6

Huyện Phù Ninh

61

126

7

Huyện Yên Lập

42

83

8

Huyện Cẩm Khê

92

196

9

Huyện Tam Nông

58

141

10

Huyện Lâm Thao

66

140

11

Huyện Thanh Sơn

57

80

12

Huyện Thanh Thủy

72

113

13

Huyện Tân Sơn

38

87

(Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ 2015)

Năm 2015, số vụ án đã được kết án là hơn 1087 vụ và 2189 bị can bị kết

án. Các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều đang làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát

triển của xã hội.

Bảng 3.8. Số người nhiễm HIV phân theo huyện tỉnh Phú Thọ

giai đoạn 2005 - 2015

STT

1

2

3

4

5

6



Địa phương

Thành phố Việt Trì

Thị xã Phú Thọ

Huyện Đoan Hùng

Huyện Hạ Hòa

Huyện Thanh Ba

Huyện Phù Ninh



2005

68

23

4

4

8

11



2010

54

24

20

15

12

11



2013

100

21

23

12

20

15



2015

55

21

17

13

11

15



68

7

8

9

10

11

12

13



Huyện Yên Lập

Huyện Cẩm Khê

Huyện Tam Nông

Huyện Lâm Thao

Huyện Thanh Sơn

Huyện Thanh Thủy

Huyện Tân Sơn



5

12

12

14

9

23

20

20

1

13

13

14

12

17

28

17

14

21

25

23

5

7

15

7

27

16

17

(Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ 2015)

Gia tăng dân số tự nhiên trong khi nền kinh tế còn kém phát riển cũng là

nguyên nhân làm cho các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng. Năm 2005: có 164

người nhiễm HIV, đến 2015 lên 244 người. Trong đó thành phố Việt Trì chiếm

nhiều nhất: 22,5% toàn tỉnh.

3.1.3. Tác động của gia tăng dân số đến tài nguyên, môi trường tỉnh Phú Thọ

Dân cư tỉnh Phú Thọ góp phần cải thiện mơi trường trên địa bàn tỉnh nhờ

sự tiến bộ về trình độ phát triển kinh tế và nhận thức của người dân. Dân số hoạt

động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi

trọc, nhất là các huyện có diện tích đồi núi lớn như n Lập, Thanh Sơn, Tân

Sơn…tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế mà vẫn cải

thiện được môi trường. Khi chất lượng dân số được nâng cao, việc tăng cường

nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học sẽ góp phần tạo ra những nguồn

năng lượng mới thay thế cho các nguồn năng lượng đang làm ô nhiễm môi

trường.

Dân số tăng lên nhu cầu tiêu dùng tăng theo, để đáp ứng nhu cầu này, hoạt

động khai thác, sản xuất tiêu dùng của con người ngày càng được mở rộng dẫn

tới cạn kiệt tài nguyên. Một số loại khoáng sản bị khai thác quá mức phục vụ

việc sản xuất vật liệu xây dựng, các loại khoáng sản vừa làm cạn kiệt tài nguyên

vừa làm ô nhiễm môi trường. Sản xuất và tiêu dùng đã và đang đưa vào môi

trường ngày càng nhiều các chất thải độc hại như thuốc trừ sâu, nước thải công

nghiệp và sinh hoạt, các loại khí độc trong q trình đốt cháy than đá, xăng

dầu…làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí đe dọa sự sống con người.

Dân số gia tăng, nhu cầu về đất ở và canh tác của người dân tăng lên, rừng

bị chặt phá nhiều để phục vụ nhu cầu của con người nên diện tích rừng ngày

càng bị suy giảm mạnh.

Gia tăng dân số cũng ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên của tỉnh, cụ thể

nhất là tài nguyên đất.



69

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 353.455,02 ha (năm 2015) và được

sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.

7.23

7.23

0.75



33.52



2.97



Sản xuất nơng48.3

nghiệp

Đất chun dùng



Lâm nghiệp

Đất chưa sử dụng



Đất ở

Đất khác



Hình3.2. Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất ở tỉnh Phú Thọ năm 2015

Như vậy diện tích đất dùng cho lâm nghiệp của tỉnh chiếm tỉ trọng lớn

nhất (48,30%), đứng thứ 2 là đất sản xuất nông nghiệp (33,52%). Sự gia tăng

dân số khá nhanh trong những năm gần đây cũng là nguyên nhân khiến cho diện

tích đất nơng nghiệp giảm đi nhanh chóng, diện tích đất chun dùng và thổ cư

tăng lên. Điều này làm cho sức ép về vấn đề lao động lên diện tích đất nông

nghiệp ngày càng gay gắt trong khi quỹ đất chưa sử dụng của tỉnh còn rất hạn

chế (0,75%). Do đó, việc sử dụng hợp lí đất đi đơi với quy hoạch và cải tạo đất

là những biện pháp cần thiết của tỉnh hiện tại và tương lai.

