Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

mới của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh những ưu điểm, hệ thống tổ chức

của nơng trường còn tồn tại những hạn chế nhất định, như: chi phí gián

tiếp còn lớn làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, đã có sự phân cơng

nhiệm vụ giữa các phòng ban, nhưng cơng việc nghiên cứu tìm kiếm thị

trường chưa được phân định rõ ràng.

3.1.3. Phương thức quản lý “khoán”

Năm 1989, Nông trường Tây Hiếu 1 là nông trường tiên phong thực

hiện phương án khoán trên vùng đất Phủ Quỳ. Trong khi đó các nơng trường

còn lại như Nơng trường 3/2, Nơng trường 1/5, vẫn chưa có thay đổi trong

việc sử dụng phương thức khốn.

Năm 1995, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 01/ CP, các nông

trường đã áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm phù hợp với điều kiện

kinh tế của nơng trường. Trong đó, Nơng trường Tây Hiếu 1 được đánh giá là

nông trường sớm áp dụng chính sách khốn. Nơng trường 3/2 mặc dù thực

hiện muộn hơn, nhưng trong q trình sản xuất, nơng trường đã vận dụng

nhiều cách khoán khác nhau nhằm để ưu tiên cho người lao động.

3.1.4. Hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thực hiện quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, các nơng trường ở miền

Tây Nghệ An nói riêng đã chủ động tính tốn, rà sốt lại phương hướng,

nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Nhờ xác định đúng đắn và cụ thể hơn về cơ

cấu cây, con, đi vào thâm canh, chuyên canh và kinh doanh tổng hợp “lấy

ngắn nuôi dài”, gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm

nên sản xuất hàng hóa của nhiều nơng trường đã tăng lên khá rõ rệt, đảm

bảo hoạt động tiệu thụ với khách hàng, tăng doanh thu để chủ động vốn

sản xuất kinh doanh.

16



Những chuyển biến và thành quả các nơng trường đã đạt được trong

q trình đổi mới có ý nghĩa kinh tế - chính trị - xã hội hết sức to lớn. Tuy

nhiên, trên thực tiễn vẫn còn những tồn tại, như: hiệu quả sử dụng đất đai

ở các nơng trường nhìn chung vẫn còn thấp; thiếu vốn, cơ cấu vốn khơng

thích hợp, hiệu quả sử dụng vốn thấp; thiết bị và công nghệ chế biến lạc

hậu.

3.2. Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An giai đoạn 1997 2015

3.2.1. Chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về đổi mới

nông trường

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (từ

ngày 13 đến ngày 22/8/2001) đã ban hành Nghị quyết về “Tiếp tục sắp xếp

đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước”. Hội

nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (từ ngày 18/2

đến 2/3/2002) đã bàn và ra các Nghị quyết, như: Nghị quyết về “Tiếp tục

đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”; Nghị quyết “Về

tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát

triển kinh tế tư nhân”

Những chủ trương trên của Đảng tạo điều kiện thuận lợi cho các nông

trường đổi mới và được Nhà nước cụ thể hóa thành các chính sách.

Ngày 4/3/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 135/TTg về

việc xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

ở các Tổng công ty nhà nước và các Doanh nghiệp Nhà nước có thành lập

Hội đồng quản trị. Ngày 19/6/2002, Chính phủ ban hành Nghị định về việc

chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành cơng ty cổ phần.

17



Ngày 16/6/2003 Bộ chính trị ban hành Nghị quyết về sắp xếp, đổi

mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh. Nghị định số 170/204/NĐ

- CP ngày 22/9/2004 đã quy định rõ về các hình thức chuyển đổi các nơng

trường quốc doanh có hướng kinh doanh tốt và những nông trường quản

lý yếu kém làm ăn thua lỗ.

Đặc biệt, Nghị định 135/2005/NĐ-CP, ngày 08/11/2005 về việc giao

khốn đất nơng nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước ni trồng

thủy sản trong các nơng lâm trường quốc doanh.

Nghị quyết số 30 - NQ/TW ngày 17/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp

tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công

ty nông, lâm nghiệp.

3.2.2. Sự thay đổi hệ thống tổ chức

Năm 1997, các nông trường ở miền Tây Nghệ An bắt đầu chuyển đổi

về mơ hình để cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Các nơng trường đã

chuyển đổi qua hai giai đoạn: từ Nông trường quốc doanh chuyển sang

Cơng ty nhà nước, sau đó từ Cơng ty nhà nước chuyển sang Công ty trách

nhiệm hữu hạn một thành viên. Do thay đổi về tổ chức bộ máy, nên chức

năng và nhiệm vụ của công ty cũng thay đổi theo. Nhiệm vụ của công ty

không chỉ đơn thuần thực hiện hai chức năng như giai đoạn trước đây. Nay

các công ty kinh doanh cà phê, cao su theo quy hoạch và kế hoạch của nhà

nước.

3.2.3. Sự thay đổi mơ hình quản lý

Sau khi chuyển đổi thành các cơng ty, phương thức quản lý của các

nơng trường đã có sự thay đổi. Công ty đã vận dụng linh hoạt chính sách

khốn qua từng giai đoạn. Cơng tác quản lý, sử dụng đất đai đi vào nề nếp,

nâng cao tinh thần trách nhiệm của hộ nhận khốn. Sau khi có hình thức giao

18



khốn theo Nghị định 135, các nơng trường trực thuộc Công ty Đầu tư sản

xuất cà phê - cao su đã chuyển đổi hình thức giao khốn. Cơng ty Nông

công nghiệp 3/2 áp dụng Nghị định 135/CP (2005) muộn hơn so với Công

ty Đầu tư sản xuất và xuất khẩu cà phê cao su Nghệ An, năm 2008 công ty

bắt đầu áp dụng. Công ty 3/2 không giao khốn tồn bộ đất cho người lao

động như Cơng ty sản xuất và xuất khẩu cà phê cao su Nghệ An, mà vẫn

giữ lại đất để tổ chức sản xuất làm mơ hình thử nghiệm và ứng dụng

những thành tựu khoa học kỹ thuật.

