Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Một số loại anten vi dải thông dụng

3 Một số loại anten vi dải thông dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 1.3 Anten patch vi dải

Các thiết kế anten patch chủ yếu tập trung vào đặc tính bức xạ của nó, anten

patch vi dải có nhiều dạng khác nhau (vng, chữ nhật, tròn,...) nhưng đặc tính bức

xạ của chúng hầu như giống nhau. Trong số các loại anten patch vi dải, anten có

dạng hình chữ nhật và hình tròn là hai dạng thông dụng và được sử dụng rộng rãi

[3].



Hình 1.4 Một số hình dạng thông dụng của anten patch vi dải

1.3.2 Anten khe mạch in

Anten khe mạch in (Printed slot antenna) có cấu tạo gồm một khe trong mặt

phẳng đất của một đế được nối đất, khe này có nhiều hình dạng khác nhau: hình chữ

nhật, hình tròn,... Anten này có thể được tiếp điện bằng sóng dẫn phẳng hay đường

truyền vi dải, bức xạ theo hai hướng hay trên cả hai mặt của khe [3].



Hình 1.5 Các hình dạng anten khe mạch in

1.3.3 Anten vi dải lưỡng cực

Anten vi dải lưỡng cực có hình dạng giống với anten patch hình chữ nhật

những khác nhau ở tỉ số L/W. Chiều rộng của anten lưỡng cực so với anten patch

thường bé hơn 0.05 lần bước sóng trong khơng gian tự do.

Đồ thị bức xạ của anten vi dải lưỡng cực và anten patch vi dải giống nhau

nhưng có các đặc tính khác nhau như: điện trở bức xạ, băng thơng và bức xạ phân

cực chéo.

Anten vi dải lưỡng cực thích hợp với các ứng dụng tần số cao do chúng sử

dụng miếng đế điện mơi có bề dày tương đối nên đạt được băng thông đáng kể [3].



Hình 1.6 Anten vi dải lưỡng cực

1.3.4 Anten vi dải sóng chạy



Anten vi dải sóng chạy (Microtrip traveling-Wave antenna: MTA) gồm các

dải dẫn điện tuần hoàn hoặc một đường vi dải đủ dài và rộng để có thể hỗ trợ chế độ

truyền TE. Trong đó, đầu của anten được nối đất và đầu còn lại được mắc tải có

điện trở được phối hợp trở kháng để tránh hiện tượng sóng đứng trên anten [3].



Hình 1.7 Anten vi dải sóng chạy

1.4



Các kỹ thuật tiếp điện cho anten vi dải

Hiện nay, các phương pháp phổ biến dùng để cấp nguồn cho anten vi dải là:



cấp nguồn sử dụng đường truyền vi dải, probe đồng trục, ghép khe (aperturecoupling),ghép gần (proximiti-coupling).

1.4.1



Tiếp điện sử dụng đường truyền vi dải

Phương pháp tiếp điện bằng đường truyền vi dải được sử dụng nhiều nhất



trong môi trường truyền dẫn là các mạch tích hợp siêu cao tần. Đường truyền vi dải

là cấu trúc mạch in cấp cao, bao gồm một dải dẫn điện bằng đồng hoặc kim loại

khác trên một chất nền cách điện, mặt kia của tấm điện môi cũng được phủ đồng gọi

là mặt phẳng đất. Mặt phẳng đất là mặt phản xạ do đó đường truyền vi dải có thể

được xem là đường truyền gồm hai dây dẫn.

Có hai tham số chính là độ rộng dải dẫn điện W và chiều cao tấm điện môi h.

Một tham số quan trọng khác là hằng số điện môi tương đối của chất nền. Hai tham

số đơi khi có thể được bỏ qua là độ dày dải dẫn điện t và điện dẫn suất sigma.



Feed



Hình 1.8 Tiếp điện dùng đường truyền vi dải

1.4.2



Tiếp điện bằng probe đồng trục

Cấp nguồn qua probe là một trong những phương pháp cơ bản nhất để truyền



tải công suất cao tần. Phương pháp này, phần lõi của đầu feed được nối với patch,

phần ngoài nối với mặt phẳng đất của anten vi dải.

 Ưu điểm:

-



Đơn giản trong quá trình thiết kế.



-



Có khả năng feed tại mọi vị trí trên tấm patch do đó dễ phối hợp trở

kháng.



 Nhược điểm:

-



Vì dùng đầu feed hàn vào patch nên có phần dư ra phía ngồi làm anten

khơng hồn tồn phẳng và mất tính đối xứng.



-



Khi cần cấp nguồn trong thiết kế mảng sẽ đòi hỏi số lượng đầu nối tăng

lên gây khó khăn cho việc thiết kế và giảm độ tin cậy.



-



Khi cần tăng băng thông của anten đòi hỏi phải tăng bề dày lớp nền dẫn

đến bức xạ rò và điện cảm của probe tăng lên và tăng chiều dài lõi cáp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Một số loại anten vi dải thông dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×