3.2.Căn cứ xây dựng giải pháp

Trong nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 4 khóa

VII ngày 14/1/1994 về chính sách DS - KHHGĐ đã khẳng định: “Công tác DS KHHGĐ là một bộ phận quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, là một

trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản

để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của tồn xã

hội”. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng

lần thứ 4, Bộ chính trị đã ban hành nghị quyết 47 - NQ/TW ngày 22/03/2005

tiếp tục thực hiện chính sách DS - KHHGĐ. Tỉnh Phú Thọ đã có kế hoạch hành

động 69 - KH/TU thực hiện nghị quyết 47 - NQ/TW của bộ chính trị.

Để triển khai nội dung nghị quyết và cụ thể hóa kế hoạch hành động của

tỉnh ủy, huyện ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Ủy ban dân số gia đình và trẻ



70

em tỉnh có văn bản hướng dẫn chương trình hành động… đến các Đảng bộ xã,

cơ quan ban ngành đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội trên đại bàn toàn

tỉnh.

Trong những năm qua, công tác DS - KHHGĐ tỉnh Phú Thọ đã đạt được

một số kết quả đáng khích lệ: mức sinh thấp, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cơ bản

được duy trì ở mức dưới 1%, trong đó, tỉ lệ tăng dân số bình quân của tỉnh Phú

Thọ là 0,4% năm, tỉ lệ sinh con thứ ba trở lên (từ năm 2006 đến nay) khoảng

6,05 - 6,3%; tỉ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng BPTT đạt 75%;

tuổi thọ trung bình người dân: 72 tuổi… Bên cạnh đó, tỉnh vẫn còn gặp nhiều

khó khăn: quy mơ dân số lớn, mật độ dân số đông, nhiều huyện nghèo trong tỉnh

vẫn còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu… ảnh hưởng tới cơ cấu dân số,

tình hình phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống và vấn đề mơi trường.

Vì vậy, tỉnh Phú Thọ cần đưa ra những định hướng, giải pháp kịp thời, phù họp

nhằm điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Phú Thọ.

3.3. Định hướng

Trước những khó khăn, thách thức trên, để làm tốt công tác dân số - kế

hoạch hóa gia đình, tỉnh Phú Thọ đã đề ra phương hướng và mục tiêu cụ thể như

sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm cơ bản của Nghị quyết

Trung Ương 4 khóa VII; Nghị quyết 47 của Bộ chính trị (khóa IX), thực hiện kế

hoạch hành động 69 của tỉnh ủy, nghị quyết số: 08 - NQ/HU ngày 30/10/2008 về

“Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc tiếp tục thực hiện

chính sách DS - KHHGĐ giai đoạn 2008 - 2010 và tiếp tục đến năm 2015”.

Thứ hai, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của

các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, đồn thể và tầng lớp nhân dân

đối với công tác DS - KHHGĐ, phát huy kết quả đạt được, nhận rõ những khó

khăn, thách thức, tập trung nguồn lực đẩy mạnh hoạt động DS - KHHGĐ.

Thứ ba, thực hiện mỗi gia đình chỉ có hai con, duy trì mức sinh thay thế

đã đạt được, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Mỗi gia

đình thực sự là tổ ấm của mọi người, là tế bào của xã hội.Phấn đấu từng bước

giảm tỉ suất sinh, giảm tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên, đảm bảo quy mơ dân số của

tỉnh duy trì ở mức phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.



71

Thứ tư, từng bước nâng cao chất lượng về thể chất, trí tuệ, tinh thần đáp

ứng nguồn nhân lực, phục vụ cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất

nước.

Thứ năm, xây dựng hồn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về dân số,

sức khỏe sinh sản,xã hội hóa, phối hợp liên ngành trong cơng tác dân số.

Thức sáu, chỉ đạo đưa công tác dân số vào kế hoạch hoạt động và coi đó

là chỉ tiêu xét thi đua khen thưởng, xét các danh hiệu hàng năm. Tỉnh ủy sẽ có

những quy định xử lí Đảng viên sinh con thứ ba trở lên.

