Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thuyết quản lý tổng quát của Henri Fayol:

Thuyết quản lý tổng quát của Henri Fayol:

Tải bản đầy đủ - 0trang

5. Kế tốn (kiểm kê tài sản, theo dõi cơng nợ, hạch toán giá thành, thống

kê)

6. Quản lý - điều hành (kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra).

Qua đó, ơng xác định nội hàm quản lý gồm: lập kế hoạch, tổ chức, điều

khiển, phối hợp và kiểm tra. Chính đó là sự khái qt các chức năng quản lý,

bảo đảm cho hoạt động tiến hành thuận lợi và có hiệu quả. Như vậy chức năng

quản lý chỉ tác động đến con người, là sự quản lý của tổ chức xã hội đối với con

người (không phải là trực tiếp tác động đến nguyên liệu, thiết bị…). Với quan

niệm đó, thực chất thuyết Fayol là lý thuyết về tổ chức xã hội. Cũng qua đó,

Fayol phân biệt rõ lãnh đạo với quản lý, trong đó quản lý chỉ là một công cụ bảo

đảm sự lãnh đạo nhằm đạt được mục đích của cả tổ chức; và do đó hoạt động

chủ yếu của người lãnh đạo là phát huy cao tác dụng của quản lý, thông qua hoạt

động quản lý để thúc đẩy các hoạt động của tổ chức.

Mặt khác, Fayol cũng cho rằng quản lý không phải là đặc quyền và trách

nhiệm riêng của cá nhân người đứng đầu, mà được phân chia cho các thành viên

khác trong hệ thống tổ chức quản lý. Từ đó, ơng đưa ra trật tự thứ bậc trong hệ

thống đó gồm 3 cấp cơ bản: cấp cao là Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành;

cấp giữa là các người tham mưu và chỉ huy thực hiện từng phần việc, từng công

đoạn; cấp thấp là các người chỉ huy tác nghiệp ở từng khâu. Trật tự đó thể hiện

sự phân phối quyền lực và trách nhiệm với ranh giới rõ ràng. Tuy vậy, ơng cũng

chỉ ra tính tương đối của cơng cụ kế hoạch, khơng thể dự đốn đầy đủ và chính

xác mọi biến động, cần phải xử lý linh hoạt sáng tạo. Chức năng tổ chức bao

gồm tổ chức sản xuất (các công đoạn, các khâu trong hoạt động) và tổ chức bộ

máy quản lý (cơ cấu, cơ chế, các quan hệ chức năng, nhân sự). Chức năng điều

khiển là tác động lên động cơ và hành vi của cấp dưới để họ phục tùng và thực

hiện các quyết định quản lý; vừa có tính kỷ luật cao vừa phát huy được tính chủ

động, sáng tạo. Chức năng phối hợp là kết nối, liên hợp, điều hòa tất cả các hoạt

động và các lực lượng, đảm bảo cho các hoạt động diễn ra hài hòa, gắn bó trong

một thể thống nhất, tạo ra tổng hợp lực và sự cân đối. Chức năng kiểm tra là



nắm chắc diễn biến tình hình hoạt động để kịp thời phát hiện vấn đề cần điều

chỉnh, sửa đổi đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra, quy rõ trách nhiệm.

14 nguyên tắc về quản lý trong thuyết của Fayol:

1. Phân công lao động phù hợp, rõ ràng, tạo được sự liên kết.

2. Xác định quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, đúng mức.

3. Duy trì tốt kỷ luật trong đội ngũ, đảm bảo sự quy củ và tinh thần phục

vụ.

4. Đảm bảo sự thống nhất chỉ huy, chấp hành mệnh lệnh từ một trung tâm.

5. Chỉ đạo nhất quán (theo một kế hoạch, một đầu mối).

6. Xử lý hài hòa lợi ích, đảm bảo lợi ích chung cao nhất.

7. Trả cơng thỏa đáng, cơng bằng, sòng phẳng.

8. Tập trung quyền lực trong hệ thống tổ chức quản lý.

9. Xác định rõ và ổn định hệ thống cấp bậc với chức trách rõ ràng.

10. Đảm bảo trật tự trong hệ thống với vị trí xác định.