3.2.4. Hoạt động sản xuất, kinh doanh

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông trường quốc doanh ở

miền Tây Nghệ An có sự thay đổi qua hai giai đoạn: giai đoạn 1997 2010 và giai đoạn 2010 - 2015

Q trình chuyển từ nơng trường quốc doanh sang Công ty TNHH

MTV của các Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An đã đáp ứng

một số yêu cầu của thực tiễn, song cũng còn nhiều vấn đề tiếp tục phải

nghiên cứu giải quyết. Các nông trường sau khi sát nhập vào cơng ty đã có

sự phân định nhiệm vụ rõ ràng; nguồn vốn đầu tư vào các nông trường

phong phú hơn; trong phương thức sản xuất kinh doanh, công ty đã sử

dụng linh hoạt các phương thức khoán, đầu tư yếu tố khoa học kỹ thuật, do

đó hiệu quả sản xuất kinh doanh của cơng ty cũng phát triển hơn về cả sản

lượng, doanh thu.

Có thể nói rằng, trong giai đoạn hiện nay các cơng ty đã tiếp tục kế

thừa và phát huy những kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật canh tác, giống cây

trồng từ các nông trường quốc doanh thời Pháp ở khu vực Phủ Quỳ.

Nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh thực sự chưa cao; vấn đề thương

hiệu của sản phẩm chưa có trên thị trường; công tác quản lý sản phẩm yếu

kém; chất lượng sản phẩm thấp; quy mô sản xuất theo hướng nhỏ lẻ; lợi

thế về tài nguyên đất chưa được khai thác hết.

19



3.2.5. Đời sống của cán bộ, công nhân nông trường

Năm 1997, các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An gặp

khơng ít khó khăn trong q trình chuyển đổi hình thức quản lý,nhưng vẫn

tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, công nhân viên phát triển kinh tế gia

đình, làm nhà ở, làm vườn, chăn ni, tham gia xây dựng các cơng trình

phúc lợi xã hội.

Đời sống vật chất tinh thần của cán bộ, công nhân của các nông

trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An trong giai đoạn này về cơ bản đã

có bước phát triển hơn so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, đời sống của

người lao động chưa được phát triển một cách toàn diện, đang còn những

hạn chế nhất định.

CHƯƠNG 4

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ NÔNG TRƯỜNG QUỐC DOANH Ở

MIỀN TÂY NGHỆ AN

4.1. Về nguồn gốc ra đời

Nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An được hình thành từ ba

nguồn khác nhau. Đây là một đặc điểm khác biệt của các nông trường

quốc doanh ở miền Tây Nghệ An so với các nông trường ở một số tỉnh

phía Bắc. Điển hình là ở Thanh Hóa hầu hết các nơng trường được hình

thành chủ yếu từ cơ sở quốc hữu hóa các đồn điền của thực dân Pháp và

một số nông trường quân đội như: Nông trường Yên Mỹ, Nông trường

Vân Du, Nông trường Phúc Do.

4.2. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh

Các nông trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An là những đơn vị

sản xuất tương đối hoàn chỉnh, sản xuất ra nhiều sản phẩm khác nhau qua

các giai đoạn. Đây là đặc điểm có tính khác biệt của các nơng trường miền

20



Tây Nghệ An so với các nông trường ở Thanh Hóa. Giai đoạn trước thời

kỳ đổi mới, Nơng trường Thống nhất, nông trường Sao Vàng, nông trường

Thạch Thành sản xuất cây cơng nghiệp ngắn ngày gồm mía, dứa, cây cơng

nghiệp dài ngày chỉ có cao su. Từ năm 2000, thế mạnh của các nơng

trường ở Thanh Hóa chủ yếu sản xuất dứa và mía.

Các nơng trường quốc doanh ở miền Tây Nghệ An trong thời kỳ đổi

mới đã đạt được những kết quả nhất định trong lĩnh vực sản xuất kinh

doanh. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động sản xuất kinh doanh

của các nông trường ở miền Tây Nghệ An đang còn có những tồn tại nhất

định: chưa quản lý chặt chẽ việc khai hoang, trồng mới đến chăm sóc cây;

một số chủ nhận khốn thực hiện quy trình chăm sóc vườn cây chưa

nghiêm túc làm ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng vườn cây.

4.3. Về phương thức quản lý

Thứ nhất, việc vận dụng phương thức khoán của các nông trường:

Nông trường Tây Hiếu 1 được xem là nơng trường tiên phong trong việc vận

dụng chính sách khốn, là mơ hình thực tiễn ở địa phương để trung ương

hoạch định chính sách khốn trên phạm vi cả nước. Nông trường đã vận

dụng linh hoạt, sáng tạo các phương án khoán qua từng giai đoạn

Thứ hai, về quá trình chuyển đổi mơ hình quản lý của các nơng

trường: Q trình chuyển đổi các nơng trường quốc doanh ở miền Tây

Nghệ An từ năm 1956 đến năm 2015, đã đưa đến một bước đột phá lớn

trong sự phát triển các nơng trường. Sự chuyển đổi đó đáp ứng được nhu

cầu của một cơ chế quản lý mới mang tính chất năng động, sáng tạo và

phù hợp với những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Sự

chuyển đổi trải qua hai giai đoạn: chuyển từ nông trường quốc doanh sang

công ty nhà nước (1997 - 2010) và từ công ty nhà nước sang công ty trách

nhiệm hữu hạn một thành viên (2010 - 2015).

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×