Thứ bảy, chủ động đầu tư, phát triển y tế, giáo dục góp phần nâng cao

trình độ nhận thức của nhân dân về dân số, mối quan hệ giữa dân số và phát

triển.

Tỉnh phấn đầu đến năm 2020 sẽ duy trì vững chắc xu thế giảm sinh hàng

năm, bình quân từ 0,15% đến 0,2% để đảm bảo quy mô dân số, cơ cấu dân số

phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Dân số của tỉnh khơng vượt

q 1.460 nghìn người, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên: 0,92%; tỉ lệ sinh con thứ ba

giảm xuống còn 5%, tăng dân số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các

biện pháp tránh thai hiện đại lên 90%, đảm bảo tỉ số giới tính khi sinh dưới 110

nam/100 nữ, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức trung bình của cả nước.

3.4. Một số giải pháp điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Phú

Thọ

Để thực hiện các mục tiêu đề ra như trên, Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp

với Ủy ban dân số gia đình và trẻ em cùng các ban ngành đồn thể trong tỉnh

thực hiện đồng loạt các giải pháp, cụ thể:

3.4.1. Các giải pháp về kinh tế - xã hội

Cần ưu tiên đầu tư cho chính sách dân số như bất kỳ lĩnh vực then chốt

trọng yếu nào trong nền kinh tế quốc dân. Đầu tư sản xuất và nhập khẩu nhanh

nhất những kỹ thuật tránh thai tiên tiến của thế giới. Các dụng cụ tránh thai

cần bán chứ không cho khơng (có thể với giá rẻ). Nhưng cần thưởng cho

những người thực hiện tốt chính sách dân số một số tiền lớn hơn số tiền đã

mua dụng cụ tránh thai.

Nhiều địa phương nước ta đang sử dụng hệ thống thưởng - phạt bằng tiền

và hiện vật đối với cá nhân và tập thể, căn cứ vào kết quả thực hiện mục tiêu

dân số của họ.Tuy là biện pháp kinh tế nhưng thưởng - phạt chỉ có thể và cũng

chỉ nên dừng ở mức độ ý nghĩa giáo dục, nhắc nhở. Vì vậy cùng một mức



72

thưởng- phạt trong năm khơng nên thưởng một lần cho xong hay phạt một lần

cho hết mà nên chia mức đó cho từng quý, từng tháng, tác dụng nhắc nhở, giáo

dục sẽ lớn hơn. Sự phát triển dân số nước ta phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát

triển của lực lượng sản xuất. Nhưng trước mắt, tác động của chính sách kinh tế

đến các q trình dân số là vơ cùng to lớn. Xóa bỏ bao cấp về kinh tế trong

lĩnh vực dân số là các cặp vợ chồng trách nhiệm chịu mọi chi phí ni, dạy,

chữa bệnh, đào tạo nghề, tìm việc làm cho con cái họ. Sự phát triển số dân ở

nông thôn đang quyết định quá trình tăng dân số của cả nước. Ở đây, ruộng đất

là tư liệu sản xuất chính, và khơng thể thay thế được của nơng dân.Vì vậy nó

hồn tồn có thể được sử dụng như một phương tiện mạnh mẽ, hữu hiệu trong

việc điều khiển hành vi sinh đẻ.Nên phân phối quyền sử dụng ruộng đất trên

cơ sở chỉ tính mỗi cặp vợ chồng hai con chứ khơng phải trên cơ sở diện tích

ruộng đất bình qn đầu người của địa phương. Tương tự như vậy trong việc

phân phối nhà ở. Một cách tổng quát, cần thiết kế theo cơ chế: phân phối lợi

ích thì tính theo đơn vị gia đình, phân phối nghĩa vụ thì theo đầungười.

Như vậy mỗi cặp vợ chồng 2 con không chỉ là mục tiêu mà còn là cơ sở

để tính tốn, xử lí các vấn đề kinh tế khác. Rõ ràng, ở đây cần có sự phối hợp

giữa các nhà vạch định chính sách kinh tế và các nhà vạch định chính sách dân

số.