11. Thực hiện công bằng trong quan hệ đối xử.

12. Ổn định đội ngũ nhân sự và được bổ sung kịp thời.

13. Khuyến khích tính sáng tạo, chủ động của mọi người.

14. Xây dựng bầu khơng khí tập thể đồng thuận, đồn kết nội bộ.

Trong 14 ngun tắc đó, nguyên tắc 4 (thống nhất chỉ huy) và nguyên tắc

9 (hệ thống cấp bậc) được coi là hai nguyên tắc quyết định, phản ánh thực chất

của thuyết quản lý Fayol.

Với nội dung nói trên, thuyết quản lý tổng hợp của Fayol có ưu điểm nổi

bật là tạo được kỷ cương trong tổ chức. Song nó chưa chú trọng đầy đủ các mặt

tâm lý và môi trường lao động, đồng thời chưa đề cập đến mối quan hệ với bên



ngoài doanh nghiệp (với khách hàng, với thị trường, với đối thủ cạnh tranh và

với Nhà nước).

Cùng với thuyết Taylor, thuyết này đã đề ra được hàng loạt vấn đề quan

trọng của quản lý (như chức năng, nguyên tắc, phương pháp), vừa chú trọng việc

hợp lý hóa lao động vừa quan tâm cao đến hiệu lực quản lý, điều hành. Nhiều

luận điểm cơ bản của các thuyết thuộc trường phái cổ điển vẫn mang giá trị lâu

dài, được các thuyết tiếp sau bổ sung và nâng cao về tính xã hội và yếu tố con

người cũng như về các mối quan hệ với bên ngoài tổ chức.

3. Thuyết hành vi trong quản lý của H. A. Simon

Herbert A.Simon (người Mỹ) nguyên là một giáo sư tiến sĩ giảng dạy ở

nhiều trường đại học ở Mỹ trong những năm 50 thế kỷ XX, và từ 1961 đến 1965

là Chủ tịch Hội đồng khoa học xã hội Mỹ. Ông chuyên về khoa học máy tính và

tâm lý học, từng nghiên cứu về khoa học định lượng trong kinh tế, là một trong

những người tiên phong trong hoạt động về “trí thơng minh nhân tạo” (máy tính

có khả năng “tư duy”).

Tiếp đó, ơng chuyển sang nghiên cứu về khoa học quản lý với hàng loạt

công trình: Hành vi quản lý (1947), Quản lý cơng cộng (1950), Lý luận về quyết

sách trong kinh tế học và khoa học hành vi (1959), Khoa học về nhân công

(1969), Việc giải quyết những vấn đề về con người (1972), Các mơ hình khám

phá (1977), Mơ hình tư duy (1979), Các mơ hình về quản lý có giới hạn (1982),

Lẽ phải trong các công việc của con người (1983),…

Nội dung chính trong thuyết quản lý của Simon như sau:

Cốt lõi của quản lý là ra quyết định (quyết sách)

Quyết sách quản lý gồm các việc: hoạch định kế hoạch, lựa chọn phương

án hành động, thiết lập cơ cấu tổ chức, phân định trách nhiệm và quyền hạn, so

sánh tình hình thực tế với kế hoạch, lựa chọn phương pháp kiểm tra, quán xuyến

các mặt kế hoạch, tổ chức và điều khiển đối với mọi cấp quản lý và mọi mặt của

quá trình quản lý. Quyết sách gần như đồng nghĩa với quản lý.



Các quyết định quản lý được chia thành 2 nhóm lớn: Quyết định giá trị

bao quát là các quyết định về các mục tiêu cuối cùng; quyết định thực tế là

những quyết định liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu (đánh giá thực tế).

Sự phối hợp 2 loại quyết định đó được coi là trọng tâm của công việc quản lý.

Một quyết định quản lý chỉ được coi là có giá trị khi chứa đựng các yếu tố thực

tế, khả thi. Đó là quyết định “hợp lý – khách quan” chứ không phải là quyết định

“hợp lý – chủ quan” (tối ưu hoàn hảo).