Xã hội nước ta là xã hội có nhiều hệ thống tổ chức chặt chẽ.Hầu như ai

cũng đứng trong một tổ chức xã hội nào đó.Điều này thuận lợi cho việc triển

khai các chính sách dân số. Đảng bộ tỉnh cần có hướng dẫn quy định: coi việc

thực hiện mục tiêu dân số là tiêu chuẩn xem xét tư cách đảng viên và kết nạp

đảng viên mới. Cụ thể là: đảng viên đẻ con thứ 3 phải khiển trách hoặc cảnh

cáo; nếu đẻ con thứ 4 phải cảnh cáo hoặc khai trừ.

Nâng cao trình độ văn hóa của tồn dân, đặc biệt là của phụ nữ, đưa phụ

nữ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội và các hoạt động xã hội khác là yếu

tố quan trọng giảm tỷ lệ sinh. Tổ chức tốt Quỹ Bảo trợ người già neo đơn, nhà

Bảo trợ xã hội, Quỹ bảo thọ, Hội Bảo thọ góp phần làm n lòng mọi người

khơng con, ít con hoặc chỉ có con gái, sẽ góp phần xóa bỏ tâm lý nhất thiết phải

có con trai.

Cần có hình thức động viên, nâng cao danh dự người mẹ 1 đến 2 con,

chẳng hạn cấp bằng danh dự người mẹ kiểu mẫu.

3.4.2. Các giải pháp tuyên truyền giáo dục



73

Các q trình dân số: sinh, tử, kết hơn liên quan đến mọi người, mọi gia

đình, và do từng người quyết định hành vi dân số của mình. Trong xã hội bao

giờ cũng có lớp người đang trong kỳ sinh sản, lớp người sắp bước vào kỳ sinh

sản, do vậy việc tuyên truyền, giáo dục về dân số phải mang tính chất phổ

thơng, liên tục. Để hình thành ý thức mới về dân số, phải làm cho mọi người

dân hiểu tình hình dân số nước ta hiện nay, phải soi sáng mối quan hệ dân số

và kinh tế, dân số và môi trường; dân số với vấn đề sức khỏe nòi giống; dân số

và các vấn đề xã hộikhác.

Tuyên truyền để mọi người hiểu biết mục tiêu, các biện pháp của chính

sách dân số, hiểu được gia đình quy mơ nhỏ là ích nước lợi nhà.

Muốn tuyên truyền, giáo dục dân số có hiệu quả cao, đương nhiên cần có

tri thức dân số.Điều này đòi hỏi phải xây dựng và phát triển khoa học dân số,

phải thường xuyên tiến hành những cuộc nghiên cứu thực nghiệm nhằm phát

hiện kịp thời những vấn đề thực tiễn nảy sinh, giải đáp trúng những băn khoăn

của quần chúng.

Có nội dung khoa học nhưng biện pháp, hình thức tuyên truyền phải

phong phú, đơn giản và dễ hiểu. Thí dụ, khơng nên viết những khẩu hiệu: "Hạ

mức tăng dân số xuống 1,7%” vì nó khó hiểu đối với người dân bình thường

và người ta khơng thấy rõ nhiệm vụ cụ thể của họ là thế nào để đạt được mục

tiêu

đó.

Khẩu

hiệu:

"Mỗi

cặpvợchồngchỉnêncó2con"ởđây

làthíchhợphơn.Cầncoitrọnghìnhthứcvănnghệtuntruyền.

Giáo dục dân số nhất thiết phải được tiến hành trong những năm cuối ở

trường phổ thông, trong quân đội, các trường trung học và đại học, đặc biệt

với thanh niên nông thôn. Hàng năm chúng ta nên tổ chức Ngày dân số Việt

Nam để mọi người có dịp suy nghĩ sâu sắc hơn về hành vi dân số của mình và

tình hình dân số của đất nước.

Cuối cùng, sự quan tâm của các vi lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng đến

vấn đề dân số thể hiện qua các bài nói, bài viết chắc chắn sẽ có tác dụng lớn

trong việc tuyên truyền, giáo dục ý thức dân số cho công dân trong lĩnh vực

dân số, nâng cao trách nhiệm của các cấp lãnh đạo.

3.4.3. Nhóm các giải pháp hành chính pháp luật

Luật hơn nhân và gia đình ảnh hưởng lớn đến các quá trình dân số.Trước

hết đó là việc quy định tuổi kết hơn. Nhiều nước đang phát triển rút ra kết

luận: Nâng cao tuổi kết hôn là yếu tố quan trọng để giảm tỷ lệ sinh. Tuy luật



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐIỀU CHỈNH GIA TĂNG DÂN SỐ TỰ NHIÊN TỈNH PHÚ THỌ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×