Quyết sách được cấu thành qua 4 giai đoạn có liên hệ với nhau:

Quyết sách được cấu thành qua 4 giai đoạn có liên hệ với nhau: thu thập

và phân tích thơng tin kinh tế – xã hội; thiết kế các phương án hành động để lựa

chọn; lựa chọn một phương án khả thi; thẩm tra đánh giá phương án đã chọn để

bổ sung hoàn thiện.

Simon cho rằng, mọi hoạt động trong nội bộ một tổ chức có thể chia ra 2

loại ứng với 2 loại quyết sách: hoạt động đã diễn ra nhiều lần cần có quyết sách

theo trình tự, và hoạt động diễn ra lần đầu cần có quyết sách khơng theo trình tự.

Cần cố gắng nâng cao mức độ trình tự hóa quyết sách để tăng cường hệ thống

điều khiển có hiệu quả, đồng thời tăng cường hệ thống điều hòa, phối hợp của tổ

chức. Quyết sách phi trình tự mang tính sáng tạo, khơng có tiền lệ song dựa vào

tri thức và phương pháp sẵn có để xử lý, trong đó có sự vận dụng kinh nghiệm.

Sự phân chia 2 loại quyết sách chỉ là tương đối.

Thông qua một hệ thống mục tiêu – phương tiện để thống nhất hoạt

động.

Đó là sự kết hợp giữa người và máy (điện tử) để hoạch định quyết sách;

có thể khắc phục tình trạng thiếu tri thức và thông tin bằng mạng thông tin nhiều

kênh theo 2 chiều.

Lựa chọn phương thức tập quyền hay phân quyền

Lựa chọn phương thức tập quyền hay phân quyền trong việc ra quyết sách

với chức trách và quyền hạn rõ ràng. Nhờ việc tự động hóa quyết sách theo trình



tự, việc xử lý các vấn đề có liên quan bằng phương thức tập quyền trở nên hợp

lý, giảm bớt sự can thiệp của cấp trung gian đối với cơng việc của cấp cơ sở.

Song, phương thức đó khơng thể sử dụng trong mọi tình huống; còn phải nghĩ

tới nhân tố kích thích, làm cho quyết sách có thể huy động được mọi người nỗ

lực thực hiện. Hình thức tổ chức trong tương lai vẫn phải là hệ thống cấp bậc

gồm 3 cấp: cấp sản xuất và phân phối sản phẩm, cấp chi phối quá trình quyết

sách theo trình tự, cấp kiểm sốt q trình hoạt động của cơ sở. Cần phân quyền

ra quyết định, tạo ra “vùng chấp thuận hợp lý” đối với quyền tự chủ của cấp

dưới.

Nhìn chung, tư tưởng quản lý của Simon chịu ảnh hưởng sâu sắc tư duy

phi logic của C.I.Barnara về nhiều mặt; song đã có bước phát triển, như: đưa ra

tiền đề của quyết sách, coi quyền uy là một phương thức ảnh hưởng đến tổ chức,

phân tích cụ thể vấn đề cân bằng tổ chức (trong các loại tổ chức kinh doanh,

chính phủ và phi lợi nhuận). Điểm nổi bật trong tư tưởng quản lý của Simon là

nhấn mạnh “quản lý chính là quyết sách” và đặt nền móng lý luận cho việc

hoạch định quyết sách một cách khoa học, coi sự tiếp cận hành vi ứng xử là chìa

khóa để giải quyết vấn đề về quản lý hiện đại.

Những lý thuyết cơ bản được sử dụng trong quản lý sản xuất của thế

kỷ 19 và 20 nhằm nâng cao năng suất có thể nói rằng đã đóng góp rất quan

trọng trong việc đặt nền móng cho quản trị sản xuất và tác nghiệp trong

giai đoạn ngày nay, tuy nhiên cần phải được áp dụng linh hoạt, khơng máy

móc, dập khn theo một lý thuyết nào, bởi mỗi lý thuyết đều có những

điểm mạnh và hạn chế. Việc áp dụng các học thuyết này trong giai đoạn

hiện nay và những năm sắp tới trong việc nâng cao năng suất đối với tất cả

các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị trong nền kinh tế mở, các điều kiện cạnh

tranh của thị trường là việc hồn tồn có thể thực hiện được. Tuy nhiên, để

có thể áp dụng tư tưởng của các học thuyết đó một cách hiệu quả nhất thì

cần phải hiểu nó một cách thấu đáo và căn cứ vào từng hồn cảnh mơi

trường cụ thể để áp dụng vào trong thực tiễn doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức.



Ở bất kỳ giai đoạn nào, thời điểm nào, một doanh nghiệp muốn năng suất

được nâng cao thì doanh nghiệp đó phải chun mơn hóa sản xuất, nghĩa là : xác

định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày và xây dựng định mức

cho từng phần việc; Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, các thao tác được

tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hóa

và mơi trường làm việc thuận lợi. Mỗi cơng nhân được gắn chặt với một vị trí

làm việc theo ngun tắc chun mơn hóa cao độ; Thực hiện chế độ trả lương

(tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ về chất lượng) và chế độ thưởng

vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của cơng nhân; Phân chia công việc

quản lý, phân biệt từng cấp quản lý. Cấp cao tập trung vào chức năng hoạch

định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dưới làm chức năng điều hành cụ

thể. Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất

theo dây chuyền liên tục ( Theo lý thuyết của Taylor ). Bên cạnh đó, với 14

nguyên tắc quản lý được vận dụng linh hoạt, việc tạo được kỷ cương trong tổ

chức cũng là một việc mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có để phát

triển doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp tạo được kỷ cương trong tổ chức, việc

nâng cao năng suất sẽ dễ dàng đạt được ( Theo lý thuyết của Fayol ). Tóm lại

các doanh nghiệp muốn năng cao năng suất cũng như mong muốn một tương lai

tươi sáng, phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay và những năm tới có thể

áp dụng những lý thuyết về quản trị sản xuất nêu trên.

Ví dụ : Cơng ty xi măng Hồng Thạch là một đơn vị chuyên sản xuất xi măng

cung cấp cho thị trường Việt Nam. Hiện cơng ty có 3 dây chuyền sản xuất xi

măng lò quay, phương pháp khơ, chu trình kín có hệ thống cyclon trao đổi nhiệt

và buồng đốt canciner đầu lò.Cơng suất dây chuyền I là 1,1 triệu tấn/năm, dây

chuyền II là 1,2 triệu tấn/năm, dây chuyền III có cơng suất là 1.2 triệu tấn/năm.

Sản lượng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm có xu hướng ngày càng tăng trong

những năm gần đây.

Sở dĩ, sản lượng xi măng của nhà máy ngày càng tăng trong thời gian gần

đây là do công ty đã áp dụng một cách linh hoạt và đưa ra các quyết định kịp



thời trong sản xuất như: Đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất lao động

thông qua xây dựng các cơ chế khuyến khích, động lực cho cơng nhân, đưa ra

kịp thời những quyết định trong sản xuất,…

Để nâng cao năng suất xi măng cung cấp cho thị trường công ty đã phân

công lao động một cách hợp lý. Có chính sách khen thưởng cho những lao động

làm việc tích cực song cũng có cơ chế phạt rõ ràng đối với những cơng nhân làm

việc hiệu quả kém. Công ty luôn đề ra các quy trình kỷ luật nghiêm ngặt u

cầu tồn thể cán bộ công nhân viên phải tuân thủ. Trong dây chuyển sản xuất xi

măng, cơng ty ln có sự cập nhật kịp thời về khoa học công nghệ, đổi mới bắt

kịp cơng nghệ hiện đại. Bên cạnh đó, Ban Lãnh đạo cũng ln đưa ra các chính

sách, giải pháp quản trị điều hành kịp thời giúp việc sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm ngày càng nhiều và cao. Điều này đã dần đưa Công ty ngày càng phát

triển, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được nâng cao, thu nhập cải

thiện rất nhiều qua từng năm.

Tài liệu tham khảo :

1. Giáo trình Quản trị hoạt động – MBA Griggs

2. Slide bài giảng Quản trị hoạt động

3. http://supplychaininsight.vn

4. http://nhaquanly.vn/

5. http://www.doanhnhan360.vn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thuyết quản lý tổng quát của Henri Fayol:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×